TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 27/2023/HNGĐ - PT Ngày: 15/11/2023 V/v "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chia tài sản khi ly hôn” | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tân
Các thẩm phán: 1. Bà Lê Thị Hiệu
2. Ông Đào Anh Đức
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Trang - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa:
Bà Nguyễn Thị Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2023/TLPT- HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2023/HNGĐ - ST ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 24/2023/QĐ - PT ngày 08 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lâm Văn L, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; “Có mặt”;
- Bị đơn: Chị Lê Thị L1, sinh năm 1986.
Địa chỉ : Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. “Có mặt”;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn:
Ông: Lê Khắc H - Sinh năm 1986 “Có mặt”;
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn là anh Lâm Văn L trình bày:
Anh L chị Lê Thị L1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 30/12/2007 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Đến đầu năm 2019 vợ chồng bất đồng quan điểm dẫn đến chửi bới xúc phạm nhau, theo anh L trình bày chị L1 có biểu hiện ngoại tình, nay xét thấy tình cảm không còn anh L đề nghị được ly hôn chị Lê Thị L1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lâm Thị Như Q sinh ngày 04/8/2008 và cháu Lâm Hồng P, sinh ngày 22/9/2012. Ly hôn anh L xin được nuôi 02 con chung không yêu cầu chị L1 cấp dưỡng nuôi con;
Về tài sản: Quyền sử dụng đất bố mẹ để lại, đã sang tên hai vợ chồng, Nhà xây 2019 trên đất là của vợ chồng xây dựng của vợ chồng. Vợ chồng nợ Ngân hàng N1 Chi nhánh huyện T là 280.000.000₫ (Hai trăm tám mươi triệu đồng) phần này anh L và chị L1 thỏa thuận mỗi người trả một nữa, vợ chồng đã trả nợ xong cho Ngân hàng; Về phần xe cộ như chị L1 yêu cầu, anh L khai vợ chồng có 01 xe foteno bán ngày 26/5/2022 giá bán 18.000.000đ triệu anh L lấy tiền dùng để trả tiền làm nhà. 02 xe ben như chị L1 trình bày không phải là xe của anh L. Ly hôn phần tài sản phần đất ở là đất của bố mẹ đẻ anh L để lại nên anh L đề nghị được chia 80% khu đất, phần nhà vợ chồng xây, anh L đề nghị trả tiền chênh lệch cho chị L1 tiền đất ở và tiền nhà, đề nghị Tòa án xem xét các tài sản trên đất đề nghị lấy 60% giá trị vì anh L làm thu nhập cao hơn chị L1.
Bị đơn là chị Lê Thị L1 trình bày:
Về hôn nhân: Chị Lê Thị L1 và anh Lâm Văn L kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 30/12/2007 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do anh L nghi kỵ về tình cảm, các tin nhắn chị L1 nhắn cho khách hàng, dẫn đến anh L đánh đập phải đi viện, đa chấn thương; Nay anh L xin ly hôn chị L1 xét thấy tình cảm không còn, chị L1 đồng ý ly hôn với anh L.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lâm Thị Như Q sinh ngày 04/8/2008 và Lâm Hồng P, sinh ngày 22/9/2012. Ly hôn chị L1 xin được nuôi 02 con chung không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con;
Về tài sản: Quyền sử dụng đất 1022m² đã được cấp giấy chứng nhận số CS678009 đứng tên hai vợ chồng, đất ở 1000m², đất trồng cây hàng năm 22m², Diện tích thực sử dụng hiện tại là 1121,6m² nguồn gốc đất của nhà chồng sang tên cho vợ chồng, N ở xây năm 2019 trên đất. Vợ chồng có 01 xe foteno bán ngày 26/5/2022, bán 750.000.000₫ (Bảy trăm năm mươi triệu), anh L cầm tiền ra Quảng Ninh mua 02 xe tải: 14HC-017.30 và xe tải BKS: 14HC01769. Về phần nợ chung: Nợ ngân hàng làm nhà và mua xe 280.000.000₫ (Hai trăm tám mươi triệu đồng).
Ly hôn phần đất ở chị L1 đề nghị được chia một phần đất để lấy nơi ở, một phần đất ở và phần nhà giao cho anh L; anh L trả tiền chênh lệch cho chị L1 phần nhà và phần đất, phần tài sản T bán xe mua 02 xe mới. Phần nợ ngân hàng hai bên cùng có trách nhiệm trả nợ cho ngân hàng. Tại phiên Tòa chị L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết về phần xe cộ vợ chồng mua, vì chưa có căn cứ, tiền nợ ngân hàng N1 Chi nhánh huyện T là 280.000.000₫ (Hai trăm tám mươi triệu đồng) phần này anh L và chị L1 thỏa thuận mỗi người trả một nữa, vợ chồng đã trả nợ xong cho Ngân hàng.
Các tài sản thẩm định và định giá khi các bên có tranh chấp gồm:
Diện tích đất ở diện tích 1000m², thửa 987A tờ bản đồ 14 ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Diện tích đất trồng cây hàng năm 121,6m², thửa 987A tờ bản đồ 14 ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
Các tài sản trên đất: 01 Nhà mái thái xây năm 2019 diện tích 178m² lát gạch hoa, (Mái thái re xung quanh 50cm, ngoài xây tường đôi, trong xây noi, phòng khách và phòng thờ ốp gỗ xoan trên trần và dưới chân, cửa khuôn hộc, 01 nhà tắm, bếp trong nhà), Bồn H1 bậc tam cấp ốp đá 14,2m², 01 Tủ bếp gỗ xoan, trên mặt bếp là đá đen, T1 bếp gỗ xoan treo tường, Cổng sắt 4 cánh cắt CNC diện tích 4 cánh 8,71m², Tường hoa bao sân xây noi bổ cột dài 17m cao 75cm xây chát lăn sơn 2019;Tường hoa bao sân xây noi bổ cột dài 23m cao 65cm xây chát lăn sơn 2019; Tường trước nhà dài 23,3m xây noi bổ cột lăn sơn Cao1,2m, phía trên cao 1,1m làm con lăn bổ cột; 02 Tường cổng rộng 01m, cao 1,9m, sơn vẽ tranh 02 mặt; 02 Trụ cổng 60x60cm cao 2,9m, phía trên làm mái thái giả gỗ; T2 chát và sơn năm 2019 diện tích 58m² + 30,5m², Mái tôn dựa tường và nhà 04 kèo diện tích 38m², 01 Bể nước có bể lọc phía trên, 02 máy bơm nhãn hiệu SanTino mua năm 2015. Sân láng Bê tông 54m² láng dày 4cm, Sân lát gạch đỏ 60x60 diện tích 271m², 19 cây xưa trồng năm 2020 vanh trung bình 19 cây, 03 cây mít trồng năm 2020 vanh 12, 04 cây vú sữa trồng năm 2020 vanh 20, 01 cây xoài vanh 50 trồng 2018, 01 cây sung vanh 75 trồng 2019; Tổng trị giá nhà và đất các tài sản trên đất là 2.290.108.000₫ (Hai tỷ hai trăm chín mươi triệu một trăm linh tám nghìn đồng).
Bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:
Căn cứ: Điều 33, Điều 59, Khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 156, điều 157 và khoản 2 Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 9, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Về hôn nhân: Cho Anh Lâm Văn L được ly hôn chị Lê Thị L1.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Lâm Hồng P, sinh ngày 22/9/2012 cho anh Lâm Văn L trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Lâm Thị Như Q sinh ngày 04/8/2008 cho chị Lê Thị L1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị L1 và anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở; Không lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cái.
- Về tài sản:
- Chia giá trị:
- - Chia cho anh Lâm Văn L được hưởng 780.000.000đ (Giá trị đất ở) + 4.864.000đ (Giá trị đất trồng cây hàng năm) + 492.622.000đ (1/2 giá trị tài sản trên đất) = 1.277.486.000đ (Một tỷ hai trăm bảy mươi bảy triệu bốn trăm tám mươi sáu nghìn đồng).
- - Chia cho chị Lê Thị L1 được hưởng: 520.000.000đ (Giá trị đất ở) + 492.622.000₫ (1/2 giá trị tài sản trên đất) = 1.012.622.000đ (Một tỷ không trăm mười hai triệu sáu trăm hai mươi hai nghìn đồng).
- Chia hiện vật:
- Chia phần đất diện tích 784,6m² trong đó có 663m² đất ở và 121,6m² là đất trồng cây hàng năm, các tài sản trên đất gồm: 01 Nhà mái thái xây năm 2019 diện tích 178m², Bồn H1 bậc tam cấp ốp đá 14,2m², 01 Tủ bếp gỗ xoan, 01 Tủ bếp gỗ xoan treo tường, 01 Cổng sắt 4 cánh cắt CNC, 02 Tường hoa bao sân xây noi bổ xây chát lăn sơn 2019; Tường trước nhà dài 9,88, 02 Tường cổng rộng 01m, cao 1,9m, sơn vẽ tranh 02 mặt, 02 Trụ cổng 60x60cm cao 2,9m, phía trên làm mái thái giả gỗ, T2 chát và sơn năm 2019 diện tích 58m² + 30,5m², 01 Mái tôn dựa tường và nhà, 01 Bể nước có bể lọc phía trên, 02 máy bơm nhãn hiệu SanTino mua năm 2015. 01 Sân láng Bê tông, Sân lát gạch đỏ 60x60 diện tích 271m², 03 cây xưa, 01 cây mít trồng năm 2020, 04 cây vú sữa trồng năm 2020, 01 cây xoài vanh 50 trồng 2018, 01 cây sung vanh 75 trồng 2019; Tổng giá trị là 1.845.732.000đ (Một tỷ tám trăm bốn mươi lăm triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn đồng) cho anh Lâm Văn L được quyền sử dụng.
- Chia phần đất 337m² đất ở, phần đất không có nhà cho chị Lê Thị Lan L1, các tài sản trên đất chị L1 được quyền sở hữu sử dụng gồm: 16 cây xưa, 02 cây mít, tường xây phía giáp đường liên thôn dài 13,42m; Tổng giá trị hiện vật giao cho trị L1 là 444.376.000₫ ( Bốn trăm bốn mươi bốn triệu ba trăm bảy mươi sáu nghìn đồng); (Có sơ đồ chia đất cho các bên kèm theo)
Người được chia quyền sử dụng đất có trách nhiệm đến Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký chuyển đổi đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
- Anh Lâm Văn L phải trả cho chị Lê Thị L1 568.246.000đ (Năm trăm sáu mươi tám triệu hai trăm bốn mươi sáu nghìn đồng) tiền chênh lệch chia tài sản.
- Chia giá trị:
Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về án phí, lệ phí xem xét thẩm định, định giá tài sản, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
* Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn kháng cáo với nội dung:
Nội dung kháng cáo của nguyên đơn: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử:
- - Hủy một phần bản án số 23/2023/HNGĐ-ST ngày 23/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa;
- - Tiến hành định giá lại tài sản là nhà và đất tại thửa số 987A tờ bản đồ số 14, địa chỉ Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
- - Quyết định chia cho nguyên đơn 80% tổng số giá trị tài sản là nhà và đất tại thửa số 987A tờ bản đồ số 14, địa chỉ Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa;
Nội dung kháng cáo của Bị đơn: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử: Sửa bản án sơ thẩm về tài sản theo hướng: Đề nghị chia cho bị đơn 450m² diện tích đất ở mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn. Các nội dung khác thống nhất như án sơ thẩm đã tuyên.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn và bị đơn thống nhất thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung khi ly hôn như sau:
Giao toàn bộ tài sản chung của anh L và chị L1 gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất, trong đó diện tích đất ở là 1000m², và đất trồng cây hàng năm 121,6m², thửa 987A tờ bản đồ 14 ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và 01 Nhà mái thái xây năm 2019 diện tích 178m² cùng toàn bộ tài sản trên đất cho anh Lâm Văn L được quyền sở hữu và quyền sử dụng. Anh L có trách nhiệm giao cho chị Lê Thị L1 số tiền 850.000.000đ (Tám trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn anh L giao tiền vào ngày 15 tháng 3 năm 2024.
Về án phí: Anh L và chị L1 thống nhất nộp án phí chia tài sản tương ứng với giá trị tài sản chung mà anh chị được hưởng theo quy định của pháp luật.
* Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận cho anh L và chị L1.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của đương sự, tại cấp phúc thẩm đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 300 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn;
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến, tranh luận của các đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân gia đình về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, các đương sự đều có nơi cư trú trên địa bàn xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn có đơn kháng cáo trong hạn, nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Về hôn nhân và con chung: Cấp sơ thẩm đã xử cho anh Lâm Văn L được ly hôn với chị Lê Thị L1. Giao con chung là cháu Lâm Hồng P, sinh ngày 22/9/2012 cho anh Lâm Văn L trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Lâm Thị Như Q sinh ngày 04/8/2008 cho chị Lê Thị L1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị L1 và anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Nội dung này các đương sự không kháng cáo nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét giải quyết.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn và bị đơn thống nhất thỏa thuận với nhau về việc phân chia tài sản chung khi ly hôn, sự thỏa thuận của các bên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật, không vi phạm điều cấm. Do đó Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về phần chia tài sản chung của vợ chồng.
[2] Sự thỏa thuận của các dương sự cụ thể như sau:
Giao toàn bộ tài sản chung của anh L và chị L1 gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất, trong đó diện tích đất ở là 1000m², và đất trồng cây hàng năm 121,6m², thửa 987A tờ bản đồ 14 ở thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và 01 Nhà mái thái xây năm 2019 diện tích 178m² cùng toàn bộ tài sản trên đất, có tổng giá trị là 2.290.108.000₫ (Hai tỷ, hai trăm chín mươi triệu, một trăm lẻ tám ngàn đồng) cho anh Lâm Văn L được quyền sở hữu và quyền sử dụng. Anh L có trách nhiệm giao cho chị Lê Thị L1 số tiền 850.000.000đ (Tám trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn anh L giao tiền vào ngày 15 tháng 3 năm 2024. Như vậy sau khi trừ số tiền cho chị L1 thì anh L được hưởng phần giá trị tài sản là: 1.440.108.000đ (Một tỷ, bốn trăm bốn mươi triệu, một trăm lẻ tám ngàn đồng).
[3] Về án phí sơ thẩm: Do giá trị tài sản giao cho các bên theo sự thỏa thuận có sự thay đổi, nên án phí sơ thẩm được xác định lại như sau:
Anh L được hưởng phần giá trị tài sản là: 1.440.108.000đ (Một tỷ, bốn trăm bốn mươi triệu, một trăm lẻ tám ngàn đồng), phải chịu án phí sơ thẩm (Làm tròn số) là 55.203.000đ (Năm mươi lăm triệu, hai trăm lẻ ba ngàn đồng);
Chị Lê Thị L1 được nhận số tiền 850.000.000đ (T3 trăm năm mươi triệu đồng), tương ứng với số tiền án phí là: 37.500.000đ ( Ba mươi bảy triệu, năm trăm ngàn đồng);
[4] Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Anh L và chị L1 phải chịu án phí Dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 2 Điều 308; khoản 1 Điều 309; Điều 300 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Sửa bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 23/2023/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa như sau:
- Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
Giao cho anh Lâm Văn L được quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất gồm: Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 987A tờ bản đồ 14; diện tích 1022m² (diện tích thực tế sử dụng 1.121,6m²); 01 nhà cấp 4 xây dựng năm 2019, diện tích nhà xây dựng 178,19m², địa chỉ: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 678009 do UBND huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 27 tháng 5 năm 2020 mang tên anh Lâm Văn L và chị Lê Thị L1.
Anh Lâm Văn L có trách nhiệm đến Cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc đăng ký chuyển đổi quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
Anh Lâm Văn L có trách nhiệm giao cho chị Lê Thị L1 số tiền 850.000.000đ (Tám trăm năm mươi triệu đồng), thời hạn anh L giao tiền cho chị L1 vào ngày 15 tháng 3 năm 2024.
Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật, đến hết ngày anh L phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho chị L1, chị Lê Thị L1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh L không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng, anh L còn phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự cho đến khi thanh toán xong.
Trường hợp bản án, được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về án phí: Anh Lâm Văn L phải chịu án phí sơ thẩm (Làm tròn số) là 55.203.000đ (Năm mươi lăm triệu, hai trăm lẻ ba ngàn đồng) và 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Dân sự phúc thẩm;
Chị Lê Thị L1 phải chịu số tiền án phí sơ thẩm là: 37.500.000đ (Ba mươi bảy triệu, năm trăm ngàn đồng) và 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí Dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị L1 đã nộp là 31.625.000đ(Ba mươi mốt triệu sáu trăm hai mươi lăm nghìn đồng) theo biên lai số: AA/2021/0006094 ngày 22/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa; chị L1 còn phải nộp tiếp 6.175.000₫ (Sáu triệu một trăm bảy mươi lăm nghìn đồng).
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Tân |
Bản án số 27/2023/HNGĐ - PT ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con chia tài sản khi ly hôn
- Số bản án: 27/2023/HNGĐ - PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chia tài sản khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản khi ly hôn
