Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ GIA MẬP

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày 15-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hải Ly

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phan Tấn Lãm

Bà Nguyễn Thị Mùa

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quỳnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 15/2024/HSST-QĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Lương Trọng T, sinh năm 2000, tại Cà Mau; nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước; nơi ở hiện nay: phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn T1 và bà Trần Thị T2; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Yến A và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024 cho đến nay; “có mặt”.
  2. Lê Thạc K, sinh năm 1987, tại Nghệ An; nơi đăng ký thường trú: thôn D, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thạc Đ và bà Lê Thị N; bị cáo có vợ tên Lê Thị X (đã chết) và có 01 người con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2024 cho đến nay; “có mặt”.

Bị hại:

  • Ông Hà Xuân L, sinh năm 1986 (vắng mặt)

2

  • Nơi cư trú: Thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước
  • Ông Nguyễn Đình T3, sinh năm 1992 (vắng mặt)
  • Nơi cư trú: Thôn D, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước
  • Ông Nguyễn Văn T4, sinh năm 1968 (vắng mặt)
  • Nơi cư trú: Thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Nguyễn Mạnh H, sinh năm 1984 (vắng mặt)
  • Nơi cư trú: Khu phố C, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước
  • Ông Mai Xuân C, sinh năm 1961 (vắng mặt)
  • Nơi cư trú: Kp B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lương Trọng TLê Thạc K là bạn bè quen biết nhau và cùng sinh sống tại thị xã P, tỉnh Bình Phước. Trong khoảng thời gian từ ngày 29/11/2023 đến ngày 04/01/2024, T và K đã thực hiện các vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện B, tỉnh Bình Phước, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất:

Sáng ngày 29/11/2023, Lương Trọng T điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở Lê Thạc K đi vào nhà bố của T ở thôn Đ, xã P, huyện B chơi, đến khoảng 10 giờ cùng ngày T chở K đi về thị xã P, tỉnh Bình Phước, trên đường đi Tưởng rủ K đi tìm nhà dân có tài sản sơ hở để trộm cắp thì K đồng ý. Tưởng điều khiển xe chở K đi về hướng xã P, khi đến nhà của Hà Xuân L ở thôn T, xã P thì T thấy nhà L đóng cửa không có người trông coi nên T dừng xe đi vào nhà của L còn K đứng ở ngoài canh người. Tưởng đi vào nhà của L thấy có 01 xe mô tô biển số 90B2-325.50 dựng trong nhà, trên xe có sẵn chìa khóa thì T dẫn chiếc xe này đi ra cửa sau rồi điều khiển đi về thị xã P, còn K điều khiển xe của T chạy theo phía sau. Sau khi trộm được xe mô tô của L, T đem xe đến nhà của ông Mai Xuân C ở khu phố B, phường S, thị xã P, tỉnh Bình Phước cầm cố cho C lấy số tiền 2.000.000 đồng, số tiền này TK chia nhau tiêu xài hết.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B xác định tại thời điểm ngày 29/11/2023 giá trị của 01 mô tô biển số 90B2 – 325.50 là 5.850.000 đồng.

Vụ thứ hai:

Sáng ngày 01/12/2023, Lưởng Trọng T5 điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) đi từ thị xã P, tỉnh Bình Phước đến xã Đ, huyện B, sau đó T5 điều khiển xe đi về xã P, huyện B theo đường Đ, khi đi đến thôn B, xã Đ thì Tưởng thấy nhà của anh

3

Nguyễn Đình T3 đóng cửa không có người trông coi nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong nhà của T3. Tưởng đi vào nhà của T3 thì thấy trong nhà có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh, T5 lấy chiếc điện thoại này rồi đi ra điều khiển xe mô tô về khu phố C, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước bán cho Nguyễn Mạnh H được 2.000.000 đồng, số tiền này Tưởng tiêu xài cá nhân hết.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B xác định tại thời điểm ngày 01/12/2023 giá trị của 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh là 6.000.000 đồng.

Vụ thứ ba:

Khoảng 15 giờ 40 phút ngày 04/01/2024, Lê Thạc K nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài nên K đi vào vườn tiêu của ông Nguyễn Văn T4 ở thôn P, xã Đ, huyện B thấy trong vườn không có người trông coi, K đi vào vườn thấy trong vườn có 01 máy bơm nước hiệu Daphovina loại 1.5HP-1.1KW, 01 đầu máy xịt thuốc sâu nhãn hiệu NAKAWA gắn chân đế, 01 chiếc xe rùa. K lấy máy bơm nước và đầu máy xịt thuốc sâu để lên xe rùa rồi đẩy xe đi tìm chỗ tiêu thụ những tài sản này, trên đường Đ bị người dân phát hiện nên đã bỏ lại những tài sản này rồi bỏ chạy.

Đến ngày 05/01/2024, Lê Thạc KLương Trọng T đến Công an xã Đ, huyện B đầu thú và khai nhận về hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Theo bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B xác định tại thời điểm ngày 04/01/2024 tổng giá trị của 01 máy bơm nước hiệu Daphovina loại 1.5HP-1.1KW, 01 đầu máy xịt thuốc sâu nhãn hiệu NAKAWA gắn chân đế, 01 chiếc xe rùa là 1.200.000 đồng.

Bản cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 28/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước truy tố các bị cáo Lương Trọng T, Lê Thạc K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo T từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo K từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
  • - Về xử lý vật chứng: không; về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo T phải trả cho ông Nguyễn Mạnh H số tiền 2.000.000 đồng.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lương Trọng TLê Thạc K đã khai nhận bản thân đã thực hiện những hành vi trộm cắp tài sản theo đúng nội dung Cáo trạng đã truy tố. Nay các bị cáo đã nhận biết hành vi của mình là trái

4

pháp luật, xin Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo một mức án thấp để các bị cáo có cơ hội sửa sai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ và tội danh đối với hành vi của bị cáo: Xét thấy các chứng cứ, chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại; người làm chứng phù hợp về thời gian, địa điểm thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng của vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:

  • Do lười lao động nhưng lại muốn có tiền tiêu xài nên ngày 29/11/2023, Lương Trọng TLê Thạc K đã lén lút chiếm đoạt 01 mô tô biển số 90B2 – 325.50 của ông Hà Xuân L ở thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Bình Phước trị giá là 5.850.000 đồng;
  • Ngày 01/12/2023, Lương Trọng T tiếp tục thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh của anh Nguyễn Đình T3 ở thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước trị giá là 6.000.000 đồng;
  • Ngày 04/01/2024, Lê Thạc K tiếp tục thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 máy bơm nước hiệu Daphovina loại 1.5HP-1.1KW, 01 đầu máy xịt thuốc sâu nhãn hiệu NAKAWA gắn chân đế, 01 chiếc xe rùa của ông Nguyễn Văn T4 ở thôn P, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước có tổng giá trị là 1.200.000 đồng.

Đối chiếu hành vi nêu trên của các bị cáo so với những quy định của pháp luật thì hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, về tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, do mong muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã cố ý thực hiện việc phạm tội.

5

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định mức hình phạt cho các bị cáo cần xem xét:

  • - Bị cáo T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo; bị cáo đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
  • - Bị cáo K phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo; bị cáo đầu thú là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo T từ 18 tháng đến 24 tháng tù và bị cáo K từ 12 tháng đến 15 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 triệu đồng”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có công việc ổn định, thu nhập thấp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

  • - Đối với những bị hại ông Hà Xuân L, ông Nguyễn Đình T3, ông Nguyễn Văn T4 đã nhận lại tài sản bị bị cáo TK chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Mai Xuân C không yêu cầu bị cáo TK phải trả lại số tiền 2.000.000 đồng mà ông C đã bỏ ra để nhận cầm cố xe mô tô của TK, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Mạnh H yêu cầu bị cáo T phải trả lại cho ông H số tiền 2.000.000 đồng mà ông đã bỏ ra để mua điện thoại của Tưởng. Yêu cầu của ông H là đúng quy định pháp luật, do đó cần buộc bị cáo T phải trả lại cho ông H số tiền này.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 mô tô biển số 90B2 – 325.50 là tài sản hợp pháp của ông Hà Xuân L. Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả lại cho ông L nên không xử lý lại.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu xanh là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Đình T3. Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả lại cho ông T3 nên không xử lý lại.
  • - Đối với 01 máy bơm nước hiệu Daphovina loại 1.5HP-1.1KW, 01 đầu máy xịt thuốc sâu nhãn hiệu NAKAWA gắn chân đế, 01 chiếc xe rùa là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn T4. Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả lại cho ông T4 nên không xử lý lại.
  • - Đối với đối với 01 xe mô tô không rõ biển số do bị cáo TK sử dụng để đi trộm cắp xe mô tô của Hà Xuân L và 01 xe mô tô không rõ biển số do bị cáo T sử dụng để đi trộm cắp điện thoại di động của ông Nguyễn Đình T3. Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT Công an huyện B không thu giữ được hai chiếc xe này nên không đề cập xử lý.

[7] Đối với ông Mai Xuân C, người đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô biển số 90B2 -325.50 của bị cáo TK. Quá trình điều tra xác định khi nhận cầm cố ông C không biết chiếc xe này do TK phạm tội mà có nên hành vi của ông C không cấu thành tội phạm.

Đối với ông Nguyễn Mạnh H, người đã mua chiếc điện Thoại hiệu Iphone 12 của Lương Trọng T. Quá trình điều tra xác định khi mua ông H không biết chiếc điện thoại này do T phạm tội mà có nên hành vi của ông H không cấu thành tội phạm.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ Điều 106, Điều 260, Điều 329, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

  1. Tuyên bố bị cáo Lương Trọng T, Lê Thạc K phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
    • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
    • Xử phạt bị cáo Lương Trọng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 05/01/2024.
    • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
    • Xử phạt bị cáo Lê Thạc K 01 (một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 05/01/2024.

7

Quyết định tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án.

  1. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

    Buộc bị cáo Lương Trọng T phải trả cho ông Nguyễn Mạnh H số tiền 2.000.000 đồng.

  2. Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

    Bị cáo K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án.

    Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - Công an, VKSND huyện Bù Gia Mập;
  • - Chi cục THADS huyện Bù Gia Mập;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hải Ly

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger