TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 27/2024/HS-ST Ngày 11 - 9 - 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Minh Thuận
- Các Hội thẩm nhân dân:
- + Ông Nguyễn Thanh Tùng.
- + Ông Đinh Hồng Danh
- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Văn Trúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Trà Bồng, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 8 năm 20 24 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
- - Võ Minh T, sinh ngày 26 tháng 12 năm 1995; tại Quảng Ngãi.
- Nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Minh T1 (chết) và bà Võ Thị D, sinh năm 1966; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam ngày 24/4/2024, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Chị Võ Thị Thái V, sinh năm 1993. Địa chỉ: T, thị trấn L, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. (vắng mặt)
- - Bà Võ Thị D, sinh năm 1966. Địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào chiều ngày 22/4/2024, Võ Minh T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76P1-019.89, nhãn hiệu HONDA, loại WAVE S, màu đen bạc, đi từ nhà T đến ngã ba T, thuộc huyện B, tỉnh Quảng Ngãi. Tại ngã ba T, T hỏi một người đàn ông chạy xe ôm “Có biết ai dưới này bán đá hay không?” thì người đàn ông chạy xe ôm nói với T có biết 01 người ở xã B, huyện B bán. Vì T không quen thuộc đường đi nên có nhờ người chạy xe ôm dẫn đi và cho người đó 50.000 đồng. Sau đó, người
chạy xe ôm điều khiển xe mô tô dẫn T đi khoảng 10 phút thì dừng lại ở 01 đoạn đường bê tông trong xóm nhà dân, người này chỉ tay về hướng một ngôi nhà nói T đi đến cửa sổ bên hông ngôi nhà đó gọi vào trong nói là “Vỹ ơi, lấy đá” thì sẽ có người bán ma túy “đá” cho T. Nghe vậy, T đi bộ đến cửa sổ ngôi nhà đó và nói giống như người chạy xe ôm hướng dẫn, đồng thời T thò tay qua khe cửa sổ đưa vào bên trong số tiền 560.000 đồng, thì lúc đó có 01 người đưa ra cho T 01 bịch ni lông có chứa ma túy “đá” bên trong. T lấy bịch ma túy “đá” bọc vào trong túi quần và điều khiển xe về nhà tại xã T, huyện T. Khi về đến nhà, T cất giấu bịch ma túy “đá” đã mua được dưới gốc cây B xụm trước sân và đi ngủ.
Đến khoảng 08 giờ ngày 23/4/2024, T ra gốc cây B xụm lấy bịch ma túy “đá” đem vào phòng ngủ trong nhà. Tại phòng ngủ, T sử dụng một số dụng cụ, đồ dùng có sẵn để chia số ma túy trên thành nhiều phần, cụ thể: T dùng 01 (một) cái kéo kim loại, màu trắng cắt 01 (một) cái ống hút màu trắng thành 09 (chín) đoạn ngắn. Tiếp đến, T dùng 01 (một) cái bật lửa ga đốt nóng đầu của 01 (một) cái kẹp bằng kim loại, có cán màu đỏ, rồi kẹp vào 01 đầu của đoạn ống hút để cho nóng chảy, hàn kín đầu ống hút lại, đầu còn hở của đoạn ống hút T xúc ma túy “đá” từ bịch ni lông cho vào trong ống hút, rồi T tiếp tục hơ nóng cái kẹp và kẹp vào đầu hở còn lại của đoạn ống hút để hàn dính kín lại, mục đích không cho ma túy rơi ra ngoài và không bị ướt. Sau khi phân chia hết số ma túy “đá” vào 09 (chín) đoạn ống hút, T cất giấu 01 đoạn dưới nệm tại phòng ngủ, 06 đoạn T cho vào túi ni lông đem ra cất giấu lại dưới gốc cây Bùm xụm, 02 đoạn T bỏ vào trong 01 (một) cái khẩu trang y tế màu trắng, rồi gói lại đem cất giấu tại vị trí cổng ngõ phía trước sân nhà T. Mục đích T phân chia số ma túy ra cất giấu ở nhiều vị trí là để tiện cho việc sử dụng nhiều lần và tránh bị phát hiện.
Đến khoảng 19 giờ ngày 23/4/2024, do có nhu cầu sử dụng nên T lấy ra 01 đoạn ống hút chứa ma túy “đá” cất giấu dưới nệm trong phòng ngủ. Vì trước đó T cũng đã vài lần sử dụng ma túy “đá” nên T có tự làm sẵn 01 bộ dụng cụ sử dụng, bao gồm: 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đen, trên nắp chai có đục thủng 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng, 01 ống thủy tinh; 01 (một) đoạn ống thủy tinh rời, một đầu có dạng hình phểu. T lấy 01 ít ma túy “đá” trong đoạn ống hút ra cho vào bộ dụng cụ, rồi bắt đầu sử dụng. Sau khi sử dụng thì ma túy trong đoạn ống hút còn dư nên T hàn kín lại, rồi cất giấu dưới nệm ở vị trí cũ. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, lực lượng Công an kiểm tra tại nhà T thì xác định T đã sử dụng chất ma túy trước đó. Tiến hành kiểm tra, khám xét chỗ ở phát hiện 09 (chín) đoạn ống hút chứa ma túy “đá” được T cất giấu tại nhiều vị trí trong nhà nên Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Võ Minh T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 442/KL-KTHS, ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận:
- “- Chất rắn màu trắng bên trong 01 đoạn ống nhựa trong túi niêm phong mã số PS3 23043158 gửi giám định là ma túy; Loại: Methamphetamine; Khối lượng mẫu: 0,08 gam.
- - Chất rắn màu trắng bên trong 06 đoạn ống nhựa chứa trong 01 túi ni lông màu trắng trong túi niêm phong mã số PS3 23043156 gửi giám định là ma túy;
- Loại: Methamphetamine; Khối lượng mẫu: 1,02 gam.
- - Chất rắn màu trắng bên trong 02 đoạn ống nhựa trong túi niêm phong mã số PS3 23043156 gửi giám định là ma túy; Loại: Methamphetamine; Khối lượng mẫu: 0,19 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục II, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”
Tổng khối tượng ma túy, loại Methamphetamine mà T tàng trữ, cất giấu tại nhà là 1,29 gam.
Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 12 tháng 8 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố Võ Minh T về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Bồng phát biểu quan điểm luận tội: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Võ Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ: 24 đến 30 tháng tù.
Vật chứng vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại 02 điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6, màu trắng, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8Plus, màu đen, đã qua sử dụng cho bị cáo; Tịch thu tiêu huỷ: 09 (chín) đoạn ống hút màu trắng có chứa ma túy “đá”, được niêm phong cùng vỏ bao gói gửi giám định bên trong 01 túi niêm phong mã số PS3 2027677; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, gồm: 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đen, trên nắp chai có đục thủng 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng và 01 đoạn ống thủy tinh; 01 ống thủy tinh có 01 đầu hình phễu; 01 cái kéo bằng kim loại, màu trắng, có chữ STAINLESS; 01 cái kẹp bằng kim loại, có cán cầm bằng nhựa, màu đỏ; 01 khẩu trang y tế, màu trắng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Ngày 22/4/2024, bị cáo có hành vi cất giấu ma túy “đá” đã mua được dưới gốc cây Bùm xụm trước sân nhà. Sau đó, ngày 23/4/2024 bị cáo phân chia hết số ma túy “đá” vào 09 (chín) đoạn ống hút, bị cáo cất giấu 01 đoạn dưới nệm tại phòng ngủ, 06 đoạn bị cáo cho vào túi ni lông đem ra cất giấu lại dưới gốc cây Bùm xụm, 02 đoạn bị cáo bỏ vào trong 01 (một) cái khẩu trang y tế màu trắng, rồi gói lại đem cất giấu tại vị trí cổng ngõ phía trước sân nhà.
Tại Kết luận giám định số 442/KL-KTHS, ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Tổng khối tượng ma túy, loại Methamphetamine mà bị cáo tàng trữ, cất giấu tại nhà là 1,29 gam.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận, bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Bị cáo Võ Minh T là người đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã có hành vi tàng trừ trái phép chất ma tuý, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ vi phạm pháp luật hình sự mà còn gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội.
[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Ngày 29/7/2024, Công an huyện T đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 18/QĐ-XPHC đối với Võ Minh T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, hình thức phạt tiền, số tiền 1.250.000 đồng.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có ông ngoại là Võ Sỹ P là người có công với cách mạng, vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét các tình tiết giảm nhẹ khác cho bị cáo.
[5] Trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và yếu tố nhân thân, tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo Võ Minh T không có tình tiết tăng nặng, tuy nhiên việc tàng trữ chất ma tuý để sử dụng làm ảnh hưởng đến chế độ, chính sách của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt chưa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[8] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại 02 điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6, màu trắng, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn
hiệu IPHONE 8Plus, màu đen, đã qua sử dụng cho bị cáo. Tịch thu tiêu huỷ: 09 (chín) đoạn ống hút màu trắng có chứa ma túy “đá”, được niêm phong cùng vỏ bao gói gửi giám định bên trong 01 túi niêm phong mã số PS3 2027677; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, gồm: 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đen, trên nắp chai có đục thủng 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng và 01 đoạn ống thủy tinh; 01 ống thủy tinh có 01 đầu hình phễu; 01 cái kéo bằng kim loại, màu trắng, có chữ STAINLESS; 01 cái kẹp bằng kim loại, có cán cầm bằng nhựa, màu đỏ; 01 khẩu trang y tế, màu trắng.
[9] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Võ Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Võ Minh T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam ngày 24 tháng 4 năm 2024.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sư, tuyên:
Trả lại 02 điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 6, màu trắng, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8Plus, màu đen, đã qua sử dụng cho bị cáo. 02 điện thoại trên được niêm phong trong 01 bì thư dán kín, bên ngoài đóng hình dấu niêm phong của Phòng K Công an tỉnh Q và có chữ ký, ghi họ tên của Võ Quang H.
Tịch thu tiêu huỷ: 09 (chín) đoạn ống hút màu trắng có chứa ma túy “đá”, được niêm phong cùng vỏ bao gói gửi giám định bên trong 01 túi niêm phong mã số PS3 2027677; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, gồm: 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đen, trên nắp chai có đục thủng 02 lỗ, 01 lỗ gắn ống hút nhựa màu trắng và 01 đoạn ống thủy tinh; 01 ống thủy tinh có 01 đầu hình phễu; 01 cái kéo bằng kim loại, màu trắng, có chữ STAINLESS; 01 cái kẹp bằng kim loại, có cán cầm bằng nhựa, màu đỏ; 01 khẩu trang y tế, màu trắng.
Theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Bồng ngày 12/8/2024.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Võ Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Minh Thuận |
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ BỒNG, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Minh T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý
