Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN NAM

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 27/2024/DS-ST

Ngày: 12-9-2024

V/v "Tranh chấp hợp đồng

tín dụng".

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Khánh Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Liên và bà Phan Thị Hải Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Tài Thị Cao Sâm - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2024/TLST-DS ngày 26 tháng 3 năm 2024 về việc "Tranh chấp hợp đồng tín dụng "theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N2 (gọi tắt Ngân hàng V)

Địa chỉ: Số A T, phường L, quận H, Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D, chức vụ: Chủ tịch HĐQT.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Thành T – Giám đốc Ngân hàng TMCP N2 – CN tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Bá T1 – Trưởng phòng PGD Ninh Phước hoặc ông Nguyễn Ngọc Hoài N – Phó Trưởng phòng P – CN Ninh Thuận (ông N có mặt).

Bị đơn: Ông Phan Tấn H, sinh năm 1983, bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1984,

địa chỉ: Thôn Q, xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 26/3/2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Ngọc Hoài N trình bày: Trên cơ sở phương án sử dụng vốn vay giữa của ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1, giữa Ngân hàng V với ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1 đã ký kết các hợp đồng cho vay số 047/22CD/NP ngày 28/02/2022 và hợp đồng sửa đổi bổ sung số 047/22CD/NP/BS01 ngày 12/4/2023, theo các hợp đồng trên thì Ngân hàng V1 đã cho ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1 vay số tiền 1.000.000.000₫ (một tỷ đồng), mục đích vay tiêu dùng, thời hạn vay 120 tháng. Đến ngày 14/3/2023 trên cơ sở hợp đồng vay số 077.140323/NP/HM, hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 077.140323/NP/HM/BS01 ngày 23/3/2023 và hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 077.140323/NP/HM/BS02 ngày 12/4/2023 được ký kết giữa ông Phan Tấn H và bà Nguyễn Thị N1, ngân hàng V đã giải ngân cho ông H, bà N1 tiếp tục vay số tiền 4.000.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn kinh doanh bán sắt thép, phế liệu, công trình và vật liệu xây dựng, thời hạn duy trì hạn mức cho vay là 12 tháng. Thời hạn cho vay của mỗi khoản nợ tối đa là 05 tháng.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, giữa Ngân hàng V với ông H, bà N1 đã ký kết các hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 031/2022/VCB.NTH/NP ngày 28/02/2022, công chứng ngày 01/3/2022 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 123/2023/VCB.NTH/NP ngày 12/4/2023, công chứng ngày 13/4/2023, tài sản thế chấp cho Ngân hàng V gồm:

  • + Quyền sử dụng thửa đất số 214 tờ bản đồ số 08 xã P, huyện T theo giấy chứng nhận QSD đất số phát hành CS 353822 ngày 24/7/2019;
  • + Quyền sử dụng thửa đất số 392 tờ bản đồ số 16 xã P, huyện T theo giấy chứng nhận QSD đất số phát hành CT 438580 ngày 13/11/2019;
  • + Quyền sử dụng thửa đất số 1271 tờ bản đồ số 28d xã P, huyện T theo giấy chứng nhận QSD đất số phát hành DD 940922 ngày 01/3/2022. Quá trình vay vốn, ông Phan Tấn H và bà Nguyễn Thị N1 không thanh toán đầy đủ, đúng hạn nợ gốc, lãi tiền vay, lãi phạt theo thỏa thuận.

Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng V1 yều cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây đới với ông H, bà N1:

  • + Buộc ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1 phải thanh toán cho Ngân hàng V số tiền nợ tính đến ngày ngày xét xử sơ thẩm với tổng cộng là 4.757.693.617 đồng (bốn tỷ, bảy trăm năm mươi bảy triệu, sáu trăm chín mươi ba nghìn, sáu trăm mười bảy đồng). Trong đó nợ gốc là 4.392.596.155 đồng; tiền lãi là 269.309.617 đồng và lãi phạt là 95.787.845 đồng.
  • + Yêu cầu ông H, bà N1 tiếp tục trả số tiền nợ lãi, lãi phạt tiếp tục phát sinh kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm.
  • + Yêu cầu Tòa án tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 031/2022/VCB.NTH/NP ngày 28/02/2022, công chứng ngày 01/3/2022 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 123/2023/VCB.NTH/NP ngày 12/4/2023, công chứng ngày 13/4/2023 được ký kết giữ Ngân hàng V với ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1 để đảm bảo thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định pháp luật.

Bị đơn ông Phan Tấn H trình bày:

Thống nhất với nội dung trình bày cũng như yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Trong quá trình còn chung sống với nhau, ông với bà N1 đã cùng nhau vay số tiền trên từ ngân hàng V, có thế chấp tài sản là các quyền sử dụng đất tại thôn Q, xã P và thôn L, xã P. Nay ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông với bà N1 trả cho ngân hàng số tiền nợ tính đến ngày 12/9/2024 tổng cộng cả gốc và lãi tổng cộng là 4.757.693.617 đồng (bốn tỷ, bảy trăm năm mươi bảy triệu, sáu trăm chín mươi ba nghìn, sáu trăm mười bảy đồng), đồng thời yêu cầu duy trì các hợp đồng thế chấp quyền sử dung đất số 031/2022/VCB.NTH/NP ngày 28/02/2022, công chứng ngày 01/3/2022 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 123/2023/VCB.NTH/NP ngày 12/4/2023, công chứng ngày 13/4/2023 được ký kết giữ Ngân hàng V với ông và bà Nguyễn Thị N1 để đảm bảo thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định pháp luật. Ông đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Tuy nhiên do bà N1 không đồng ý phối hợp trong việc trả nợ cho Ngân hàng V, vì vậy ông yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị đơn bà Nguyễn Thị N1 trình bày:

Bà đồng ý với nội dung trình bày của đại diện Ngân hàng V về các khoản vay, mục đích vay, số tiền vay cũng như tài sản thế chấp cho Ngân hàng. Bà xác nhận đây là khoàn nợ chung của bà và ông Phan Tấn H trong thời kỳ hôn nhân, tuy nhiên, sau khi ly hôn thì giữa bà và ông H đã thỏa thuận với nhau ông H có trách nhiệm trả toàn bộ số tiền còn nợ cho ngân hàng V nên bà không có trách nhiệm trả, bà đồng ý phối hợp với ông H cùng với Ngân hàng để xử lý tài sản thế chấp trả nợ cho Ngân hàng. Tại phiên tòa bà có nộp kèm theo văn bản thỏa thuận về việc phân chia tài sản chung, nợ chung lập ngày 25/9/2023 (bản phô tô).

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng;

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi của nguyên đơn Ngân hàng V, buộc ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1 phải trả cho cho Ngân hàng TMCP N2 số tiền gốc, lãi, lãi phạt tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/9/2024) là 4.757.693.617 đồng. Trong đó nợ gốc là 4.392.596.155 đồng; tiền lãi là 269.309.617 đồng và lãi phạt là 95.787.845 đồng; Tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 031/2022/VCB.NTH/NP ngày 28/02/2022, công chứng ngày 01/3/2022 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 123/2023/VCB.NTH/NP ngày 12/4/2023, công chứng ngày 13/4/2023 được ký kết giữa Ngân hàng V với ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1 để đảm bảo thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP N2 khởi kiện yêu cầu ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1 phải trả số tiền nợ gốc và tiền lãi cho Ngân hàng V, đồng thời yêu cầu duy trì hợp đồng thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ của ông H, bà N1. Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1 có nơi cư trú tại thôn Q, xã P, huyện T. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

[2]. Về nội dung vụ án: Ngày 28/02/2022 giữa Ngân hàng V với ông H, bà N1 có ký hợp đồng tín dụng số 047/22CD/NP và hợp đồng sửa đổi bổ sung số 047/22CD/NP/BS01 ngày 12/4/2023 để vay số tiền 1.000.000.000₫ (một tỷ đồng); tiếp đó, giữa Ngân hàng V với ông H, bà N1 tiếp tục ký kết các hợp đồng vay số 077.140323/NP/HM ngày 14/3/2023, hợp đồng sửa đổi, bổ sung số 077.140323/NP/HM/BS01 ngày 23/3/2023, số 077.140323/NP/HM/BS02 ngày 12/4/2023 để vay số tiền 4.000.000.000₫ (bốn tỷ đồng), Ngân hàng đã giải ngân và ông H, bà N1 đã nhận toàn bộ số tiền giải ngân thực tế. Hợp đồng được ký kết trên cơ sở thoả thuận tự nguyện của các bên, không bị lừa dối. Hình thức và nội dung của hợp đồng tuân thủ đúng quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên được chấp nhận.

[2.1]. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V đối với ông H, bà N1: Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của Ngân hàng V và ông H, bà N1 xác nhận hai bên có ký kết các hợp đồng tín dụng vay để vay tiền nêu trên. Căn cứ Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đây là tình tiết có thật, các bên không cần phải chứng minh.

Tại phiên tòa đại diện Ngân hàng V yêu cầu ông H, bà N1 phải trả cho Ngân hàng toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 12/9/2024) là 4.757.693.617 đồng, trong đó nợ gốc là 4.392.596.155 đồng, nợ lãi là 269.309.617 và lãi phạt là 95.787.845. Xét thấy, giữa Ngân hàng V và ông H, bà N1 xác nhận có vay, còn nợ của Ngân hàng số tiền trên. Tại phiên tòa ông Hiệp đồng ý với yêu cầu của Ngân hàng, còn bà N1 không đồng ý cùng có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ trên vì bà cho rằng giữa bà với ông H đã thỏa thuận ông H sẽ có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ trên cho Ngân hàng V. Xét thấy, việc thỏa thuận phân chia tài sản chung, nợ chung của ông H, bà N1 chưa hoàn tất về mặt thủ tục nên chưa có giá trị pháp lý, tại phiên tòa ông H không đồng ý với thỏa thuận trên và yêu cầu Tòa án buộc bà N1 cùng có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng V là có căn cứ, vì vậy Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn.

[2.2] Đối với yêu cầu của Ngân hàng về việc yêu cầu vợ chồng ông H, bà N1 tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số tiền nợ gốc kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm theo mức lãi suất mà các bên đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Xét thấy, tại Án lệ số 08/2016/AL của Toà án nhân dân tối cao về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong hợp đồng tín dụng, nội dụng tại Án lệ quy định “..., khách hàng vay phãi tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng, tổ chức tín dụng khoản tiền nợ gốc chưa thanh toán, tiền lãi trên nợ gốc trong hạn (nếu có), lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh mức lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay...". Như vậy, yêu cầu của Ngân hàng V về việc buộc ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh đối với số tiền dư nợ gốc kể từ ngày 13/9/2024 là có căn cứ nên chấp nhận.

[2.3] Xét yêu cầu của Ngân hàng về việc tiếp tục duy trì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 031/2022/VCB.NTH/NP ngày 28/02/2022, công chứng ngày 01/3/2022 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 123/2023/VCB.NTH/NP ngày 12/4/2023, công chứng ngày 13/4/2023 được ký kết giữ Ngân hàng V với ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1 để đảm bảo thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định pháp luật. Xét thấy, các hợp đồng thế chấp trên được ký kết đúng theo trình tự thủ tục, đúng đối tượng, không vi phạm pháp luật, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với nội dung thoả thuận của các bên để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ của đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N2. Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án.

[3]. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Tổng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng. Căn cứ Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận nên ông H, bà N1 phải chịu chi phí xem xét, thẩm định là 3.000.000 đồng. Số tiền này do Ngân hàng đã nộp tạm ứng trước nên buộc ông ông H, bà N1 phải hoàn trả cho Ngân hàng.

[4]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc ông H, bà N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.757.694₫ (một trăm mười hai triệu, bảy trăm năm mươi bảy nghìn, sáu trăm chín mươi bốn đồng), cách tính là: 112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản tranh chấp vượt 4.000.000.000 đồng = 112.000.000 đồng + 0,1% (757.693.617 đồng). Ngân hàng V không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nên được hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 58.466.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 317, 318, 320, 323, 463, 466, 470 của Bộ luật dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Án lệ số 08/2016/AL; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

- Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N2 đối với bị đơn ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1.

  1. Buộc ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1 phải liên đới trả cho Ngân hàng TMCP N2 số tiền dư nợ gốc, nợ lãi tính đến ngày 12/9/2024 tổng cộng là 4.757.693.617₫ (bốn tỷ, bảy trăm năm mươi bảy triệu, sáu trăm chín mươi ba nghìn, sáu trăm mười bảy đồng), trong đó: nợ gốc là 4.392.596.155 đồng; nợ lãi là 269.309.617 và lãi phạt là 95.787.845

    Kể từ ngày 13/9/2024 ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này (Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà khách hàng vay phải thanh toán cho ngân hàng vay theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay).

  2. Tiếp tục duy trì Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 031/2022/VCB.NTH/NP ngày 28/02/2022, công chứng ngày 01/3/2022 và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 123/2023/VCB.NTH/NP ngày 12/4/2023, công chứng ngày 13/4/2023 được ký kết giữa Ngân hàng V với ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1 để đảm bảo thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định pháp luật.
  3. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1 phải hoàn trả cho Ngân hàng V 3.000.000₫ (ba triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
  4. Về án phí: Ông Phan Tấn H, bà Nguyễn Thị N1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 112.757.694đ (một trăm mười hai triệu, bảy trăm năm mươi bảy nghìn, sáu trăm chín mươi bốn đồng). Ngân hàng TMCP N2 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ngân hàng E (năm mươi tám triệu, bốn trăm sáu mươi sáu nghìn đồng) số tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0002315 ngày 25/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thuận Nam (do Phạm Như Q nộp).

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa, được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Thuận Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Thuận Nam;
  • - Các đương sự,
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Khánh Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/DS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 27/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 27 về Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger