|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2024/HNGĐ-PT. Ngày 11/07/2024. V/v: “Chia tài sản chung sau ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Thông
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hải Vinh
Ông Hà Văn Nâu
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Như Ý- Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày 11 tháng 07 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 04/2024/TLPT- HNGĐ ngày 16/02/2024 về việc: “Chia tài sản chung sau ly hôn”.
Do bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 18/2023/HNGĐ-ST ngày 06/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 11/2024/QĐ-PT ngày 22/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QĐ-PT ngày 09/5/2024; Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 162/2024/HNGĐ-PT ngày 03/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2024/QĐ-PT ngày 20/6/2024, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn: Bà Vũ Thị D, sinh năm 1971 (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
*Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1966 (có mặt).
Địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng C1 (Vắng mặt).
- Ngân hàng N1 (Vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1989 (Vắng mặt).
- Anh Nông Văn T, sinh năm 1985 (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963 (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1963 (Vắng mặt).
- Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1965 (Vắng mặt).
- Ông Bế Văn T2, sinh năm 1970 (Vắng mặt).
- Bà Vũ Thị M, sinh năm 1973 (Vắng mặt).
- Chị Ngọc Thị M1, sinh năm 1981 (Vắng mặt).
- Bà Đàm Thị H, sinh năm 1978 (Vắng mặt).
- Anh Dương Việt T3, sinh năm 1991 (Vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 1992 (Vắng mặt).
- Ông Đỗ Khắc K, sinh năm 1948 (Vắng mặt).
- Anh Đỗ Văn H1, sinh năm 1973 (Vắng mặt).
- Chị Đỗ Thị A, sinh năm 1971 (Vắng mặt).
- Anh Đỗ Văn N, sinh năm 1976 (Vắng mặt).
- Chị Đỗ Thị R, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
- Chị Đỗ Thị Q1, sinh năm 1979 (Vắng mặt)
Đều địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Đều địa chỉ: T, thị trấn A, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn T, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Đều địa chỉ: Thôn M, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Thôn L, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang
*Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn L
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Vũ Thị D trình bày:
Bà kết hôn cùng ông Nguyễn Văn L vào năm 1987, đến năm 2020 Tòa án nhân dân huyện Sơn Động giải quyết cho ông bà thuận tình ly hôn. Khi ly hôn, về tài sản ông bà chưa yêu cầu Tòa án giải quyết. Đến nay, do hai bên không tự phân chia được tài sản nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết những tài sản sau:
Đất và tài sản trên đất:
01 thửa đất ở và vườn, diện tích 2.622m² tại thôn M, xã V, huyện S đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số BP 719274 ngày 07/8/2013 cấp cho ông Nguyễn Văn L, bà Vũ Thị D. Trên đất có căn nhà gỗ lim 05 gian, xây bao tường (sửa chữa lại năm 2016), công trình phụ, sân gạch, bán mái tôn. Nguồn gốc đất và nhà là do bố mẹ chồng bà cho hai vợ chồng vào năm 2002. Hiện thửa đất này do ông L và cháu D1 con trai bà đang quản lý sử dụng. 01 thửa đất ở, diện tích là 124,8m² tại thôn M, xã V, huyện S, đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số U859752 ngày 15/6/2003 cho hộ ông Nguyễn Văn L, trên đất gia đình xây dựng 01 căn nhà cấp 4 hai tầng (xây dựng năm 2018), công trình phụ và bán mái tôn. Nguồn gốc thửa đất là do gia đình mua năm 2001. Hiện thửa đất này do bà đang quản lý, sử dụng. 01 thửa đất vườn, diện tích là 960m² tại thôn M, xã V, huyện S đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số Q849942 ngày 10/4/2004 mang tên hộ ông Nguyễn Văn L. Nguồn gốc thửa đất là do bố mẹ chồng bà cho vợ chồng bà; hiện thửa đất này do bà đang quản lý, sử dụng.
Về đất nông nghiệp:
Có 02 thửa đất nông nghiệp, gồm 01 thửa 700,4m², GCNQSDĐ số CĐ533808 và 01 thửa 345,4m² GCNQSDĐ số CĐ533806 do UBND huyện S cấp ngày 07/10/2016 ở khu đồng C, thôn M, xã V, huyện S. Đất này được nhà nước giao cho khẩu năm 1992, mỗi khẩu được hơn 01 sào. Hiện đất này ông L và cháu D1 đang quản lý, sử dụng.
Về tài sản khác:
Sau khi ly hôn với ông L thì bà có tự bán 01 chiếc xe máy loại Wave là tài sản chung được 12.000.000đồng và tiền cá nhân bà mua Bảo hiểm Nhân thọ P1 từ năm 2011 đến khi ly hôn ông L là 32.000.000đồng.
Ngoài ra còn một số tài sản khác là đồ dùng sinh hoạt và cây cối làm lộc giá trị thấp gia đình tự phân chia, bà không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về công nợ:
Nợ anh Nông Văn T số tiền 100.000.000đồng; bà Vũ Thị T1 số tiền 70.000.000đồng; ông Bế Văn T2 số tiền 35.000.000đồng; Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 số tiền 45.000.000đồng; Ngân hàng N1 Chi nhánh huyện S số tiền 300.000.000đồng (Đã trả); bà Ngọc Thị M1 số tiền 20.000.000đồng; chị Đàm Thị H số tiền 13.000.000đồng và bà Vũ Thị M số tiền 25.000.000đồng. Toàn bộ số tiền này bà và ông L vay về để làm nhà và mở cửa hàng kinh doanh nên bà yêu cầu ông L phải có trách nhiệm chung cùng trả.
* Bị đơn là ông Nguyễn Văn L trình bày:
Ông kết hôn cùng bà Vũ Thị D vào năm 1987, đến năm 2020 Tòa án nhân dân huyện Sơn Động giải quyết cho ông bà thuận tình ly hôn. Khi ly hôn, về tài sản ông bà chưa yêu cầu Tòa án giải quyết. Đến nay, do hai bên không tự phân chia được nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông L xác nhận có các tài sản như sau:
Đất và tài sản trên đất:
01 Lô đất ở và vườn có diện tích 2.622m² tại thôn M, xã V, huyện S đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số BP 719274 ngày 07/8/2013 cấp cho ông Nguyễn Văn L, bà Vũ Thị D. Trên đất có căn nhà gỗ lim 05 gian xây bao tường (nhà sửa chữa lại năm 2016 và làm thêm sân hết số tiền là 180.000.000đồng), công trình phụ, bán mái, sân gạch. Nguồn gốc thửa đất và nhà là do bố mẹ ông cho ông vào năm 2002, còn bà D có tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là do ghi thêm. Hiện thửa đất này do ông và anh D1 con trai ông đang quản lý, sử dụng cùng tài sản trên đất.
01 Lô đất ở có diện tích là 124,8m² tại thôn M, xã V, huyện S đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số U859752 ngày 15/6/2003 cho hộ ông Nguyễn Văn L. Trên đất gia đình xây dựng 01 căn nhà cấp 4 hai tầng (xây dựng năm 2018), công trình phụ và bán mái tôn. Nguồn gốc thửa đất là do gia đình mua năm 2001. Trên đất gia đình xây dựng 01 căn nhà cấp 4 hai tầng năm 2018, công trình phụ và bán mái. Hiện thửa đất này bà D đang quản lý, sử dụng cùng tài sản trên đất.
01 Lô đất vườn có diện tích là 960m² tại thôn M, xã V, huyện S đã được UBND huyện S cấp GCNQSDĐ số Q849942 ngày 10/4/2004 mang tên hộ ông Nguyễn Văn L. Nguồn gốc đất này là do bố mẹ ông cho ông.
Về đất nông nghiệp:
Có 02 thửa đất nông nghiệp gồm 01 thửa 700,4m², GCNQSDĐ số CĐ533808 và 01 thửa 345,4m² GCNQSDĐ số CĐ533806 do UBND huyện S cấp ngày 07/10/2016 ở khu đồng C, thôn M, xã V, huyện S. Đất này được nhà nước giao cho khẩu năm 1992, mỗi khẩu được hơn 01 sào, 02 thửa này ông đề nghị giao cho cháu D1 và cháu Q được quyền quản lý, sở hữu.
Về tài sản khác:
Sau ly hôn với bà D có tự bán 01 chiếc xe máy loại Wave là tài sản chung được 12.000.000đồng và tiền bà D mua Bảo hiểm Nhân thọ PRUDENTIAL từ năm 2011 đến khi ly hôn với ông là 32.000.000đồng.
Ngoài ra còn một số tài sản khác là đồ dùng sinh hoạt giá trị thấp gia đình tự phân chia, ông không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về công nợ:
Ông và bà D có vay tiền để làm nhà và làm ăn kinh doanh. Ông bà vay của những người sau: vay anh Nông Văn T số tiền là 100.000.000đồng; bà Vũ Thị T1 số tiền là 70.000.000đồng; ông Bế Văn T2 số tiền 35.000.000đồng; Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội huyện C1 số tiền 45.000.000đồng.
Số tiền bà D kê khai nợ ông không biết gồm: Bà Ngọc Thị M1 số tiền 20.000.000đồng, bà Đàm Thị H số tiền 13.000.000đồng, bà Vũ Thị M số tiền 25.000.000đồng và anh Dương Việt T3 số tiền 65.000.000đồng. Những khoản vay này bà D tự vay, sử dụng vào làm việc gì ông không được biết vì khi vay bà D không nói hay bàn bạc gì với ông.
* Từ những nội dung trên, Bản án số 18/2023/HNGĐ-ST ngày 06/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang đã xét xử, quyết định:
Căn cứ vào các Điều 33, 59, 60, 61 và 62 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 219, khoản 1 Điều 280, Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự. Điều 28, 35, 39, khoản 4, Điều 147; Điều 227, 228; Điều 271; khoản 1, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
[1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị D.
[2] Về tài sản chung được chia như sau:
* Giao cho bà Vũ Thị D được quản lý, sử dụng và sở hữu gồm:
Thửa đất ở, diện tích là 124,8m² tại thôn M, xã V, huyện S đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U859752 ngày 15/6/2003 cho hộ ông Nguyễn Văn L; trên đất có 01 căn nhà cấp 4 hai tầng, công trình phụ và bán mái tôn.
Thửa đất vườn, diện tích là 960m² và cây cối lâm lộc trên đất tại thôn M, xã V, huyện S đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q849942 ngày 10/4/2004 mang tên hộ ông Nguyễn Văn L.
Số tiền bán xe máy 12.000.000đồng và tiền mua Bảo hiểm Nhân thọ P1 32.000.000đồng.
Bà Vũ Thị D phải có trách nhiệm trả tiền chênh lệch chia tài sản cho ông Nguyễn Văn L là 678.551.757 đồng; anh Nguyễn Văn D1 số tiền 3.360.000 đồng; các hàng thừa kế của cụ K1, cụ C là 33.600.000 đồng.
Bà Vũ Thị D phải trả tiền công nợ cho: Ông Nông Văn T là 100.000.000 đồng; bà Vũ Thị T1 là 70.000.000 đồng; ông Bế Văn T2, bà Vũ Thị M là 60.000.000 đồng; bà Ngọc Thị M1 là 20.000.000 đồng; bà Đàm Thị H là 13.000.000 đồng.
* Giao cho ông Nguyễn Văn L được quản lý, sử dụng và sở hữu:
Thửa đất ở và vườn, diện tích 2.622m² (trong đó có 660m² đất ở và 1962m² là đất vườn) tại thôn M, xã V, huyện S đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 719274 ngày 07/8/2013 cấp cho ông Nguyễn Văn L, bà Vũ Thị D; trên đất có 01nhà gỗ lim 05 gian xây bao tường, công trình phụ, sân gạch, bán mái tôn và cây cối lâm lộc trên đất.
Giao thửa đất nông nghiệp diện tích 700,4m² GCNQSDĐ số CĐ533808 cho anh Nguyễn Văn D1 và thửa đất nông nghiệp diện tích 345,4m² GCNQSDĐ số CĐ533806 cho chị Nguyễn Thị Như Q đều do UBND huyện S cấp ngày 07/10/2016 ở khu đồng C, thôn M, xã V, huyện S.
Ông Nguyễn Văn L phải giao cho bà Vũ Thị D quản lý, sở hữu: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện S cấp số U859752 ngày 15/6/2003 và 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện S cấp số U859752 ngày 15/6/2003.
Ông Nguyễn Văn L được nhận số tiền 678.551.757 đồng từ bà Vũ Thị D nhưng có trách nhiệm phải trả cho các hàng thừa kế của cụ K1, cụ C là 388.670.000 đồng, anh D1 là 36.867.000 đồng.
Ông L được quản lý số tiền của các hàng thừa kế của cụ K1, cụ C đến khi các hàng thừa kế này có yêu cầu.
Anh Nguyễn Văn D1 được nhận số tiền 36.867.000 đồng từ ông L và 3.360.000 đồng từ bà D.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn giải quyết về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo cho các bên tham gia tố tụng.
* Sau khi xét xử xong, ngày 20/6/2023 ông Nguyễn Văn L là bị đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa ông L trình bày:
+ Ông xác định lô đất 124,8m² tại thôn M, xã V, huyện S được đăng ký quyền sử dụng đất năm 2003 là của hộ gia đình (lúc đó gia đình ông có 6 thành viên là cụ K1, cụ C, hai vợ chồng ông và hai con là cháu D1, cháu Q). Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chia cho ông và bà D là ảnh hưởng đến các hàng thừa kế của cụ K1 và cụ C. Đề nghị chia đều cho 06 thành viên trên của gia đình đối với giá trị lô đất là 1.350.000.000 đồng, còn tài sản trên đất là của ông và bà D.
+ Đối với lô đất 960m² tại thôn M, xã V, huyện S, ông là chủ của miếng đất này. Đất này do bố mẹ ông khai phá từ năm 1960 và ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004. Hiện tại miếng đất đó vẫn có lối đi vào nên ông và con trai ông cùng bà Đ1, bà Đ không nhất trí việc tòa án cấp sơ thẩm giao đất cho bà D sử dụng.
+ Đối với những khoản nợ không có giấy tờ vay nợ, ông không có trách nhiệm trả cho bà D. Số tiền nợ của bà Vũ Thị M là em ruột của bà D, lời khai của bà D về số tiền nợ này không nhất quán, lúc bà khai rằng vay 25.000.000đồng lúc bà khai rằng vay 5 chỉ vàng. Việc chị em bà D khai khống số tiền vay và yêu cầu ông phải trả là không công bằng.
+ Đối với khoản nợ do thế chấp sổ đỏ lô đất 124,8m² đến hạn trả gốc, ông yêu cầu bà D phải trả một nửa là 150.000.000đồng lấy sổ về nhưng bà D không trả nên ông đã vay của anh Nguyễn Văn T4 số tiền 150.000.000đồng với lãi suất 1,2%/tháng. Ngày vay là 02/3/2021 âm lịch đến nay, số tiền lãi là 46.800.000 đồng. Ngoài ra, ông còn vay của Ngân hàng C1 50.000.000đồng, mỗi tháng phải trả 9.028.760 đồng và vay của con trai là cháu Nguyễn Văn D1 số tiền 100.000.000 đồng mới đủ 300.000.000 đồng. Tổng số tiền vay là 300.000.000đồng, tiền lãi là 55.828.760 đồng. Ông yêu cầu bà D phải chịu 150.000.000 đồng tiền gốc và 27.914.380 đồng tiền lãi. Ông có giấy vay tiền có chứng nhận của con trai đã cung cấp cho tòa.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án đảm bảo đúng quy định pháp luật. Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn có mặt tại phiên tòa chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn L. Xử: Sửa bản án sơ thẩm đối với số tiền bà D trích chia cho ông L, số tiền phải trả cho các hàng thừa kế của cụ K1, cụ C, số tiền phải trả cho anh D1 và tiền án phí dân sự sơ thẩm các đương sự phải nộp.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn L không phải chịu án phí phúc thẩm, được nhận lại số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Về sự vắng mặt của một số người tham gia tố tụng: Người tham gia tố tụng là 1 số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, nguyên đơn bà Vũ Thị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. HĐXX căn cứ quy định tại Điều 227, 228- Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn L HĐXX thấy:
[2.1] Đối với diện tích đất 124,8m², ông L cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chia cho ông và bà D là ảnh hưởng đến các hàng thừa kế của cụ K1 và cụ C. Ông đề nghị chia đều cho 06 thành viên trên của gia đình bao gồm cụ K1, cụ C, hai vợ chồng ông và hai con là cháu D1, cháu Q. Hội đồng xét xử thấy: Toà án cấp sơ thẩm xác định đây là tài sản chung và giao cho bà Vũ Thị D quản lý sử dụng là có căn cứ. Năm 2003, diện tích trên được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là của hộ gia đình ông Nguyễn Văn L. Tuy nhiên tại cấp sơ thẩm, ông L, bà D và anh D1, chị Q đều xác định nguồn gốc tài sản của ông L, bà D tự mua và gây dựng tài sản trên đất, anh D1 và chị Q không có công sức đóng góp gì. Cấp phúc thẩm ông L đề nghị xác định đó là tài sản của hộ gia đình trong đó xác định là tài sản của cả cụ K1 và cụ C nhưng không có tài liệu gì chứng minh. Do đó Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy không có căn cứ chấp nhận yêu cầu trên của ông L.
[2.2] Đối với diện tích đất 960m², Toà án cấp sơ thẩm quyết định giao cho bà Vũ Thị D quản lý sử dụng vì xác định thửa đất này không có lối đi. Ông L xác định là có lối đi vào thửa đất trên nên không đồng ý với việc giao diện tích đất trên cho bà D. Căn cứ vào biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 25/5/2023, xác định diện tích đất 960m² đất vườn tại thôn M, xã V, huyện S, tỉnh Bắc Giang có tứ cận thửa đất như sau:
- Hướng Tây Bắc được bao bọc bởi thửa đất 124,8m² của ông L, bà D, thửa đất của gia đình ông Nguyễn Văn D2 và thửa đất của bà Thu H2.
- Hướng Đông Bắc giáp thửa đất của gia đình ông Nguyễn Văn D2 và thửa đất của gia đình bà Hoàng Thị T5.
- Hướng Tây Nam giáp gia đình ông Ngọc Văn P.
- Hướng Nam giáp bờ mương, có 01 bờ ruộng rộng 30cm đi ra đường liên thôn.
Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy diện tích đất 960m² đất vườn chỉ có 01 lối ra bờ ruộng. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm nhận định không có lối đi là chưa chính xác nhưng để thuận lợi phù hợp với địa hình sử dụng đất trên thực tế thì giao 02 diện tích đất là 124,8m² và 960m² đất vườn cho bà D quản lý sử dụng là có căn cứ chấp nhận. Do đó Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy yêu cầu kháng cáo của ông L là không có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Xét nội dung kháng cáo của ông Nguyễn Văn L về công nợ, HĐXX thấy:
Đối với yêu cầu việc thanh toán các khoản nợ không có giấy tờ vay, ông L xác định không thanh toán vì cho rằng đó là các khoản nợ khai khống. Tuy nhiên bà M1, bà H, bà M xác định những khoản vay đó là cho ông L, bà D vay để xây nhà, yêu cầu hai ông bà phải trả tiền vay. Toà án cấp sơ thẩm xác định đây là khoản vay vì mục đích làm nhà, phù hợp với lời khai của bà D và phát sinh trong giai đoạn hôn nhân do đó có căn cứ buộc ông L cùng có trách nhiệm thanh toán khoản nợ trên.
Đối với việc ông L vay của anh Nguyễn Văn T4 số tiền 150.000.000 đồng và vay anh Nguyễn Văn D1 số tiền 100.000.000 đồng để trả nợ ngân hàng. Tại cấp sơ thẩm ông không trình bày và không yêu cầu giải quyết. Tại cấp phúc thẩm, ông L cũng không giao nộp thêm tài liệu gì chứng minh nên không có căn cứ xem xét.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã giao hai thửa đất có diện tích 124,8m² đất ở và diện tích 960m² đất vườn có địa chỉ tại thôn M, xã V, huyện S cho bà D quản lý sử dụng và buộc ông L có trách nhiệm thanh toán công nợ chung là có cơ sở.
Tuy nhiên, sau khi xem xét bản án cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xác định giá trị tài sản và trích chia chênh lệch giá trị tài sản chưa chính xác.
Cụ thể:
Căn cứ theo kết quả thẩm định, định giá tài sản xác định:
Tổng giá trị tài sản chung của ông L, bà D là 3.039.383.500 đồng (đã bao gồm tiền bán xe máy 12.000.000đồng và tiền mua Bảo hiểm Nhân thọ P1 32.000.000đồng)
- Đối với thửa đất ở và vườn, diện tích 2.622m² (trong đó có 660m² đất ở và 1962m² là đất vườn) tại thôn M, xã V, huyện S giao cho ông L có giá trị đất là 797.340.000 đồng (Toà án cấp sơ thẩm xác định giá trị đất là 737.340.000 đồng) và giá trị tài sản trên đất là 221.923.500 đồng (Toà án cấp sơ thẩm xác định là 230.823.500 đồng). Do đó giá trị ông L và bà D được nhận là 280.363.250 đồng; Cụ K1, Cụ C: 418.670.000 đồng; anh D1 là 39.867.000 đồng.
- Đối với thửa đất 960m² tại thôn M, xã V, huyện S có giá trị là 67.200.000 đồng. Ông L, bà D được hưởng là 15.120.000 đồng; các hàng thừa kế của Cụ K1, cụ C là 33.600.000 đồng, anh D1 được hưởng là 3.360.000 đồng.
- Đối với thửa đất 124,8m² giá trị đất và tài sản trên đất là 1.908.920.000 đồng. Ông L, bà D mỗi người được hưởng 1/2 là 954.460.000 đồng.
- Đối với số tiền bảo hiểm và tiền bán xe máy tổng là 44.000.000đồng, xác định đây là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nên ông L, bà D mỗi người được hưởng: 44.000.000 x ½ = 22.000.000đồng. Như vậy, chia tài sản sau khi ly hôn bà D, ông L được nhận tài sản có giá trị là 1.271.943.250đồng; Cụ K1, cụ C nhận: 452.270.000đồng; anh D1 nhận 43.227.000đồng.
Về công nợ: Xác định tổng số nợ chung là 652.168.382đồng. Trong đó ông L đã trả 325.532.448 đồng, bà D đã trả 63.635.934 đồng, còn nợ 263.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà D có trách nhiệm thanh toán số tiền trên là có căn cứ. Ông L, bà D chịu án phí đối với số tiền này
Tài sản giao cho bà D có giá trị là 44.000.000 +1.908.920.000+ 67.200.000 đồng = 2.020.120.000đồng.
Tài sản giao cho ông L có giá trị là 1.019.263.500 đồng
Vì giá trị tài sản giao cho bà D cao hơn nên bà D có nghĩa vụ trích chia trả cho ông L số tiền là 252.679.750đồng. Đối với phần của cụ K1, cụ C đã chết được chia giao cho các hàng thừa kế nhưng tạm giao cho ông L quản lý nên bà D có nghĩa vụ chuyển số tiền 452.270.000đồng cho ông L. Tổng số tiền bà D phải trả ông L là 704.949.750đồng. Bà D phải trả cho anh D1 số tiền: 43.227.000đồng.
[3]. Từ những nội dung trên, HĐXX căn cứ khoản 2, Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận 1 phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn L, sửa bản án sơ thẩm đối với số tiền bà Vũ Thị D trích chia cho ông L, số tiền phải trả cho các hàng thừa kế của cụ K1, cụ C, số tiền phải trả cho anh Nguyễn Văn D1 và tiền án phí dân sự sơ thẩm các đương sự phải nộp tại bản án số 18/2023/HNGĐ-ST ngày 06/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang theo hướng nhận định nêu trên.
[4]. Về án phí
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Vũ Thị D phải chịu 53.525.771đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận bà Vũ Thị D đã nộp 23.250.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai số AA/2010/007291 ngày 12/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động được trừ vào tiền án phí, sau khi đối trừ số tiền án phí bà D còn phải nộp là 30.275.771đồng. Ông Nguyễn Văn L phải chịu 40.375.771đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn D1 phải chịu 2.161.350đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại số tiền 300.000đồng đã nộp tạm ứng tại biên lai số 0015583.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Xử:
[1] Chấp nhận 1 phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn L, sửa bản án sơ thẩm số 18/2023/HNGĐ-ST ngày 06/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang đối với số tiền bà Vũ Thị D trích chia cho ông Nguyễn Văn L, số tiền bà D phải trả cho các hàng thừa kế của cụ K1, cụ C, số tiền bà D phải trả cho anh Nguyễn Văn D1 và tiền án phí dân sự sơ thẩm các đương sự phải nộp.
* Giao cho bà Vũ Thị D được quản lý, sử dụng và sở hữu những tài sản gồm:
Thửa đất ở, diện tích là 124,8m² tại thôn M, xã V, huyện S, đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số U859752 ngày 15/6/2003 cho hộ ông Nguyễn Văn L; trên đất có 01 căn nhà cấp 4 hai tầng, công trình phụ và bán mái tôn.
Thửa đất vườn, diện tích là 960m² và cây cối lâm lộc trên đất tại thôn M, xã V, huyện S đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Q849942 ngày 10/4/2004 mang tên hộ ông Nguyễn Văn L.
Số tiền bán xe máy 12.000.000đồng và tiền mua Bảo hiểm Nhân thọ P1 32.000.000đồng.
Bà Vũ Thị D có nghĩa vụ trích chia trả tiền chênh lệch cho ông L là 252.679.750đồng; Đối với phần của cụ K1, cụ C đã chết được chia giao cho các hàng thừa kế nhưng tạm giao cho ông L quản lý nên bà D có nghĩa vụ chuyển số tiền 452.270.000đồng cho ông L. Tổng số tiền bà D phải trả ông L là 704.949.750đồng. Bà D phải trả cho anh Nguyễn Văn D1 số tiền 43.227.000 đồng.
Bà Vũ Thị D phải trả tiền công nợ cho: Ông Nông Văn T là 100.000.000đồng; bà Vũ Thị T1 là 70.000.000đồng; ông Bế Văn T2, bà Vũ Thị M là 60.000.000 đồng; bà Ngọc Thị M1 là 20.000.000đồng và bà Đàm Thị H là 13.000.000đồng.
* Giao cho ông Nguyễn Văn L được quản lý, sử dụng và sở hữu những tài sản gồm:
Thửa đất ở và vườn, diện tích 2.622m² (trong đó có 660m² đất ở và 1962m² là đất vườn) tại thôn M, xã V, huyện S đã được UBND huyện S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BP 719274 ngày 07/8/2013 cấp cho ông Nguyễn Văn L, bà Vũ Thị D. Trên đất có 01 nhà gỗ lim 05 gian xây bao tường, công trình phụ, sân gạch, bán mái tôn và cây cối lâm lộc trên đất.
Giao thửa đất nông nghiệp diện tích 700,4m² GCNQSDĐ số CĐ533808 cho anh Nguyễn Văn D1 và thửa đất nông nghiệp diện tích 345,4m² GCNQSDĐ số CĐ533806 cho chị Nguyễn Thị Như Q đều do UBND huyện S cấp ngày 07/10/2016 ở khu đồng C, thôn M, xã V.
Ông Nguyễn Văn L phải giao cho bà Vũ Thị D quản lý, sở hữu: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện S cấp số U859752 ngày 15/6/2003 và 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện S cấp số U859752 ngày 15/6/2003.
Ông Nguyễn Văn L được nhận số tiền 252.679.750đồng từ bà Vũ Thị D. Đối với phần của cụ K1, cụ C đã chết được chia giao cho các hàng thừa kế nhưng tạm giao cho ông L quản lý nên bà D có nghĩa vụ chuyển số tiền 452.270.000đồng cho ông L. Tổng số tiền bà D phải trả ông L là 704.949.750đồng nhưng trừ đi 551.000đồng (bà D trả nợ hộ cho ông L). Tổng cộng số tiền ông L được nhận từ bà D là 704.398.750đồng. Bà D phải trả cho anh Nguyễn Văn D1 số tiền 43.227.000 đồng.
[2] Về lãi suất Thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Về án phí: Bà Vũ Thị D phải chịu 53.525.771đồng án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận bà Vũ Thị D đã nộp 23.250.000đ tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm tại biên lai số AA/2010/007291 ngày 12/01/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động được trừ vào tiền án phí, sau khi đối trừ số tiền án phí bà D còn phải nộp là 30.275.771đồng. Ông Nguyễn Văn L phải chịu 40.375.771đồng án phí dân sự sơ thẩm. Anh Nguyễn Văn D1 phải chịu 2.161.350 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Anh Nông Văn T, bà Vũ Thị T1, ông Bế Văn T2, bà Vũ Thị M, bà Ngọc Thị M1, bà Đàm Thị H, bà Nguyễn Thị Đ không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả bà Ngọc Thị M1 500.000đông tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm nộp tại biên lai số AA/2010/007355 ngày 18/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Động.
[4] Về chi phí tố tụng: Hết số tiền 12.292.000 đồng, bà D, ông L đã nộp số tiền trên. Bà D chịu 6.146.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp, ông L chịu 6.146.000 đồng.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0015583 ngày 28/8/2023 tại Chi cục thi hành án huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Thông |
Bản án số 27/2024/HNGĐ-PT ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về chia tài sản chung sau ly hôn
- Số bản án: 27/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Chia tài sản chung sau ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Vũ Thị D, ông Nguyễn Văn L chia tài sản chung sau ly hôn
