Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 27/2024/DS-ST

Ngày: 14/6/2024

“V/v tranh chấp ranh giới

quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử dân sự sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Phong

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Phú Ba

2. Bà Trần Thị Phiến

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thụy Thùy Trâm – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành.

- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Trần Hữu Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 14/6/2024 tại trụ sở Tòa án huyện Châu Thành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 216/2022/TLST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2022, về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST-DS ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Lê Phước N, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Số G, ấp T, xã T, C, Đồng Tháp.

- Bị đơn: Nguyễn Thị Á, sinh năm 1968;

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, Đồng Tháp;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Phan Thị C, sinh năm 1968;
  2. Lê Ngọc T, sinh năm 1988;
  3. Nguyễn Thị Mai T1, sinh năm 1984;

Cùng địa chỉ: Số G, ấp T, xã T, C, Đồng Tháp.

  1. Đặng Thị H, sinh năm 1970;

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;

Người đại diện theo ủy quyền của Phan Thị C, Lê Ngọc T, Nguyễn Thị Mai T1 là anh Lê Phước N, sinh năm 1982; cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

5/ UBND huyện C, tỉnh Đồng Tháp

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Minh T2 – Chủ tịch UBND.

Địa chỉ: Quốc lộ H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng các lời khai trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Phước N, đồng thời cũng là đại diện theo ủy quyền của Phan Thị C, Lê Ngọc T, Nguyễn Thị Mai T1 trình bày:

Hộ ông Lê Phước N có sử dụng phần đất thửa số 126 tờ bản đồ số 43 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Giáp ranh với phần đất này là thửa 248 tờ bản đồ số 43, trước đây là của ông Nguyễn Văn T3 sử dụng, sau này thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị Ánh. Khi ông T3 còn sống thì gia đình ông N và ông T3 đã thống nhất ranh với nhau, cụ thể ranh cách trụ hàng rào nhà ông Nguyễn 1 0,5m. Đến ngày 12/3/2021 nhà ông Nguyễn tiến h xây hàng rào thì bà Á ngăn cản nên xảy ra tranh chấp.

Hộ ông Lê Phước N yêu cầu xác định ranh đất giữa thửa số 126 tờ bản đồ số 43 do hộ Lê Phước N đứng tên quyền sử dụng đất với thửa 248 tờ bản đồ số 43 do bà Nguyễn Thị Á đứng tên quyền sử dụng đất. Yêu cầu bà Nguyễn Thị Á trả lại cho hộ Lê Phước Nguyễn phần đất có chiều ngang là 1m, chiều dài là 20m, thuộc một phần thửa số 126 tờ bản đồ số 43, đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Sau khi đo đạc và xem xét thẩm định, theo sơ đồ đo đạc tranh chấp ngày 06/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C thì Hộ ông Lê Phước N yêu cầu xác định ranh đất giữa thửa số 126 tờ bản đồ số 43 do hộ Lê Phước N đứng tên quyền sử dụng đất với thửa 248 tờ bản đồ số 43 do bà Nguyễn Thị Á đứng tên quyền sử dụng đất là đoạn nối từ mốc 4 đến mốc 5. Đồng thời yêu cầu bà Á, bà H di dời toàn bộ nhà, công trình kiến trúc, cây trồng giao trả lại cho Hộ ông Lê Phước Nguyễn p đất giới hạn bởi các mốc 3 – 4 – 5- 6 – 3.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Á trình bày:

Nguồn gốc phần đất của bà Á là của ông Nguyễn Văn T3, ba ruột bà Á. Bà ở tại phần đất này từ trước 1975, đến năm 2020 Bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 248 tờ bản đồ số 43. Giữa thửa số 126 tờ bản đồ số 43 với thửa 248 tờ bản đồ số 43 có một đường đất cho các hộ dân cùng sử dụng từ trước 1975, do hình dáng đường đi quanh co nên kích thước đường có chỗ rộng chỗ hẹp.

Nay Hộ ông Lê Phước N yêu cầu bà Á cùng bà H di dời toàn bộ nhà, công trình kiến trúc, cây trồng giao trả lại cho Hộ ông Lê Phước Nguyễn p đất giới hạn bởi các mốc 3 – 4 – 5- 6 – 3, đồng thời xác định ranh đất giữa thửa số 126 tờ bản đồ số 43 do hộ Lê Phước N đứng tên quyền sử dụng đất với thửa 248 tờ bản đồ số 43 do bà Nguyễn Thị Á đứng tên quyền sử dụng đất là đoạn nối từ mốc 4 đến mốc 5 theo sơ đồ đo đạc tranh chấp ngày 06/12/2022 của Chi nhánh VPĐK đất đai huyện C thì bà Á không đồng ý. Lí do hiện tại Bà sử dụng đất đúng vị trí ranh giới được cấp quyền sử dụng không lấn chiếm đất của hộ ông Lê Phước N.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Đặng Thị H trình bày: bà H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến trình bày là thống nhất theo lời của bà Á, bà H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trong vụ kiện này cũng không có yêu cầu hay tranh chấp gì.

2/ UBND huyện C vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến trình bày: Theo hồ sơ địa chính đang quản lý thì giữa phần diện tích đất thửa số 126 tờ bản đồ số 43 với phần diện tích đất thửa số 248 tờ bản đồ số 43 có thể hiện đường đất. Vị trí kích thước đường thể hiện qua các mốc 1,2,3,6,1 theo sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ. Đến thời điểm hiện tại chưa giao cho cá nhân, tổ chức nào quản lý, sử dụng phần đường đất trên.

Phần diện tích đất tranh chấp 59,7m² thể hiện qua các mốc 3,4,5,6,3 theo sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ không thuộc phần đường đất này. (B1 101)

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án đã cơ bản thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, cũng như những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền nghĩa vụ của mình được Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản liên quan quy định; nên về tố tụng Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành thấy đảm bảo đủ điều kiện và hợp pháp.

Về nội dung: Đề nghị Hội dồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng dân sự:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Châu Thành giải quyết yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa số 126 tờ bản đồ số 43 do hộ Lê Phước N đứng tên quyền sử dụng đất với thửa 248 tờ bản đồ số 43 do bà Nguyễn Thị Á đứng tên quyền sử dụng đất, các thửa đất tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp phải giải quyết là “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất” theo quy định tại Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; đối tượng tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và bị đơn cũng trú tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nên vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đặng Thị HUBND huyện C là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa nhưng có ý kiến yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà H và Đại diện của UBND huyện C.

[2]. Về nội dung tranh chấp, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào kết quả đo đạc ngày 06/12/2022 (B1 63-66), và tại buổi xem xét thẩm định tại chổ có mặt đầy đủ các đương sự, các chủ sử dụng đất liền kề với phần đất có tranh chấp đều công nhận diện tích đất thực tế, qua kết quả đo đạc thực tế thì các bên đương sự đều thống nhất (BL 115). Phần tranh chấp bao gồm một phần đất trống, một phần hàng rào của anh N và một phần nhà của bà Đặng Thị H. Tại các biên bản hòa giải và tại phiên tòa các bên đương sự trình bày nội dung trái ngược với nhau về nguồn gốc vị trí đất tranh chấp. Do đó, Tòa án căn cứ vào xem xét thẩm định tại chổ, kết quả đo đạc và hồ sơ, văn bản ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về đất đai để làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại Điều 101 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 23 Luật đất đai 2013.

Từ sơ đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 06/12/2022 (B1 62- 66) và trích lục hồ sơ cấp quyền sử dụng đất của thửa 126 và thửa 248 thì xác định được:

  • Thửa 126 tờ số 43 (cấp đổi từ thửa cũ là thửa 1325 và 1945 tờ bản đồ 5) qua đo đạc thực tế thì Hộ ông Lê Phước N đang trực tiếp sử dụng đất có tổng diện tích là 1.058,9 m² (chưa bao gồm diện tích tranh chấp). Diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1.024 m².
  • Thửa 248 tờ số 43 (cấp đổi từ thửa cũ là thửa số 135 tờ bản đồ 43), qua đo đạc thực tế thì bà Nguyễn Thị Á đang trực tiếp sử dụng đất có tổng diện tích là 1.416,7 m² (chưa bao gồm diện tích tranh chấp). Diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1.462,0 m².
  • Giữa thửa số 126 với thửa 248 nêu trên là vị trí đường đất, có kích thước ngang là 2m và có đoạn lớn hơn 2m.

[3] Xét về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Căn cứ vào lời khai của các bên đương sự tại phiên tòa thì phần diện tích đất tranh chấp trước đây là đường đất nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Xét về quy trình kê khai, đăng ký đất:

  • Căn cứ vào quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thửa 126, tờ số 43 tọa lạc tại xã T thì ngày 05/8/2004 Lê Phước N được cấp quyền sử dụng đất diện tích 6.863m² gồm các thửa: 1325, 1945, 1355 tờ số 5, trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ ông nội là Lê Văn N1. Đến năm 2015 ông Nguyễn c đơn đề nghị cấp đổi theo bản đồ địa chính chính quy, thông tin kê khai thửa 1325 + thửa 1945, tổng diện tích 1.072m² có thông tin mới thay đổi là thửa 126 diện tích 1.024m². Ngày 30/01/2015 đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp quyền sử dụng đất thửa 126 diện tích 1.024 m², mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn 300m², đất trồng cây lâu năm 724,0m². Nguồn gốc sử dụng: Công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất diện tích 300m², Công nhận quyền sử dụng đất như giao đất không thu tiền sử dụng đất diện tích 724,0m². Tại phiên tòa ông Nguyễn đại d cho Hộ Lê Phước N2 xác định không thắc mắc khiếu nại gì về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thửa 126, tờ số 43 nêu trên.
  • Căn cứ vào quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thửa 248 tờ số 43 tọa lạc tại xã T thì bà Nguyễn Thị Á đăng ký cấp đổi theo bản đồ địa chính chính quy từ thửa 135, thông tin kê khai diện tích mới là 1.908,2 m². Ngày 20/8/2020 bà Á tiếp tục tách thửa 135 thành thửa 248 và thửa 247, trong đó thửa 248 có diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1.462,0 m². Đối chiếu với diện tích đất đang trực tiếp sử dụng theo kết quả đo đạc ngày 06/12/2022 là 1.416,7 m² thì bà Á sử dụng thiếu 45,3m² so với diện tích cấp đổi. Tại phiên tòa bà Á cũng thống nhất về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thửa 248, tờ số 43 không thắc mắc khiếu nại gì.

Tại Công văn số: 225/UBND-NC ngày 16/01/2024 của Ủy ban nhân dânhuyện C cung cấp về thông tin về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 126 và thửa 248 tờ 43 thì UBND xác định theo hồ sơ địa chính đang quản lý thì giữa phần diện tích đất thửa số 126 tờ bản đồ số 43 với phần diện tích đất thửa số 248 tờ bản đồ số 43 có thể hiện đường đất. Vị trí kích thước đường thể hiện qua các mốc 1,2,3,6,1 theo sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ. Đến thời điểm hiện tại chưa giao cho cá nhân, tổ chức nào quản lý, sử dụng phần đường đất trên. Phần diện tích đất tranh chấp 59,7m² thể hiện qua các mốc 3,4,5,6,3 theo sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ không thuộc phần đường đất này. (B1 101)

[5] Xét về quá trình sử dụng thì:

  • Căn cứ vào lời khai của ông Nguyễn t phiên tòa thì ông xác định tại vị trí phần đất tranh chấp trước đây từ khoảng năm 1992 (khi ông Nguyễn 1 tuổi) thì có một đường đất có khoảng 04 hộ gia đình sử dụng, nhưng đến năm 2010 thì không còn ai sử dụng nữa do các hộ đổi hướng đi đến đường H mới và phần đường đất này được cấp thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông N2.
  • Tại phiên tòa bà Á xác định tại vị trí phần tranh chấp thì có một đường đất công cộng từ trước năm 1975 là một con đường cong, mọi người đều sử dụng chung. Sau này do các hộ gần đó có lối đi khác thuận tiện hơn nên ít sử dụng lối đi này.

Từ lời khai nhận của hai bên đương sự, có căn cứ để xác định giữa phần đất của bà Á (trước đây của ông T3) và phần đất hộ ông N2 (trước đây của ông N1) có một đường đất để các hộ dân sử dụng làm lối đi.

[6] Xét yêu cầu khởi kiện của ông N2 yêu cầu bà H phải di dời nhà và công trình kiến trúc trả lại diện tích 59,7m² thể hiện qua các mốc 3,4,5,6,3 theo sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ, Hội đồng xét xử, nhận thấy:

- Căn cứ vào giấy chứng nhận được quyền sử dụng đất đã cấp và theo sơ đồ địa chính do cơ quan quản lý đất đai thể hiện thửa 126 không tiếp giáp với thửa 248 mà phần nhà bà H đang sử dụng thuộc thửa 248. Mặc khác, diện tích thửa 126 được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 1.024 m², đối chiếu với diện tích đất đang trực tiếp sử dụng theo kết quả đo đạc ngày 06/12/2022 là 1.058,9 m² như vậy hộ ông Nguyễn đ sử dụng nhiều hơn 34,9m² so với diện tích được cấp. Giải thích cho sự việc này ông N2 cho rằng do ranh giới giữa đất gia đình ông và các hộ lân cận có thay đổi. Đồng thời ông cũng cho rằng trước đây khi cấp đổi theo lưới tọa độ đã đo đạc không chính xác nhưng thời điểm đó ông Nguyễn b đi học ở huyện không trực tiếp mà nhờ người khác nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sau khi nhận xong ông cũng cất vào tủ từ năm 2015 đến nay mà không để ý việc diện tích hay số thửa được cấp là bao nhiêu. Ông N2 trình bày năm 2015 thì phần đường đất đã được cấp cho Hộ gia đình ông nhưng ông N2 không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh. Hội đồng xét xử xét thấy, tại phiên tòa ông Nguyễn đ1 xác định không thắc mắc khiếu nại gì về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 126, tờ số 43 cho Hộ ông Lê Phước N2, đồng thời nội dung trình bày của ông Nguyễn n nêu trên cũng không có căn cứ pháp lý để chứng minh do đó yêu cầu của nguyên đơn là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về án phí: ông Nguyễn p1 nộp 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông N2 đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013485 ngày 04/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

[8] Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định và định giá, tổng số tiền là 6.886.000đồng (trong đó chi phí đo đạc 6.286.000đồng, chi phí định giá 600.000 đồng). Do yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn k được Tòa án chấp nhận nên căn cứ vào Điều 157, Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sự thì ông Nguyễn p1 chịu toàn bộ chi phí 6.886.000đồng (ông N2 đã nộp và đã chi xong).

[9] Đối với nhà, các vật kiến trúc, cây trồng gắn liền với quyền sử dụng đất thể hiện qua các mốc 3,4,5,6,3 theo sơ đồ đo đạc ngày 06/12/2022 của Chi nhánh Văn phòng Đ do phía bà H xây dựng, trồng thì do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận và bà H, bà Á không có yêu cầu gì nên bà H, bà Á có nghĩa vụ sử dụng đất đúng ranh thửa đất được cấp phù hợp với quy định của pháp luật.

Riêng đối với công trình kiến trúc như hàng rào, cây trồng thuộc phần đường đất do ông Nguyễn xây d1, trồng kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền xem xét.

[10] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 95,147, 157, 165, 175, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 23, 95, 166, 170 của Luật đất đai năm 2013 và Nghị quyết số 326/2014/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, Nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Phước N2 về việc xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa số 126 tờ bản đồ số 43 do hộ Lê Phước N2 đứng tên quyền sử dụng đất với thửa 248 tờ bản đồ số 43 do bà Nguyễn Thị Á đứng tên quyền sử dụng đất là đoạn nối từ mốc 4 đến mốc 5; Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Phước N2 về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Á cùng bà Đặng Thị H di dời toàn bộ nhà, công trình kiến trúc, cây trồng giao trả lại cho Hộ ông Lê Phước Nguyễn p đất giới hạn bởi các mốc 3 – 4 – 5 – 6 – 3. Các mốc giới được thể hiện theo sơ đồ đo đạc tranh chấp ngày 06/12/2022 của Chi nhánh VPĐK đất đai huyện C.

2. Về án dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn p1 nộp 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông N2 đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0013485 ngày 04/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

3. Về Chi phí đo đạc, xem xét thẩm định và định giá, tổng số tiền là 6.886.000đồng (trong đó chi phí đo đạc 6.286.000đồng, chi phí định giá 600.000 đồng). Do yêu cầu khởi kiện của ông Lê Phước N2 không được Tòa án chấp nhận nên ông Nguyễn p1 chịu toàn bộ chi phí 6.886.000đồng (ông N2 đã nộp và đã chi xong).

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các đương sự được quyền kháng cáo Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân H. Châu Thành(1);
  • - Chi cục Thi hành án DS. H Châu Thành(1);
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ VADS(1);
  • - Lưu Văn thư (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh P

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/DS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 27/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP RANH GIỚI QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger