Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST.

Ngày: 14 - 8 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Huy Tùng.

Ông Thạch Văn Mến.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khánh Huy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Kiều Thanh Thật - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS, ngày 31 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đặng Văn N (tên gọi khác: Không có); Sinh ngày 16/8/1998 tại huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H (sống) và bà Nguyễn Thị T (sống); tiền án: Không; tiền sự: Không; vợ và con: Có vợ là Võ Thị Kỳ D, sinh năm: 2001, có một con, sinh năm: 2021. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 30/12/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay “Có mặt”.

  2. Họ và tên: Quách Kim P (tên gọi khác: Không có); Sinh ngày 03/3/1999 tại huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Nơi cư trú: Ấp D, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Quách Kim T1 (sống) và bà Trần Siếu K (sống); tiền án: Không; tiền sự: Không; vợ và con: Có vợ là Huỳnh Thị Bích N1, sinh năm: 2000, có một người con, sinh năm: 2023. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 24/12/2023 đến ngày 30/12/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay “Có mặt”.

- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  • + Lý Q; Sinh năm: 1995. Nơi cư trú: Ấp S, xã L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin vắng mặt).

  • + Nguyễn Triệu Gia Đ; Sinh năm: 2003. Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin vắng mặt).

  • + Bùi Công P1; Sinh năm: 2004. Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

  • + Võ Văn K1 (Đen); Sinh năm: 1997. Nơi cư trú: Ấp N, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin vắng mặt).

  • + Nguyễn Thị T; Sinh năm: 1978. Nơi cư trú: Ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi trưa ngày 24/12/2023, bị cáo Đặng Văn N nhắn tin bằng ứng dụng Zalo của mình tên “Nghia Tran D1” vào tài khoản Zalo tên “Bé Như” của bị cáo Quách Kim P nói có người hỏi mua 12 số ma túy, bị cáo P trả lời giá bán là 1.400.000 đồng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, bị cáo P chở Lý Q đến nhà của bị cáo N thuộc ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng để bán ma túy cho N. Đồng thời, đòi tiền của N (do N thiếu tiền của một người tên H1 là bạn của P). Khi đến nhà của bị cáo N, bị cáo N hỏi mượn xe của P chạy đi tìm Nguyễn Triệu Gia Đ để kiếm tiền trả cho P, nhưng vẫn không có tiền, nên bị cáo N chở Đ tiếp tục chạy xe đi kiếm tiền trả phụ cho N, nhưng Đ về vẫn không có tiền. Bị cáo N chạy xe vào vườn tìm mẹ để mượn tiền trả cho P, nhưng vẫn không mượn được tiền, nên N đã lấy điện thoại OPPO màu đỏ của mẹ sử dụng. Khi bị cáo về nhà do không có tiền trả cho bị cáo P, nên P kêu N kiếm người để P bán ma túy. Do đó, N điện thoại và nhắn tin cho Võ Văn K1 để bán ma túy, K1 nhắn tin hỏi mua ma túy một gốc tám, N mới hỏi P một gốc tám ma túy giá bao nhiêu thì P trả lời giá là 700.000 đồng, N nhắn tin cho K1 một gốc tám giá là 800.000 đồng. Sau đó P, NQ vào phòng ngủ của N để sử dụng ma túy. P lấy bịch ma túy được đựng trong bịch nylon có viền vuốt màu đỏ của P chiết ma túy vào dụng cụ sử dụng ma túy của N để trong phòng của N và sử dụng ma túy. Bị cáo P sử dụng đầu tiên, rồi tới Q, rồi tới N. Kế đến là Đ vào phòng của N để mượn điện thoại điện cho Bùi Công P1 chạy xe lại chở Đ về, thì N có rủ Đ sử dụng ma túy, nên Đ sử dụng một hơi (01 lần) rồi điện thoại cho P1. Khi P1 đến của nhà N, nghe tiếng bô xe lớn nên Đ đi ra, P cũng ra xem là ai, QN ở trong phòng, N nhìn ra xem là ai, P1 vào hỏi Đ có ma túy không thì Đ nói là vào hỏi N, P đi vào phòng, P1 đi thẳng đến trước cửa phòng và hỏi N mua ma túy với giá 200.000 đồng, P1 vào phòng ngồi chỗ của Đ sử dụng hai hơi ma túy, lúc này P mới chiết ra hai bịch ma túy từ bịch ma túy của P vào một đoạn ống nhựa màu trắng với giá 200.000 đồng và một bịch nylon có viền vuốt màu xanh với giá 700.000 đồng để lên sàn nhà. N cầm đoạn ống nhựa trắng có ma túy đưa cho P1, P1 trả tiền mua ma túy cho Nghĩa là 200.000 đồng (gồm một tờ mệnh giá 100.000 đồng và hai tờ mệnh giá 50.000 đồng). Khi lấy ma túy xong thì P1 đi ra khỏi phòng và lên xe chở Đ về nhà. N đưa cho P 200.000 đồng và lấy bịch ma túy đựng trong bịch nylon có viền vuốt màu xanh để đi giao cho K1, cả ba cùng ra khỏi phòng của N, do P để quên bịch ma túy của P đem theo, nên quay vào phòng để lấy, quay ra để bịch ma túy chỗ chân giá võng và lên võng nằm, Q thì ngồi trên ghế nhà trước, N thì dẫn xe của P ra trước cổng để đi giao ma túy cho K1 thì bị Công an kiểm tra nhà của N. Lúc này, N ném bịch ma túy định đi giao cho K1 xuống sân trước nhà. Công an kiểm tra nhà N phát hiện tại khu vực nhà trước trong khe nhỏ ở chân giá võng đặt sát vách tường có nhét một bịch nylon trong suốt có viền màu đỏ bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine. Tiếp tục kiểm tra trong phòng ngủ của N phát hiện 01 (một) bình sữa hiệu SUMI, trên thân bình có gắn một đoạn ống nhựa trong suốt gắn nắp bằng nhựa màu trắng trên nắp gắn một cái nỏ bằng thủy tinh, bên trong nỏ có ma túy loại Methamphetamine và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, lập biên bản thu giữ các đồ vật, tài liệu liên quan.

Quá trình điều tra, xác định ma túy phát hiện tại chân giá võng (Gói 1) là của bị cáo P dùng để bán; Ma túy phát hiện trong nỏ thủy tinh (Gói 2) của bộ D2 sử dụng ma túy trong phòng của bị cáo Nghĩa là của P để bị cáo P cùng bị cáo N, Q, Đ, P1 sử dụng, nhưng sử dụng không hết; Ma túy phát hiện tại vị trí trước sân nhà của bị cáo N (G) là của bị cáo N mua của P để đi bán lại cho K1 (Đen).

Tại Kết luận giám định số: 236/KLGĐMT-KTHS ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Phòng K2 Công an tỉnh S kết luận như sau: Gói 01: Mẫu chất rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,5701 gam, loại Methamphetamine; Gói 02: Mẫu chất rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0444 gam, loại Methamphetamine; Gói 03: Mẫu chất rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3464 gam, loại Methamphetamine.

Đối với bị cáo Quách Kim P vào ngày 24/12/2023 đã có hành vi bán ma túy cho N để N bán ma túy lại kiếm tiền lời trả cho P. Trước khi P1 đến, N có hỏi P giá một gốc tám ma túy, P trả lời 700.000 đồng và cả nhóm vào phòng của N để sử dụng và chiết ma túy. Khi P1 đến hỏi mua ma túy của N với giá 200.000 đồng, thì P mới chiết ra một bịch 200.000 đồng, N cầm bịch ma túy giao cho P1, P1 trả tiền mua ma túy là 200.000 đồng cho N, N đưa 200.000 đồng cho P. Sau khi bán ma túy cho P1, N lấy bịch ma túy 700.000 đồng đi bán cho K1 (Đen). Ngoài ra, P còn cho N mượn xe để N đi bán ma túy, nên P phải chịu trách nhiệm về hai lần bán ma túy của N. Bị cáo P còn cung cấp ma túy để cùng với N, Q, P1, Đ sử dụng ma túy tại phòng ngủ của N.

Đối với bị cáo Đặng Văn N vào ngày 24/12/2023 đã có hành vi mua 700.000 đồng ma túy của bị cáo P để bán lại K1 (Đen) với giá 800.000 đồng và có hành vi giúp bị cáo P bán 200.000 đồng ma túy cho P1. Bị cáo N còn cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy và sử dụng phòng ngủ của mình làm địa điểm sử dụng ma túy để bị cáo N cùng với P, Q, P1, Đ sử dụng ma túy tại phòng ngủ của mình.

Trên cơ sở kết quả điều tra và những tài liệu, chứng cứ thu thập được, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Đặng Văn NQuách Kim P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vật chứng trong vụ án: Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T thu giữ: 1,4595 gam mẫu chất rắn màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 01"; 0,0239 gam mẫu chất rắn màu nâu và 01 (một) ống thủy tinh (Nỏ) còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong phong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 02"; 0,1967 gam mẫu chất rắn màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 03"; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone (đã qua sử dụng); 01 (một) bình sữa hiệu JUMI, trên thân có gắn một đoạn ống nhựa trong suốt, gắn nắp bằng nhựa màu trắng; 04 (bốn) đoạn ống nhựa trong suốt, một đầu hàn kín; 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng, một đầu hàn kín; 03 (ba) đoạn ống bằng thủy tỉnh; 01 (một) cái nó bằng thủy tỉnh đã bề; 02 (hai) đoạn ống hút gồm một đoạn màu trắng và một đoạn màu đen; 01 (một) hột quẹt gas (đã qua sử dụng); 01 (một) điện thoại hiệu OPPO màu đỏ (đã qua sử dụng); 01 (một) xe máy biển kiểm soát 60M3-1916 (đã qua sử dụng); Tiền Việt Nam 200.000 đồng (gồm 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng và 02 tờ mệnh giá 50.000 đồng).

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lý Q, Nguyễn Triệu Gia ĐBùi Công P1, Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cho Công an địa phương xử lý theo quy định.

Đối với Nguyễn Thị T là mẹ ruột của N, chủ ngôi nhà bị can N tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thì bà T đã giao cho N quản lý, sử dụng. Bà T không biết việc N cho những người khác đến để sử dụng ma túy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với bà T.

Đối với người tên H1 đã bán ma túy cho bị can N do thông tin về người này quá ít, chưa thể xác định được người này là ai, Cơ quan điều tra tiếp tục thu thập tài liệu, xác minh để xác định H1 là ai, có bán ma túy cho N hay không và sẽ tiến hành xử lý sau khi đủ căn cứ.

- Tại bản Cáo trạng số: 27/CT-VKSTĐ, ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng để xét xử đối với Đặng Văn NQuách Kim P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cáo trạng số: 27/CT-VKSTĐ, ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Đặng Văn NQuách Kim P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết sau đây để xét xử đối với các bị cáo:

+ Đối với bị cáo Đặng Văn N: Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như sau: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự khai ra hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà chưa bị phát hiện, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên phạt bị cáo Đặng Văn N từ 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 07 (bảy) đến 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung là 12 (mười hai) đến 14 (mười bốn) năm tù.

+ Đối với bị cáo Quách Kim P: Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như sau: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự khai ra hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà chưa bị phát hiện, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên phạt bị cáo Quách Kim P từ 05 (năm) đến 06 (sáu) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 07 (bảy) đến 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung là 12 (mười hai) đến 14 (mười bốn) năm tù.

Về xử lý vật chứng của vụ án: (Các biện pháp tư pháp): Mẫu còn lại 1,4595 gam mẫu chất rắn màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 01"; 0,0239 gam mẫu chất rắn màu nâu và 01 (một) ống thủy tinh (Nỏ) còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong phong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 02"; 0,1967 gam mẫu chất rắn màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 03"; 01 (một) bình sữa hiệu JUMI, trên thân có gắn một đoạn ống nhựa trong suốt, gắn nắp bằng nhựa màu trắng; 04 (bốn) đoạn ống nhựa trong suốt, một đầu hàn kín; 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng, một đầu hàn kín; 03 (ba) đoạn ống bằng thủy tỉnh; 01 (một) cái nó bằng thủy tỉnh đã bề; 02 (hai) đoạn ống hút gồm một đoạn màu trắng và một đoạn màu đen; 01 (một) hột quẹt gas (đã qua sử dụng) không còn giá trị sử dụng, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu, tiêu hủy: Mẫu còn lại 1,4595 gam mẫu chất rắn màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 01"; 0,0239 gam mẫu chất rắn màu nâu và 01 (một) ống thủy tinh (Nỏ) còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong phong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 02"; 0,1967 gam mẫu chất rắn màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 03"; 01 (một) bình sữa hiệu JUMI, trên thân có gắn một đoạn ống nhựa trong suốt, gắn nắp bằng nhựa màu trắng; 04 (bốn) đoạn ống nhựa trong suốt, một đầu hàn kín; 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng, một đầu hàn kín; 03 (ba) đoạn ống bằng thủy tỉnh; 01 (một) cái nó bằng thủy tỉnh đã bề; 02 (hai) đoạn ống hút gồm một đoạn màu trắng và một đoạn màu đen; 01 (một) hột quẹt gas (đã qua sử dụng); Đối với 01 (một) điện thoại hiệu OPPO màu đỏ (đã qua sử dụng) là tài sản của bà Nguyễn Thị T, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên trả lại cho bà Nguyễn Thị T; Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone (đã qua sử dụng); 01 (một) xe máy biển kiểm soát 60M3-1916 (đã qua sử dụng) là tài sản của bị cáo P, bị cáo đã sử dụng tài sản làm phương tiện cho việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch sung vào Ngân sách Nhà nước; Đối với số tiền Việt Nam 200.000 đồng (gồm 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng và 02 tờ mệnh giá 50.000 đồng) là tiền do phạm tội mà có, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Đặng Văn N có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251, khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Quách Kim P có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251, khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

- Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo P và bị cáo N.

- Ý kiến của bị cáo Đặng Văn N: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề đã truy tố, bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Ý kiến của bị cáo Quách Kim P: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề đã truy tố, bị cáo rất ăn năn, hối hận về hành vi của mình đã gây ra, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Lý Q, Nguyễn Triệu Gia Đ, Võ Văn K1 (Đen) có đơn xin xét xử vắng mặt. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Bùi Công P1 vắng mặt. Do trước đó người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Lý Q, Nguyễn Triệu Gia Đ, Võ Văn K1 (Đen), Bùi Công P1 đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Lý Q, Nguyễn Triệu Gia Đ, Võ Văn K1 (Đen), Bùi Công P1.

[3] Tại phiên toà hôm nay các bị cáo Đặng Văn NQuách Kim P thừa nhận: Buổi trưa ngày 24/12/2023, bị cáo Đặng Văn N nhắn tin bằng ứng dụng Zalo của mình tên “Nghia Tran D1” vào tài khoản Zalo tên “Bé Như” của bị cáo Quách Kim P nói có người hỏi mua 12 số ma túy, bị cáo P trả lời giá bán là 1.400.000 đồng. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, bị cáo P chở Lý Q đến nhà của bị cáo N thuộc ấp Đ, thị trấn T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng để bán ma túy cho N. Đồng thời, đòi tiền của N (do N thiếu tiền của một người tên H1 là bạn của P). Khi đến nhà của bị cáo N, bị cáo N hỏi mượn xe của P chạy đi tìm Nguyễn Triệu Gia Đ để kiếm tiền trả cho P, nhưng vẫn không có tiền, nên bị cáo N chở Đ tiếp tục chạy xe đi kiếm tiền trả phụ cho N, nhưng Đ về vẫn không có tiền. Bị cáo N chạy xe vào vườn tìm mẹ để mượn tiền trả cho P, nhưng vẫn không mượn được tiền, nên N đã lấy điện thoại OPPO màu đỏ của mẹ sử dụng. Khi bị cáo về nhà do không có tiền trả cho bị cáo P, nên P kêu N kiếm người để P bán ma túy. Do đó, N điện thoại và nhắn tin cho Võ Văn K1 để bán ma túy, K1 nhắn tin hỏi mua ma túy một gốc tám, N mới hỏi P một gốc tám ma túy giá bao nhiêu thì P trả lời giá là 700.000 đồng, N nhắn tin cho K1 một gốc tám giá là 800.000 đồng. Sau đó P, NQ vào phòng ngủ của N để sử dụng ma túy. P lấy bịch ma túy được đựng trong bịch nylon có viền vuốt màu đỏ của P chiết ma túy vào dụng cụ sử dụng ma túy của N để trong phòng của N và sử dụng ma túy. Bị cáo P sử dụng đầu tiên, rồi tới Q, rồi tới N. Kế đến là Đ vào phòng của N để mượn điện thoại điện cho Bùi Công P1 chạy xe lại chở Đ về, thì N có rủ Đ sử dụng ma túy, nên Đ sử dụng một hơi (01 lần) rồi điện thoại cho P1. Khi P1 đến của nhà N, nghe tiếng bô xe lớn nên Đ đi ra, P cũng ra xem là ai, QN ở trong phòng, N nhìn ra xem là ai, P1 vào hỏi Đ có ma túy không thì Đ nói là vào hỏi N, P đi vào phòng, P1 đi thẳng đến trước cửa phòng và hỏi N mua ma túy với giá 200.000 đồng, P1 vào phòng ngồi chỗ của Đ sử dụng hai hơi ma túy, lúc này P mới chiết ra hai bịch ma túy từ bịch ma túy của P vào một đoạn ống nhựa màu trắng với giá 200.000 đồng và một bịch nylon có viền vuốt màu xanh với giá 700.000 đồng để lên sàn nhà. N cầm đoạn ống nhựa trắng có ma túy đưa cho P1, P1 trả tiền mua ma túy cho Nghĩa là 200.000 đồng (gồm một tờ mệnh giá 100.000 đồng và hai tờ mệnh giá 50.000 đồng). Khi lấy ma túy xong thì P1 đi ra khỏi phòng và lên xe chở Đ về nhà. N đưa cho P 200.000 đồng và lấy bịch ma túy đựng trong bịch nylon có viền vuốt màu xanh để đi giao cho K1, cả ba cùng ra khỏi phòng của N, do P để quên bịch ma túy của P đem theo, nên quay vào phòng để lấy, quay ra để bịch ma túy chỗ chân giá võng và lên võng nằm, Q thì ngồi trên ghế nhà trước, N thì dẫn xe của P ra trước cổng để đi giao ma túy cho K1 thì bị Công an kiểm tra nhà của N. Lúc này, N ném bịch ma túy định đi giao cho K1 xuống sân trước nhà. Công an kiểm tra nhà N phát hiện tại khu vực nhà trước trong khe nhỏ ở chân giá võng đặt sát vách tường có nhét một bịch nylon trong suốt có viền màu đỏ bên trong có chứa ma túy loại Methamphetamine. Tiếp tục kiểm tra trong phòng ngủ của N phát hiện 01 (một) bình sữa hiệu SUMI, trên thân bình có gắn một đoạn ống nhựa trong suốt gắn nắp bằng nhựa màu trắng trên nắp gắn một cái nỏ bằng thủy tinh, bên trong nỏ có ma túy loại Methamphetamine và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, lập biên bản thu giữ các đồ vật, tài liệu liên quan.

[4] Đối với lời khai nhận tội và mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, xét thấy lời thừa nhận hành vi phạm tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác mà cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo thể hiện là người bình thường, đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội, hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chính sách quản lý của Nhà nước về phòng, chống các loại tội phạm về ma túy, gây mất an ninh trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Hành vi này của các bị cáo cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, Cáo trạng số: 27/CT-VKSTĐ, ngày 02 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố các bị cáo về tội danh và khung hình phạt nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan cho các bị cáo. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo nhằm mục đích cải tạo, răn đe và giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội sau này và có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung cho toàn xã hội.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thấy rằng, trước khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như sau:

[5.1] Đối với bị cáo Đặng Văn N: Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như sau: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự khai ra hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà chưa bị phát hiện, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng là đúng pháp luật. Đồng thời, cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

[5.2] Đối với bị cáo Quách Kim P: Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như sau: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự khai ra hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà chưa bị phát hiện, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Do vậy, khi lượng hình Hội đồng xét xử sẽ áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng là đúng pháp luật. Đồng thời, cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

[6] Về hình phạt bổ sung:

[6.1] Xét thấy bị cáo Đặng Văn N có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251, khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6.2] Xét thấy bị cáo Quách Kim P có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251, khoản 5 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[9] Về xử lý vật chứng của vụ án: (Các biện pháp tư pháp): Trong quá trình điều tra vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ: Mẫu còn lại 1,4595 gam mẫu chất rắn màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 01"; 0,0239 gam mẫu chất rắn màu nâu và 01 (một) ống thủy tinh (Nỏ) còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong phong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 02"; 0,1967 gam mẫu chất rắn màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 03"; 01 (một) bình sữa hiệu JUMI, trên thân có gắn một đoạn ống nhựa trong suốt, gắn nắp bằng nhựa màu trắng; 04 (bốn) đoạn ống nhựa trong suốt, một đầu hàn kín; 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng, một đầu hàn kín; 03 (ba) đoạn ống bằng thủy tỉnh; 01 (một) cái nó bằng thủy tỉnh đã bề; 02 (hai) đoạn ống hút gồm một đoạn màu trắng và một đoạn màu đen; 01 (một) hột quẹt gas (đã qua sử dụng) không còn giá trị sử dụng, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu, tiêu hủy: Mẫu còn lại 1,4595 gam mẫu chất rắn màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 01"; 0,0239 gam mẫu chất rắn màu nâu và 01 (một) ống thủy tinh (Nỏ) còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong phong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 02"; 0,1967 gam mẫu chất rắn màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 03"; 01 (một) bình sữa hiệu JUMI, trên thân có gắn một đoạn ống nhựa trong suốt, gắn nắp bằng nhựa màu trắng; 04 (bốn) đoạn ống nhựa trong suốt, một đầu hàn kín; 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng, một đầu hàn kín; 03 (ba) đoạn ống bằng thủy tỉnh; 01 (một) cái nó bằng thủy tỉnh đã bề; 02 (hai) đoạn ống hút gồm một đoạn màu trắng và một đoạn màu đen; 01 (một) hột quẹt gas (đã qua sử dụng); Đối với 01 (một) điện thoại hiệu OPPO màu đỏ (đã qua sử dụng) là tài sản của bà Nguyễn Thị T, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên trả lại cho bà Nguyễn Thị T; Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone (đã qua sử dụng); 01 (một) xe máy biển kiểm soát 60M3-1916 (đã qua sử dụng) là tài sản của bị cáo P, bị cáo đã sử dụng tài sản làm phương tiện cho việc phạm tội, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch sung vào Ngân sách Nhà nước; Đối với số tiền Việt Nam 200.000 đồng (gồm 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng và 02 tờ mệnh giá 50.000 đồng) là tiền do phạm tội mà có, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

[10] Về án phí: Bị cáo Đặng Văn NQuách Kim P là người bị kết án, nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

+ Tuyên bố bị cáo Đặng Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Xử phạt bị cáo Đặng Văn N 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 05 (năm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung là 12 (mười hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ 24/12/2023.

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

+ Tuyên bố bị cáo Quách Kim P “Mua bán trái phép chất ma túy” và phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Xử phạt bị cáo Quách Kim P 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 05 (năm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung là 12 (mười hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ 24/12/2023.

- Về xử lý vật chứng (Các biện pháp tư pháp):

+ Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu, tiêu hủy: Mẫu còn lại 1,4595 gam mẫu chất rắn màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 01"; 0,0239 gam mẫu chất rắn màu nâu và 01 (một) ống thủy tinh (Nỏ) còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong phong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 02"; 0,1967 gam mẫu chất rắn màu trắng còn lại sau giám định được niêm phong bằng giấy trắng và băng keo không màu trong bì màu trắng, bên ngoài ghi “Niêm phong vụ số: 236/2023, ngày 11 tháng 01 năm 2024, Gói 03"; 01 (một) bình sữa hiệu JUMI, trên thân có gắn một đoạn ống nhựa trong suốt, gắn nắp bằng nhựa màu trắng; 04 (bốn) đoạn ống nhựa trong suốt, một đầu hàn kín; 01 (một) đoạn ống nhựa màu vàng, một đầu hàn kín; 03 (ba) đoạn ống bằng thủy tỉnh; 01 (một) cái nó bằng thủy tỉnh đã bề; 02 (hai) đoạn ống hút gồm một đoạn màu trắng và một đoạn màu đen; 01 (một) hột quẹt gas (đã qua sử dụng);

+ Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên trả lại cho bà Nguyễn Thị T 01 (một) điện thoại hiệu OPPO màu đỏ (đã qua sử dụng).

+ Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone (đã qua sử dụng); 01 (một) xe máy biển kiểm soát 60M3-1916 (đã qua sử dụng).

+ Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) và điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước số tiền Việt Nam 200.000 đồng (gồm 01 tờ mệnh giá 100.000 đồng và 02 tờ mệnh giá 50.000 đồng).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử buộc bị cáo Đặng Văn NQuách Kim P mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

- Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày. Riêng đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Lý Q, Nguyễn Triệu Gia Đ, Võ Văn K1 (Đen), Bùi Công P1 không có mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Đề;
  • - CAND huyện Trần Đề;
  • - Cơ quan THAHS huyện Trần Đề;
  • - Bị cáo;
  • - NCQL, NVLQ;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Mỹ Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xử phạt Đặng Văn Nghĩa 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 05 (năm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung là 12 (mười hai) năm tù và xử phạt Quách Kim Phát 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 05 (năm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung là 12 (mười hai) năm tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger