TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HS-ST
Ngày: 12/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Khánh
- Các Hội thẩm nhân dân: +. Ông Nguyễn Xuân Hoàng
+. Bà Nguyễn Thị Việt Nga
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Phùng Tiến Chương – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST – HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 08 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Văn T, sinh ngày 04/02/1982. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam
Nơi sinh: Xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.
Nơi cư trú: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp trước khi bị bắt: Máy phó tàu biển. Trình độ học vấn: 05/12. Con ông: Trần Văn K (đã chết) và bà Trần Thị S, sinh năm 1946. Anh, chị, em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ 03. Vợ, con: Chưa có.
Tiền sự, tiền án: Không.
Nhân thân: Ngày 05/6/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 40/2013/ST ngày 05/6/2013.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ” “tạm giam” từ ngày 28/5/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thị xã C. Có mặt.
2. Trần Văn T1, sinh ngày 08/3/1987. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.
Nơi sinh: Xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.
Nơi cư trú: Xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp trước khi bị bắt: Thuyền viên tàu biển. Trình độ học vấn: 09/12. Con ông: Trần Văn P, sinh năm 1961 và bà Phạm Thị H (đã chết). Anh, chị, em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ 3. Vợ: Trần Thị H1, sinh năm 1994 (đã ly hôn). Con: Có 02 người; lớn nhất 12 tuổi, nhỏ nhất 08 tuổi.
Tiền sự, tiền án, nhân thân: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giữ” “tạm giam” từ ngày 28/5/2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thị xã C. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 28/5/2024, tại khu vực cổng Cảng C, thuộc khối B phường N, thị xã C, Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 2 - Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phát hiện bắt quả tang Trần Văn T và Trần Văn T1 đang có hành vi tàng trữ 0,75g (Không phẩy bảy mươi lăm gam) ma túy (Heroine) với mục đích để sử dụng.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội như sau: Bị cáo Trần Văn T và Trần Văn T1 làm việc trên tàu Hoàng Huy 16. Khoảng 13 giờ ngày 28/5/2024, sau khi tàu Hoàng Huy 16 cập cảng V thuộc xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An, Trần Văn T dùng điện thoại di động Iphone 7 màu vàng đồng có sim số 0388724245 liên lạc với số điện thoại 0339.678.xxx của một người đàn ông không rõ lai lịch hỏi mua 1.000.000đồng ma túy (Heroine) để sử dụng. Người này đồng ý và hẹn T đến khu vực Cảng C thuộc phường N, thị xã C để lấy ma túy. T rủ thêm Trần Văn T1 góp tiền mua ma túy để cùng sử dụng thì T1 đồng ý và góp 500.000 đồng. Sau đó T và T1 thuê xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh đen, biển số 37S1-12258 của ông Trần Văn K, sinh năm 1970, trú tại khối H, phường N, thị xã C là bảo vệ của cảng V đi đến điểm hẹn để mua ma túy. Khi đến khu vực cảng C, T1 dừng xe chờ còn T đi bộ vào phía trong khu vực cảng gặp người bán ma tuý. T đưa cho người đàn ông mình đã liên lạc số tiền 1.000.000 đồng, người đàn ông đưa cho T 01 (một) vỏ bao thuốc lá T, bên trong chứa ma túy. Tuyền dấu ma túy vào túi quần của mình rồi cùng T1 đi về. Vào lúc 14 giờ 45 phút cùng ngày, khi Trần Văn T và Trần Văn T1 đi đến khu vực cổng Cảng C, thuộc khối B phường N, thị xã C thì bị Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 2, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong túi quần phía trước, bên phải của Trần Văn T 01 (một) vỏ bao thuốc lá T, bên trong có chứa 01 (một) gói giấy màu vàng chứa các chất cục bột màu trắng và 01 (một) điện thoại di động. T và T1 khai nhận là ma túy các đối tượng góp tiền mua với mục đích sử dụng.
Ngày 31/5/2024, Phòng K1 Công an tỉnh N có Kết luận giám định số 578/KL-KTHS(Đ2-MT) kết luận: Mẫu các cục chất bột màu trắng thu giữ của Trần Văn T và Trần Văn T1 gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng là 0,75g (không phẩy bảy mươi lăm gam).
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- - 01 (một) phong bì được niêm phong theo quy định. Bên trong có 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 (một) vỏ giấy màu vàng và 01 (một) túi ni lông đựng số chất cục bột màu trắng có khối lượng còn lại là 0,325 gam khi lấy mẫu giám định.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, màu vàng đồng (đã qua sử dụng), có số I: 359186070835552 kèm sim điện thoại có số thuê bao 0388724245.
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh đen, biển số 37S1-12258, số máy JA39E-2220440, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên của ông Trần Văn K, sinh năm 1970, trú tại khối H, phường N, thị xã C. Ông K không biết T và T1 thuê xe của mình để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả chiếc xe máy trên cho chủ sở hữu.
Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKS- CL ngày 22/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Trần Văn T và Trần Văn T1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù; Xử phạt bị cáo Trần Văn T1 từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù.
Về vật chứng:
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) phong bì được niêm phong theo quy định. Bên trong có 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 (Một) vỏ giấy màu vàng và 01 (Một) túi ni long đựng số chất cục bột màu trắng (Heroine) có khối lượng 0,325 gam.
- - Tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 (Một) điện thoại Iphone 7, màu vàng đồng (Đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong) có số IMEI: 359186070835552 kèm sim điện thoại có số thuê bao 0388724245 (Không kiểm tra số sim) thu giữa của Trần Văn T.
Tại phiên tòa, các bị cáo nhận tội, đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tính hợp pháp của hành vi tố tụng và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và được Hội đồng xét xử sử dụng làm chứng cứ để giải quyết vụ án.
[2]. Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác, đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 14 giờ 45 phút ngày 28/5/2024, tại khu vực cổng Cảng C, thuộc khối B phường N, thị xã C, Đoàn đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy số 2 - Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phát hiện bắt quả tang Trần Văn T và Trần Văn T1 đang có hành vi tàng trữ 0,75g (không phẩy bảy mươi lăm gam) ma túy (Heroine) với mục đích để sử dụng.
Hành vi tàng trữ bất hợp pháp chất ma túy của bị cáo Trần Văn T, Trần Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự. Khối lượng chất ma túy các bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng là 0,75 gam nên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cửa Lò truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án, vai trò, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo T là người khởi xướng rủ bị cáo T1 góp tiền mua ma túy với mục đích để sử dụng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tội phạm ma túy gây tác hại nghiêm trọng đến trật tự an ninh xã hội, gây suy thoái giống nòi, phá hoại hạnh phúc và kinh tế gia đình; xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện, các bị cáo đều nhận thức được điều đó nhưng vì ham chơi, sa đà vào tệ nạn nên vẫn bất chấp vi phạm pháp luật. Bị cáo Trần Văn T nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội. Bị cáo Trần Văn T1 nhân thân tốt, đã ly hôn vợ và đang trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục hai con còn nhỏ nhưng do thiếu rèn luyện, tu dưỡng, sa đà vào nghiện ma túy dẫn đến phạm tội. Vì vậy, cần áp dụng mức án nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo phần nào hình phạt để thể hiện sự nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, tạo động lực cho bị cáo cải tạo tốt sớm trở về làm người công dân có ích cho gia đình, xã hội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề xuất đối với các bị có có phần quá nghiêm khắc. Đánh giá toàn diện vụ án, căn cứ vào nguyên tắc xử lý người phạm tội quy định tại d khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự và mục đích của hình phạt cần xử phạt từ 18 tháng tù đến 21 tháng tù đối với bị cáo Trần Văn T và 12 tháng tù đến 15 tháng tù đối với bị cáo Trần Văn T1 là phù hợp, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền. Tuy nhiên các bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị, là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng:
Đối với Số ma túy thu giữ của các bị cáo còn lại sau khi giám định không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với điện thoại Iphone 7, màu vàng đồng có số IMEI: 359186070835552 kèm sim điện thoại có số thuê bao 0388724245 thu giữa của Trần Văn T – là điện thoại dùng để liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu, sung quỹ nhà nước.
Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh đen, biển số 37S1-12258, số máy JA39E-2220440, xe đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên của ông Trần Văn K, sinh năm 1970, trú tại khối H, phường N, thị xã C. Ông K không biết T và T1 thuê xe của mình để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả chiếc xe máy trên cho ông Trần Văn K và không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Trần Văn K là đúng quy định.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Trần Văn T. Tuyền xin số điện thoại của người này qua một người từng làm cùng tàu với mình và không biết lai lịch cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã xác minh nhưng chưa có kết quả nên chưa có căn cứ để xử lý.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Xử phạt:
- - Bị cáo Trần Văn T 01 (Một) năm 06 (S1) tháng tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 28/5/2024)
- - Bị cáo Trần Văn T1 01 (Một) năm tù về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 28/5/2024)
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn T, Trần Văn T1.
- Xử lý vật chứng:
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) phong bì được niêm phong theo quy định. Bên trong có 01 (một) vỏ bao thuốc lá Thăng Long, 01 (Một) vỏ giấy màu vàng và 01 (Một) túi ni long đựng số chất cục bột màu trắng (Heroine) có khối lượng 0,325 gam.
- - Tịch thu, sung quỹ nhà nước 01 (Một) điện thoại Iphone 7, màu vàng đồng (Đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong) có số IMEI: 359186070835552 kèm sim điện thoại có số thuê bao 0388724245 (Không kiểm tra số sim) thu giữa của Trần Văn T.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã C và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Cửa Lò)
- Về án phí: Buộc các bị cáo Trần Văn T, Trần Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Khánh |
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CỬA LÒ, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạm tội
