Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NHƯ XUÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày 12/09/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Sơn

Bà Lê Thị Bảy

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quang Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Ngoạn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 09 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Xuân và điểm cầu thành phần nhà tạm giữ Công an huyện N, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/TLST- HS ngày 02 tháng 08 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 08 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Đình C; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10/08/1984 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn H, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Nông dân; Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Đình T và bà Lê Thị B. Họ và tên vợ: Trần Thị B1; Bị cáo có hai con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/02/2024, chuyển tạm giam từ ngày 23/02/2024 cho đến nay tại nhà tạm giữ công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

* Người làm chứng:

Anh: Lê Xuân L – Sinh năm 1979.

Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa;

Tại phiên tòa người làm chứng anh Lê Xuân L vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 21/02/2024 tại khu vực đồi keo thuộc Làng G, xã B, huyện N, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện N tuần tra phát hiện đối tượng Lê Xuân L, sinh năm 1979 ở khu phố A, thị trấn Y, huyện N có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính, thu giữ 01 mẫu giấy bạc đã bị đốt cháy một phần, 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ ô ly, 01 túi ni lông màu đen và 01 bật lửa gas màu đỏ. Xác minh ban đầu L khai những đồ vật trên là dụng cụ của L dùng để hít ma túy loại Heroine; nguồn gốc H vừa sử dụng hết là do L mua được của Lê Đình C với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, L đưa đến khu vực đồi keo, thuộc Làng G, xã B để sử dụng, khi vừa sử dụng xong thì bị Công an phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N tiến hành xác minh, truy nguồn gốc ma túy, triệu tập các đối tượng liên quan đến cơ quan điều tra để xác minh làm rõ. Đến 16 giờ 00 phút ngày 21/02/2024 Lê Đình C, sinh năm 1984 ở thôn H, xã B, huyện N đã tự nguyện xin đầu thú khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 21/02/2024, Lê Xuân L gọi điện thoại từ số thuê bao 0858 800 661 đến số thuê bao 0349 400 862 của Lê Đình C hỏi mua 500.000 đồng ma túy loại Heroine. C đồng ý và hẹn gặp nhau tại khu vực dốc Bơn để giao nhận ma túy, sau đó C cầm theo 01 gói ma túy ra đến quán tạp hóa của gia đình chị Lê Thị T1 ngồi chờ (trong quán không có người). Đến khoảng 10 giờ cùng ngày L đến thì gặp C đang ngồi trong quán, tại đây L đưa cho C 500.000 đồng, C lấy trong mũ đang đội trên đầu ra đưa cho L 01 túi Nilon màu đen, bên trong là ma túy loại Heroine được gói trong mảnh giấy trắng có dòng kẻ ô ly. Tại Cơ quan điều tra C đã tự nguyện giao nộp số tiền 500.000 đồng là tiền do C bán ma túy cho Lê Xuân L mà có.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Đình C tại thôn H, xã B, huyện N, Cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ 13 gói nhỏ bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn. Công khai nhận là ma túy loại Heroin, bị cáo tàng trữ nhằm mục đích để vừa sử dụng và bán để kiếm lời.

Tại Cơ quan điều tra Lê Đình C còn khai báo về số ma túy loại Heroine bán cho Lê Xuân L và 13 gói ma túy loại Heroine Cơ quan điều tra khám xét phát hiện thu giữ có nguồn gốc như sau: Chiều ngày 19/02/2024 C đi xe mô tô một mình đến gặp Bùi Khắc T2 ở huyện N để hỏi mua ma túy, khi gặp nhau T2 hẹn C đến khu vực nhà ông Hải Đ ở Ngư Thôn Đ, xã T, huyện N chờ T để trao đổi mua bán ma túy. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày Công đi đến khoảng sân trước nhà ông Hải Đ thì gặp T2, tại đây C đưa cho T2 1.500.000 đồng, T2 giao cho C 01 gói ma túy loại Heroine. Mua được ma túy đưa về nhà, C chia số Heroine ra thành 16 gói nhỏ, C đã sử dụng hết 02 gói, 01 gói bán cho Lê Xuân L, còn 13 gói bị Cơ quan điều tra phát hiện thu giữ.

Đối tượng Nguyễn Thế A khai tại cơ quan điều tra: Ngày 21/02/2024 được C giới thiệu và cho số điện thoại, nên A đã gọi điện thoại cho T2 hỏi mua 500.000 đồng ma túy, T2 đồng ý và yêu câu Anh chuyển tiền vào tài khoản của T2, đến chiều cùng ngày A đi cùng người tên T3 (chưa xác định cụ thế) đến gặp T2 thì T2 đưa cho 01 gói ma túy, trên đường trở về A và T3 đã sử dụng hết.

Ngoài ra các đối tượng Hà Văn C1, Hà Văn D, cùng ở thôn L, xã B còn khai báo: Đêm 19/02/2024 các đối tượng này được T2 cho sử dụng ma túy tại thôn M, xã B, đến chiều 21/02/2024 T2 gọi điện thoại rủ C1 xuống chơi, C1 lấy xe mô tô của mẹ chở D đến xã T, huyện N, khi gặp nhau T2 bảo đến nhà ông Hải Đ, ở thôn Đ, xã T, huyện N, tại đây đã có sẵn 01 lọ nhựa, 01 to tiền giấy, bật lửa và giấy bạc. T2 đưa ra 02 viên hồng phiến rồi cả ba người cùng nhau sử dụng hết.

Căn cứ lời khai của Lê Đình C và các đối tượng liên quan, Cơ quan điều tra Công an huyện N đã tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở, phương tiện của Bùi Khắc T2, ở Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Kết quả khám xét không phát hiện được vật chứng, tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án. Áp dụng các biện pháp điều tra tuy nhiên tại Cơ quan điều tra Bùi Khắc T2 không thừa nhận đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy đối với Lê Đình C, Nguyễn Thế A và hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện nay Bùi Khắc T2 không có mặt tại địa phương, tiến hành tra cứu thông tin trên cơ sở dữ liệu quốc gia không có thông tin phản ánh về nơi tạm trú, lưu trú của đối tượng.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng

  • - Thu giữ của Lê Đình C gồm: 13 gói nhỏ bên trong có chứa chất bột màu trắng ngà, 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo, gắn sim 0349400862; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, màu trắng bạc, biển kiểm soát 36K3-182.94, 01 đăng ký xe mang tên Lê Đình C, cấp ngày 12/9/2023 và số tiền 500.000 đồng.
  • - Thu giữ của Lê Xuân L gồm: 01 mẫu giấy bạc đã bị đốt cháy một phần, 01 mảnh giấy trắng có dòng kẻ ô ly, 01 bật lửa gas màu đỏ và 01 mảnh ni lông màu đen.
  • - Hà Văn C1 giao nộp: 01 chai nhựa, 01 tờ tiền giấy mệnh giá 1.000 đồng và 03 mảnh giấy bạc đã bị vò nát không rõ hình.

Kết luận giám định số 694/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chât bột và cục bột màu trắng ngà thu giữ của Lê Đình C là ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng là 0,756 gam.

Kết luận giám định số 828/KL-KTHS ngày 01/03/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng thu giữ của Lê Đình C là tiền thật.

Kết luận giám định số 712/KL - KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại Heroin trên mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy một phần và trên mảnh giấy trắng có dòng kẻ ô ly thu giữ của Lê Xuân L nhưng không xác định được khối lượng chất ma túy.

Kết luận giám định số 707/KL - KTHS ngày 26/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine trong chất lỏng đựng bên trong chai nhựa niêm phong gửi giám định; Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine bám dính trên tờ tiền 1.000 đồng và trên 03 mảnh giấy bạc đã bị vò nát niêm phong gửi giám định.

Bản cáo trạng số: 29/CT-VKSNX ngày 02/08/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố Lê Đình C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Đình C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Lê Đình C đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Lê Đình C với mức án từ 26 (Hai mươi sáu) đến 32 (Ba mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 21/02/2024.

Về vật chứng và các biện pháp tư pháp:

* Đề nghị Tịch thu, tiêu hủy:

  • - Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,705 gam chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn. Tất cả được đựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ và tên Lê Minh T4, Lưu Bình N, Lê Duy T5 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Bên ngoài phong bì ghi dòng chữ “CA Như Xuân TC138 ngày 22/02/2024”, bên trong phong bì là ma tuý, vật chứng còn lại sau giám định.
  • - Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 01 bật lửa ga mầu đỏ, 01 mẩu giấy bạc đã bị đốt cháy một phần, một mảnh giấy trắng có dòng kẻ ô ly, 01 mảnh ni lông mầu đen. Tất cả được dựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Lê Minh T4, Lưu Bình N, Lê Duy T5 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
  • - 01 thẻ sim số 0349 400 862.

* Đề nghị bán đấu giá sung công:

  • - 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, màu sơn: Trắng – Bạc, số máy JA39E3171611; số khung RLHJA3924PY534136, biển kiểm soát 36K3-182.94 kèm 01 đăng ký xe mang tên Lê Đình C, cấp ngày 12/09/2023.

* Đề nghị tịch thu sung công:

  • - 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, có số seri là TE 17138791. Được đựng trong phong bì ghi M2.

Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo thống nhất và không tranh luận gì.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Lê Đình C xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lê Đình C là đối tượng nghiện ma túy, xuất phát từ động cơ vụ lợi thu lời bất chính và nhu cầu sử dụng ma túy của bản thân nên C đã sử dụng số tiền 1.500.000 đồng mua 01 gói ma túy loại Heroine đưa về nhà, chia ra thành 16 gói nhỏ tàng trữ để sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 21/02/2023 Lê Xuân L gọi điện thoại cho C hỏi mua 500.000 đồng ma túy, C đồng ý hẹn Lam khoảng 10 giờ đến khu vực dốc Bơn để lấy ma túy. Sau đó C cầm theo 01 gói ma túy ra quán tạp hóa của gia đình chị Lê Thị T1 ở khu vực dốc B, thuộc thôn H, xã B ngồi chờ (trong quán không có người) một lúc sau L đến gặp C, hai người nói chuyện một lúc thì L đưa cho C 500.000 đồng, C lấy từ trong mũ đang đội trên đầu ra 01 gói ma túy loại Heroine đưa cho L rồi ai về nhà người đó.

Tại bản Kết luận giám định số 694/KL-KTHS ngày 23/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột và cục bột màu trắng ngà thu giữ của Lê Đình C là

ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng là 0,756 gam. Lời khai nhận tội của bị cáo C tại phiên tòa phù hợp với nội dung của bản Cáo trạng, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Bị cáo Lê Đình C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là trái pháp luật, trái đạo đức xã hội, xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý độc quyền các chất ma túy, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi mua ma túy loại Hê rô in với mục đích để sử dụng và bán thu lời bất chính. Bị cáo C đã bán cho Lê Xuân L 01 lần ma tuý thu lời bất chính số tiền 500.000 đồng, tổng khối lượng ma túy đã thu giữ được của bị cáo C là 0,756 gam, loại Hê Rô in. Vì vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Quan điểm truy tố của viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi và hậu quả: Đây là vụ án hình sự “Mua bán trái phép chất ma túy” có tính chất nghiêm trọng do đối tượng nghiện ma túy Lê Đình C thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi hành vi đó đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội. Tệ nạn nghiện hút ma túy là một trong những nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh các loại tệ nạn và tội phạm nguy hiểm khác, làm suy kiệt kinh tế và tác động ảnh hưởng thế hệ thanh thiếu niên, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức rõ tác hại của tệ nạn ma túy và việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân và thu lời bất chính bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần có đường lối xử lý nghiêm đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết.

[5] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo: Lê Đình C có nhân thân tốt; Tiền án, tiền sự: Không

Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải, khi hành vi phạm tội bị phát hiện bị cáo đã đầu thú. Do vậy bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về hình phạt: Do bị cáo C có tình tiết giảm nhẹ Trách nhiệm hình sự như đã nêu trên, nên khi quyết định hình phạt cần xem xét lên cho bị cáo một mức hình phạt nhất định phù hợp để đủ sức răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, nhưng

đồng thời cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân tốt.

- Về hình phạt bổ sung: Hành vi của bị cáo là nhằm mục đích thu lời bất chính nhưng bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[7] Về vật chứng và các biện pháp tư pháp:

  • - Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,705 gam chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn. Tất cả được dựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đ1, Lưu Bình N, Lê Duy T5 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. (Vật chứng còn lại sau giám định). Là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 thẻ sim số 0349 400 862. Là công cụ phương tiện bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 01 bật lửa ga mầu đỏ, 01 mẩu giấy bạc đã bị đốt cháy một phần, một mảnh giấy trắng có dòng kẻ ô ly, 01 mảnh ni long mầu đen. Tất cả được dựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Lê Minh T4, Lưu Bình N, Lê Duy T5 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. Là công cụ phương tiện thu của Lê Xuân L không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, màu sơn: Trắng – Bạc; số máy JA39E3171611; số khung RLHJA3924PY534136, biển kiểm soát 36K3-182.94; 01 đăng ký xe mang tên Lê Đình C, cấp ngày 12/9/2023. Là công cụ phương tiện bị cáo dùng cho việc phạm tội, có giá trị sử dụng cần tịch thu bán đấu giá sung vào ngân sách.
  • - 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng, có số seri là TE 17138791. Đây là tiền bị cáo Công thu lời bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà có cần tịch thu để sung vào ngân sách nhà nước.

[8] Về các vấn đề khác:

Đối với 01 chai nhựa, 01 tờ tiền giấy 1.000 đồng và 03 mảnh giấy bạc đã bị vò nát không rõ hình. Cần tiếp tục bảo quản tại kho vật chứng của Cơ quan điều tra Công an huyện N để điều tra xác minh, khi có đủ căn cứ xẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Lê Xuân L, Công an huyện N đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định

144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ và đã lập hồ sơ để quản lý theo quy định. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Các đối tượng: Bùi Khắc T2, Nguyễn Thế A, Hà Văn C1, Hà Văn D, quá trình điều tra, xác minh, Cơ quan điều tra Công an huyện N chưa có đủ căn cứ để xử lý trong cùng một vụ án về hành vi có dấu hiệu tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó Cơ quan điều tra Công an huyện N đang tiếp tục điều tra, xác minh khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

[9] Về án phí: Bị cáo Lê Đình C là người bị kết án nên buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[10] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Đình C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Đình C 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 21/02/2024.

Về vật chứng và các biện pháp tư pháp:

+ Về vật chứng:

* Tịch thu, tiêu hủy:

  • - Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,705 gam chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn. Tất cả được đựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ và tên Nguyễn Trần Đ1, Lưu Bình N, Lê Duy T5 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T. (Vật chứng còn lại sau giám định).
  • - Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 01 bật lửa ga mầu đỏ, 01 mẩu giấy bạc đã bị đốt cháy một phần, một mảnh giấy trắng có dòng kẻ ô ly, 01 mảnh ni long mầu đen. Tất cả được dựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành được dán kín niêm phong bởi các chữ ký, ghi rõ họ tên Lê Minh T4, Lưu Bình N, Lê Duy T5 và các hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.
  • - 01 thẻ sim số 0349 400 862.

* Tịch thu bán đấu giá sung công:

  • - 01 điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu Vivo.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anpha, màu sơn: Trắng – Bạc, số máy JA39E3171611; số khung RLHJA3924PY534136, biển kiểm soát 36K3-182.94 và 01 đăng ký xe mang tên Lê Đình C, cấp ngày 12/9/2023.

Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng số 32 ngày 06/08/2024 giữa Công an huyện N với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân.

+ Về biện pháp tư pháp: Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước số tiền 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng của bị cáo Lê Đình C.

Án phí: Bị cáo Lê Đình C phải nộp 200.000(Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (12/09/2024).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND H.Như Xuân;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQĐT H.Như Xuân;
  • - Nhà tạm giữ, CA H.Như Xuân;
  • - Chi cục THADS H.Như Xuân;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA về hình sự (sơ thẩm) về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sơ thẩm) về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Đình C phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger