|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/DS - ST
Ngày 12 - 7 - 2024
“Tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Triển.
- Bà Nguyễn Thị Thanh Hương.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung – Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 175/2023/TLST- DS ngày 17 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp phân chia tài sản chung và chia di sản thừa kế” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2024/QĐXXST- DS ngày 16 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của bà V: Bà Văn Thị Thanh H, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số A, phố N, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc và chị Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 2001; Địa chỉ: Thôn T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (Văn bản ủy quyền ngày 12/10/2023, bà H có mặt; chị L vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Đào Mạnh T, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Đào Mạnh T1, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn L, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- - Anh Đào Mạnh H1, sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ dân phố L, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).
- - Chị Đào Thị Kim N, sinh năm 1993; địa chỉ: Số D, ngõ B, đường L, phường V, quận H, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại phiên toà, nguyên đơn bà Nguyễn Thị V và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Văn Thị Thanh H trình bày:
Bà Nguyễn Thị V kết hôn với ông Đào Hồng T2 năm 1991 và được Ủy ban nhân dân xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phú (cũ), nay là Ủy ban nhân dân xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Bà V và ông Tư s được 02 người con là chị Đào Thị Kim N, sinh năm 1993 và anh Đào Mạnh Dương, sinh năm 1996 (chết ngày 12/3/2013). Trước khi kết hôn với bà V thì ông T2 đã kết hôn với bà Lê Thị Q và có 03 người con là anh Đào Mạnh Tưởng, anh Đào Mạnh Thắng và anh Đào Mạnh Hải. Ngoài ra, bà V và ông T2 không còn người con chung, con riêng, con nuôi hay người phải cấp dưỡng nào khác.
Quá trình chung sống bà V và ông T2 có được bố, mẹ của bà V cho tài sản là quyền sử dụng thửa đất số 252, tờ bản đồ số 4, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa số 252, tờ bản đồ số 4A (nay là thửa số 51, tờ bản đồ 30), diện tích 280m² đất ở, số vào sổ cấp GCN QSD đất số: 1222QSDĐ, do UBND huyện V cấp ngày 28/10/1996 mang tên ông Đào Hồng T2, địa chỉ thửa đất tại: Thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình sử dụng đất vợ chồng bà có xây dựng được các công trình gồm 01 ngôi nhà cấp 4 lợp mái ngói xây năm 2004, diện tích 75,9m², 01 lán mái tôn lợp trước nhà cấp 4, 01 nhà bếp + công trình phụ lợp mái bờ lô xi măng, 01 lán để đồ lợp tôn (nằm giữa nhà cấp 4 và nhà bếp + công trình phụ), 01 tường bao loan trong sân, 01 sân gạch, 01 tường bao loan giáp đường ngõ và nhà bà H2 có 01 đoạn trát xi măng, 01 đoạn xây gạch chưa trát, 01 tường bao loan xây bằng gạch xỉ giáp đất nhà bà H2, 02 trụ cổng + mái cổng đổ xi măng, 02 cánh cổng sắt, 01 bình nước + khung sắt dựng bình nước và có trồng một số cấy cối gồm 01 cây xoài phi 35, 01 cây quất hồng bì phi 30, 02 cây mít (01 cây phi 20, 01 cây phi 10).
Ngày 08/6/2016 ông Đào Hồng T2 chết không để lại di chúc hay văn bản gì định đoạt khối tài sản trên. Sau khi ông T2 chết, bà V là người trực tiếp quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất và các tài sản trên đất. Nay bà muốn phân chia tài sản chung của vợ chồng và chia phần di sản của ông T2 để lại nhưng anh Đào Mạnh Thắng không đồng ý phân chia. Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường thì diện tích thực tế thửa đất mang tên ông Đào Hồng T2 là 295,8m². Bà V xác định toàn bộ diện tích đất 295,8m² (theo kết quả đo đạc thực tế) là tài sản chung của bà V và ông T2 được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, không tranh chấp với các hộ liền kề.
Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà V khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường xem xét, giải quyết:
Phân chia tài sản chung của bà Nguyễn Thị V và ông Đào Hồng T2, phần tài sản của bà V là ½ diện tích đất 295,8 m²=147,9m² và ½ giá trị tài sản trên đất, bà V đề nghị được nhận tài sản bằng đất và tài sản trên đất.
Phân chia di sản của ông Đào Hồng T2 để lại là ½ diện tích đất 295,8m²=147,9m² và ½ giá trị tài sản trên đất, bà V đề nghị Tòa án phân chia theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông T2 và yêu cầu trích công sức duy trì tài sản cho bà theo quy định của pháp luật.
Bà V đồng ý nhận kỷ phần thừa kế do anh T1, anh H1 và chị N tự nguyện cho bà. Bà xin nhận tất cả diện tích 295,8m² đất ở và tài sản trên đất. Bà có nghĩa vụ thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế của anh T theo kết quả của Hội đồng định giá.
Bị đơn, anh Đào Mạnh Thắng trình bày: Anh là con của ông Đào Hồng T2 (chết 2016) và bà Lê Thị Q (chết năm 1989). Bố mẹ anh sinh được ba người con là anh Đào Mạnh Tưởng, anh là Đào Mạnh T, anh Đào Mạnh Hải. Ngoài ra, bố mẹ anh còn sinh được một người con gái là chị Đào Thị M nhưng chị M đã chết khi còn nhỏ. Sau khi mẹ anh chết thì năm 1991 ông Đào Hồng T2 kết hôn với bà Nguyễn Thị V. Bố anh và bà Văn s1 được 02 người con chung là chị Đào Thị Kim N và anh Đào Hồng D, sinh năm 1996 (chết năm 2013).
Về nguồn gốc là thửa số 51, tờ bản đồ 30, diện tích 280m² đất ở được Ủy ban nhân dân huyện V cấp giấy chứng nhận mang tên ông Đào Hồng T2 ngày 28/10/1996 theo anh được biết là khi còn sống bố anh là ông Đào Hồng T2 có nói với anh là bố anh và bà V có mua lại của mẹ bà Văn thửa đất này. Thửa đất sau đó được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Đào Hồng T2. Quá trình sử dụng thửa đất trên thì ông T2, bà V là người trực tiếp quản lý, sử dụng. Năm 2016 ông T2 chết thì bà V là người trực tiếp là người quản lý, sử dụng thửa đất. Bản thân anh cũng như anh T1, anh H1 hầu như không ở cùng với ông T2, bà V mà chỉ khi vào dịp cuối năm, tết nguyên đán, ngày giỗ thì có về quây quần, gặp mặt gia đình. Anh khẳng định nguồn gốc thửa đất trên là của ông Đào Hồng T2 và bà Nguyễn Thị V. Thời điểm bố anh và bà Văn m lại đất của mẹ bà V thì bản thân anh cũng như anh T1, anh H1 còn nhỏ không có công sức đóng góp gì. Tại phiên tòa anh trình bày, nguồn gốc thửa đất là do bố anh là ông Đào Hồng T2 mua lại của bố mẹ bà V, lúc mua thì anh cũng như anh T1, anh H1 còn nhỏ không có công sức đóng góp gì. Sau này trưởng thành thì thỉnh thoảng anh có gửi tiền đóng góp sửa chữa nhà, cửa. Anh cũng không có căn cứ gì để chứng minh việc ông T2 mua đất của mẹ bà V cũng như việc anh gửi tiền đóng góp cho ông T2, bà V trong việc sửa chữa nhà, cửa.
Nay bà Nguyễn Thị V khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của bà V, ông T2 và chia thừa kế đối với phần di sản của ông T2 để lại thì quan điểm của anh là: Bản thân anh cũng không có nhu cầu ở trên thửa đất này mà chỉ có nguyện vọng là giữ nguyên hiện trạng thửa đất hoặc nếu ai là người được hưởng quyền lợi thì người đó phải có nghĩa vụ thờ cúng tổ tiên, ông bà và bố, mẹ. Do vậy, anh không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đào Mạnh Tưởng, anh Đào Mạnh Hải và chị Đào Thị Kim N vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình giải quyết vụ án đều có quan điểm trình bày là đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị V. Đối với kỷ phần thừa kế được hưởng thừa kế của ông T2, trong trường hợp anh chị được hưởng thì anh T1, anh M1 và chị N đều tự nguyện cho toàn bộ phần tài sản của mình được hưởng cho bà V.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm thời điểm xét xử, Thẩm phán đã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự như: Thụ lý và thông báo về việc thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ tranh chấp và tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng trong vụ án; chấp hành thời hạn chuẩn bị xét xử, ban hành và gửi thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát theo đúng quy định. Thẩm phán đã thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định; tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không kiến nghị gì về tố tụng.
Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đầy đủ quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 14, 17 Luật HNGĐ năm 1986; Điều 213, 219, 220, 609, 610, 611, 612, 613, 623, 650, 651, 660 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị V.
Xác định thửa đất số 51, tờ bản đồ 30, diện tích 295,8m² đất ở tại thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc là tài sản chung của bà V và ông T2 trong thời kỳ hôn nhân, công sức tạo lập ngang nhau nên quyền sử dụng thửa đất nêu trên được chia đôi cho bà V và ông T2 mỗi người được ½ = 147,9m² đất ở và ½ giá trị tài sản trên đất.
Về trích công sức: Bà V là người quản lý tài sản trong khoảng thời gian từ năm 2016 đến nay nên cần trích công sức duy trì tài sản cho bà V là 7,9m² trong tổng diện tích 147,9m² di sản của ông T2 để lại. Diện tích đất còn lại là 140m² được chia đều cho bà V, anh T, anh T1, anh H1, chị N mỗi người được 28m². Do anh T1, anh H1, chị N tự nguyện cho bà V toàn bộ kỷ phần của mình và không yêu cầu bà V phải thanh toán gì. Do vậy kỷ phần của bà V được chia gồm (bao gồm cả diện tích đất được tính công sức, kỷ phần đất được chia và kỷ phần anh T1, anh H1, chị N tặng cho) là 112m²; kỷ phần của anh T là 28m². Do diện tích đất của anh T được chia quá nhỏ không đủ diện tích để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đề nghị giao toàn bộ 147,9m² đất là di sản của ông T2 để lại thuộc thửa đất thửa số 51, tờ bản đồ 30 tại thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc cho bà Nguyễn Thị V được tiếp tục quản lý, sử dụng. Bà V có trách nhiệm thanh toán bằng tiền cho anh T tương đương với kỷ phần đất anh được hưởng với giá 2.500.000đ/1m² + với 1/5 trị giá tài sản trên đất là di sản của ông T2 để lại.
Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về chi phí tố tụng: Bà Văn tự n chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 6.200.000 đồng. Xác nhận bà V đã nộp đủ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Đào Mạnh Tưởng, anh Đào Mạnh Hải và chị Đào Thị Kim N có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vụ án vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị V khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp chia tài sản chung và phân chia di sản thừa kế của ông Đào Hồng T2 theo pháp luật đối với bị đơn anh Đào Mạnh Thắng; địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Đồng thời, tài sản tranh chấp là bất động sản tọa lạc tại thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Vĩnh Tường theo quy định tại các Điều 28, 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế”.
[3]. Về thời hiệu: Ông Đào Hồng T2 chết ngày 08/6/2016 nên việc nguyên đơn bà Nguyễn Thị V khởi kiện đề nghị phân chia di sản thừa kế của ông Đào Hồng T2 thuộc trường hợp vụ án còn thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 623 của Bộ luật dân sự năm 2015.
[4]. Về nội dung:
[4.1]. Bà Nguyễn Thị V và ông Đào Hồng T2 kết hôn hợp pháp với nhau năm 1991. Quá trình chung sống vợ chồng có tạo lập được khối tài sản chung là thửa đất số 252, tờ bản đồ số 4 (theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa số 252, tờ bản đồ số 4A), nay là nay là thửa số 51, tờ bản đồ 30 có diện tích theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 280m² được Ủy ban nhân dân huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Đào Hồng T2 ngày 28/10/1996. Nguồn gốc thửa đất do bố mẹ của bà V cho vợ chồng bà V, ông T2 trong thời kỳ hôn nhân. Quá trình sử dụng đất vợ chồng bà V có xây dựng 01 nhà cấp 4 và một số công trình phụ, tài sản, cây cối trên đất.
Căn cứ kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án thì quyền sử dụng đất bà V, ông T2 được cấp có diện tích 280m² nhưng diện tích đo đạc thực tế có diện tích 295,8m² (tăng hơn diện tích đất tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 15,8m²). Đối với diện tích đất tăng thêm là 15,8m², quá trình sử dụng đất ông T2, bà V đã sử dụng ổn định, không có tranh chấp với các hộ liền kề. Xác minh tại địa phương được biết diện tích đất tăng thêm là do sai số đo đạc, diện tích đất này không nằm trong quy hoạch, đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nên cần xác định diện tích đất thực tế để xem xét phân chia là toàn bộ diện tích đất 295,8m² tại thửa số 51, tờ bản đồ 30 có địa chỉ ở thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc và các tài sản trên đất.
Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường đã tiến hành việc thành lập Hội đồng định giá, định giá tài sản theo quy định của pháp luật. Từ khi Tòa án có quyết định thành lập Hội đồng định định giá, Hội đồng định giá tiến hành việc định giá, kết luận giá thì không có đương sự nào có ký kiến khiếu nại về việc định giá, đề nghị định giá lại. Vì vậy Tòa án căn cứ vào giá do Hội đồng định giá kết luận để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật
[4.2]. Về yêu cầu chia tài sản chung của bà V trong thời kỳ hôn nhân với ông T2 thấy rằng: Diện tích đất 295,8m² đất ở tại thửa đất số 51, tờ bản đồ số 30 tại thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc và các tài sản trên đất được xác định là tài sản chung của bà V và ông T2 trong thời kỳ hôn nhân, các con của ông T2 và bà V không có công sức đóng gì đối với khối tài sản chung này. Vì vậy, bà V đề nghị chia cho bà ½ diện tích đất là 147,9m² (trị giá 369.750.000 đồng) và ½ giá trị tài sản trên đất gồm: 01 lán lợp tôn trước nhà cấp 4 diện tích 25,8m² (bao gồm 01 mái tôn trước nhà cấp 4 và 01 mái tôn nằm giữa nhà cấp 4 với bếp, công trình phụ) trị giá 155.000 đồng/m²=3.999.000 đồng; 02 cánh cổng sắt trị giá 300.000 đồng; 01 bình nước + khung sắt dựng chứa bình nước trị giá 1.500.000 đồng; 01 cây xoài phi 35 trị giá 1.400.000 đồng; 01 cây quất hồng bì phi 30 trị giá 330.000 đồng; 01 cây bưởi phi 10 trị giá 550.000 đồng; 01 cây mít phi 20 trị giá 1.100.000 đồng; 01 cây mít cây phi 10 trị giá 450.000 đồng. Đối với các tài sản gồm: 01 ngôi nhà cấp 4 lợp ngói xây năm 2004; 01 nhà bếp + công trình phụ lợp mái bờ lô xi măng; 01 tường bao loan trong sân, 01 sân gạch; 01 tường bao loan giáp đường ngõ và nhà bà H2 có 01 đoạn trát xi măng, 01 đoạn xây gạch chưa trát; 01 tường bao loan xây bằng gạch si giáp đất nhà bà H2; 02 trụ cổng + mái cổng đổ xi măng, những tài sản trên đều hết giá trị khấu hao, các đương sự không yêu cầu định giá nên hội đồng không tiến hành định giá. Tổng giá trị tài sản trên đất là 9.629.000 đồng. Bà V yêu cầu chia ½ diện tích đất (295,8m²) đất =147,9m² và ½ giá trị tài sản trên đất (9.629.000 đồng)= 4.814.500 đồng là có căn cứ, phù hợp với nguyên tắc của chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 14, Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4.3]. Về yêu cầu chia di sản thừa kế của ông T2 đối với diện tích đất ở 147,9m² và ½ giá trị tài sản trên đất là 4.814.500 đồng: Ngày 08/6/2016 ông Đào Hồng T2 chết, nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và chính quyền địa phương đều xác định ông T2 chết không để lại di chúc nên di sản thừa kế của ông T2 được chia theo pháp luật.
[4.4] Về hàng thừa kế: Trước khi kết hôn với bà V thì ông T2 có kết hôn với bà Lê Thị Quỳnh. Ông T2 và bà Q có 03 người con là anh Đào Mạnh Tưởng, anh Đào Mạnh Thắng, anh Đào Mạnh Hải. Sau khi bà Q chết ông T2 kết hôn với bà V. Ông T2 và bà V có 02 người con chung là chị Đào Thị Kim N và anh Đào Mạnh Dương (chết năm 2013, không có vợ con). Bố mẹ đẻ của ông T2 là cụ Đào Văn B và cụ Nguyễn Thị P chết từ lâu. Ngoài ra, ông T2 và bà V không có con chung, con riêng, con nuôi hay người phải cấp dưỡng nào khác. Tại phiên tòa, bị đơn anh T có trình bày ông T2 và mẹ anh là bà Q có với nhau 04 người con chung là anh T1, anh, anh H1 và một em tên Đào Thị M nhưng em M đã chết khi còn nhỏ. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án cũng như biên bản xác minh tại địa phương đều xác định ông T2 và bà Q có 03 người con chung là anh T1, anh T và anh H1. Ngoài lời trình bày tại phiên tòa, anh T cũng không có tài liệu, chứng cứ gì chứng minh ông T2 và bà Q có 04 người con chung.
Từ đó xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông T2 được xác định gồm 05 người là: Bà Nguyễn Thị V, anh Đào Mạnh Tưởng, anh Đào Mạnh Thắng, anh Đào Mạnh Hải và chị Đào Thị Kim N.
Di sản của ông T2 để lại và bà V yêu cầu chia thừa kế là diện tích đất ở 147,9m² và ½ giá trị tài sản trên đất là 4.814.500 đồng. Đồng thời, bà V yêu cầu tính công sức quản lý, duy trì tài sản là di sản của ông T2. Hội đồng xét xử thấy rằng: Trước khi chia di sản thừa kế của ông T2 để lại cần xem xét tính công sức quản lý, duy trì tài sản cho bà V là phù hợp, vì kể từ khi ông T2 chết đến nay thì bà V là người trực tiếp quản lý, duy trì, tôn tạo toàn bộ khối tài sản chung của vợ chồng, trong đó có phần di sản do ông T2 để lại nên Hội đồng xét xử cần trích 7,9m² (trị giá 19.750.000 đồng) trong phần di sản thừa kế là diện tích đất của ông T2 cho bà V là phù hợp. Đối với phần diện tích đất còn lại là 140m² và giá trị tài sản trên đất là 4.814.500 đồng cần chia đều cho hàng thừa kế thứ nhất của ông T2 gồm: Bà Nguyễn Thị V, anh Đào Mạnh Tưởng, anh Đào Mạnh Thắng, anh Đào Mạnh Hải và chị Đào Thị Kim N mỗi người được 28m² đất (trị giá 70.000.000 đồng) + 962.900 đồng giá trị tài sản trên đất. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án anh T1, anh H1, chị N tự nguyện cho phần tài sản anh chị được chia cho bà V được quyền sử dụng và bà V không phải thanh toán giá trị tài sản cho anh, chị. Xét thấy đây là sự tự nguyện của anh T1, anh H1 và chị N và được bà V đồng ý nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với phần diện tích đất của anh Đào Mạnh Thắng được chia là 28m². Quá trình giải quyết vụ án anh T có quan điểm là không đồng ý chia mà giữ nguyên hiện trạng thửa đất. Tại phiên tòa anh T trình bày là anh cũng không có nhu cầu ở trên thửa đất này, bản thân anh đã có nhà đất riêng tại thôn P, xã Y và nơi khác. Anh vẫn có nguyện vọng là giữ nguyên hiện trạng thửa đất để làm nơi thờ cúng tổ tiên, ông bà và bố mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần giao cho bà V được toàn quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất di sản của ông T2 để lại cùng toàn bộ tài sản trên đất và bà V có nghĩa vụ thanh toán giá trị diện tích 28m² (trị giá 70.000.000 đồng) cho anh T là phù hợp.
Từ những phần tích trên, Hội đồng xét xử thấy cần giao toàn bộ quyền sử dụng diện tích 295,8m² đất ở tại thửa đất số 252 (nay là thửa số 51, tờ bản đồ 30) tại thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc và tài sản trên đất (trong đó diện tích 147,9m² là phần tài sản của bà Nguyễn Thị V được chia trong khối tài sản chung với ông Đào Hồng T2; diện tích 140m² là phần tài sản được chia trong khối di sản thừa kế của ông Đào Hồng T2 để lại và diện tích 7,9m² là công sức quản lý, duy trì tài sản của bà V) cho bà Nguyễn Thị V và bà Nguyễn Thị V phải thanh toán chênh lệch tài sản cho anh Đào Mạnh T 70.000.000 đồng giá trị 28m² đất và 962.900 đồng giá trị tài sản trên đất. Tổng là 70.962.900 đồng.
Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường về việc chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung và chia di sản thừa kế của nguyên đơn bà Nguyễn Thị V là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Về án phí: Vì bà Nguyễn Thị V là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn tiền án phí sơ thẩm nên bà V được miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với phần nghĩa vụ của mình. Bà Văn tự n chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm đối với kỷ phần thừa kế do anh T1, anh H1 và chị N tự nguyện cho bà V là (212.888.700 đồng x 5%)=10.644.435 đồng (làm tròn 10.644.000 đồng). Số tiền án phí dân sự sơ thẩm anh T phải chịu là (70.962.900 đồng x 5%) = 3.548.145 đồng (làm tròn là 3.548.000 đồng).
[6]. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Văn tự n1 chịu toàn bộ 6.200.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Xác nhận bà V đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 14, 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986; Điều 213, 219, 220, 609, 610, 611, 612, 613, 623, 650, 651, 660, 357, 468 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị V về phân chia tài sản chung giữa bà Nguyễn Thị V và ông Đào Hồng T2 và chia di sản thừa kế của ông Đào Hồng T2.
- Xác nhận diện tích 295,8m² đất ở thuộc thửa đất số 51, tờ bản đồ 30 tại thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc và các tài sản trên đất là tài sản chung của bà Nguyễn Thị V và ông Đào Hồng T2 (đã chết). Trong đó, ½ là của bà Nguyễn Thị V, ½ là di sản thừa kế của ông Đào Hồng T2 để lại.
- Ghi nhận sự tự nguyện của anh Đào Mạnh Tưởng, anh Đào Mạnh Hải và chị Đào Thị Kim N tặng cho bà Nguyễn Thị Văn s2 thừa kế của anh chị được hưởng.
-
Chia tài sản chung giữa bà Nguyễn Thị V và ông Đào Hồng T2 và chia tài sản thừa kế của ông Đào Hồng T2 như sau:
Chia cho bà Nguyễn Thị V diện tích 295,8m² đất ở thuộc thửa số 51, tờ bản đồ 30, tại thôn Đ, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc. Diện tích đất ở được giới hạn bởi các điểm là 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11,1 (có sơ đồ hiện trạng chi tiết kèm theo) và được quyền sở hữu các tài sản, công trình cây cối trên đất.
Buộc bà Nguyễn Thị V phải thanh toán cho anh Đào Mạnh Thắng số tiền là 70.962.900 đồng (Bảy mươi triệu chín trăm sáu mươi hai nghìn chín trăm đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh Đào Mạnh Thắng có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà Nguyễn Thị V không thanh toán trả cho anh T khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Bà Nguyễn Thị V có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị V phải chịu là 10.644.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Anh Đào Mạnh T phải chịu 3.548.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Văn tự n1 chịu toàn bộ 6.200.000 đồng tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản. Xác nhận bà V đã nộp đủ.
Đương sự có mặt quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự, người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - VKSND huyện Vĩnh Tường;
- - Chi cục THADS huyện Vĩnh Tường;
- - Lưu: Hồ sơ vụ án, văn phòng.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lương Văn Tuấn |
Bản án số 27/2024/DS - ST ngày 12/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế
- Số bản án: 27/2024/DS - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia tài sản chung và chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Thi V - Dao Manh T
