TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST
Ngày 11-6-2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Yến
Bà Nguyễn Minh Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Văn Tường - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số 19/2024/QĐST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Hà G; nơi cư trú: Số A B Khu C, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Vũ Đức X; nơi cư trú: Thôn L, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22 tháng 02 năm 2024, bản tự khai nguyên đơn là chị Bùi Thị Hà G trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vũ Đức X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam vào ngày 21/02/2019. Sau khi kết hôn, anh X đi làm xa còn chị sống cùng gia đình chồng tại L được vài ngày thì nảy sinh mâu thuẫn với gia đình chồng nên chị đã về nhà mẹ đẻ ở Hải Phòng để sinh sống. Từ đó, chị và anh X sống xa nhau, chỉ liên lạc qua điện thoại. Đến khoảng tháng 11/2022, anh chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hợp nhau, anh X không điều hoà được quan hệ giữa chị và gia đình anh X. Chị và anh X sống mỗi người một nơi, làm ăn ổn định. Từ đó vợ chồng không còn quan tâm nhau. Nay xét thấy vợ chồng không ràng buộc nhau về kinh tế lẫn tình cảm, cả hai đều có cuộc sống riêng nên chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh X.
Về con chung: Chị và anh X có 01 con chung là cháu Vũ Ngọc Bảo L, sinh ngày 17/10/2019. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Về cấp dưỡng nuôi con, chị không yêu cầu Toà án Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Chị G không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Vũ Đức X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh nhất trí với chị G về điều kiện, hoàn cảnh kết hôn, quá trình chung sống của vợ chồng. Sau khi cưới, anh đi Hàn Quốc tiếp tục chương trình học và làm việc tại Hàn Quốc, còn chị G sống cùng gia đình anh ở L. Chị G ở cùng gia đình chồng được một thời gian ngắn thì về Hải Phòng sinh sống. Vợ chồng vẫn liên lạc qua điện thoại bình thường, hàng tháng anh vẫn gửi tiền về nuôi con. Đến khoảng cuối năm 2022, anh bị tai nạn phải điều trị tại Hàn Quốc, sau khi điều trị xong anh V Việt Nam và sống tại huyện L, tỉnh Hà Nam sinh sống và anh và chị G vẫn liên lạc bình thường tự dưng thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vì sau thì anh không rõ. Anh chị sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị G xin ly hôn, anh không đồng ý ly hôn, anh đề nghị Tòa án nhân dân quận Hải An hòa giải vì anh còn thương chị G và con rất nhiều. Giờ sức khỏe của anh đã ổn định nên anh mong muốn được sống cùng vợ con. Còn nếu chị G cương quyết ly hôn thì anh cũng chấp nhận.
Về con chung: Anh và chị G có 01 con chung là Vũ Ngọc Bảo L, sinh ngày 17/10/2019. Nếu chị G kiên quyết ly hôn thì anh muốn trực tiếp nuôi con. Anh không yêu cầu chị G cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh và chị G không có tài sản chung nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa, anh X xác nhận từ khi kết hôn vợ chồng anh chị mới chỉ gặp nhau 1 - 2 lần, gặp con được 3 lần, anh vẫn còn thương chị G, tuy nhiên anh chị sống mỗi người một nơi, hôm nay chị G vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý ly hôn. Về con chung: Hiện cháu còn bé và vẫn do chị G chăm sóc. Anh đồng ý giao con cho chị G nhưng chị G phải cho anh gặp con. Nếu chị G không còn đủ điều kiện nuôi con thì anh sẽ khởi kiện bằng vụ án khác. Việc cấp dưỡng nuôi con anh tự thỏa thuận với chị G nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị G và anh X kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh chị phát sinh mâu thuẫn. Từ cuối năm 2022 đến nay, vợ chồng sống mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến ai. Như vậy, xác định mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị G, cho chị G được ly hôn với anh Vũ Đức X.
Về con chung: Chị G và anh X có 01 con chung là Vũ Ngọc Bảo L, sinh ngày 17/10/2019. Cháu bảo còn nhỏ, hiện nay ở ổn định cùng với chị G. Chị G và anh X đều có đủ điều kiện để nuôi con. Tại phiên tòa, anh X đồng ý giao con chung cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy, yêu cầu của chị G là có căn cứ chấp nhận. Căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu L cho chị G trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung: Chị G và anh X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị G phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Tại thời điểm khởi kiện, bị đơn là anh Vũ Đức X trú tại huyện L, tỉnh Hà Nam. Tuy nhiên anh X có đơn đề nghị gửi Tòa án nhân dân quận Hải An đề nghị Tòa án nhân dân quận Hải An giải quyết vụ việc ly hôn giữa chị G và anh. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về sự vắng mặt của nguyên đơn: Nguyên đơn chị Bùi Thị Hà G vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân quận Hải An, thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
- Về nội dung:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Hà G và anh Vũ Đức X quyết định kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, theo quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh X đi học và làm tại Hàn Quốc còn chị G về nhà mẹ đẻ ở Hải Phòng sinh sống. Từ đó anh chị chỉ liên lạc với nhau qua điện thoại. Đến tháng 11/2022, bị tai nạn, sau khi điều trị xong anh về Việt Nam và sống tại huyện L, tỉnh Hà Nam và vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng rạn nứt. Anh chị sống mỗi người một nơi, không còn quan tâm đến nhau. Theo như anh X trình bày từ khi kết hôn đến nay anh chị mới gặp nhau được 1 đến 2 lần. Chị G xin ly hôn, anh X không đồng ý ly hôn vì anh vẫn còn tình cảm với chị G nhưng không có hành động, phương pháp để hàn gắn quan hệ vợ chồng. Chị G vẫn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh X. Tại phiên tòa anh X trình bày chị G đã kiên quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý. Như vậy, xét mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị G và anh X vi phạm nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình và chung sống với nhau của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, áp dụng Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Hà G, giải quyết cho chị G được ly hôn với anh Vũ Đức X.
[4] Về con chung: Chị G và anh X có 01 con chung là Vũ Ngọc Bảo L, sinh ngày 17/10/2019. Ly hôn, chị G và anh X đều nhận nuôi con. Xét, anh X và chị G đều đủ điều kiện để nuôi con. Tuy nhiên cháu L còn nhỏ tuổi, cần sự chăm sóc của mẹ, từ khi sinh ra đến nay, cháu L ở với chị G, được chị G và gia đình bên ngoại chăm sóc rất tốt. Chị G làm nghề tự do, có thu nhập, đảm bảo điều kiện nuôi con. Tại phiên tòa anh X đồng ý giao con cho chị G chăm sóc nuôi dưỡng. Vì vậy, yêu cầu của chị G về con chung, giao con chung là cháu L cho chị G trực tiếp nuôi con là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình và phù hợp điều kiện thực tế. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị G, anh X không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Hà G và anh Vũ Đức X không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Chị Bùi Thị Hà G phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Hà G và anh Vũ Đức X được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 147, 227, 235 và điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Bùi Thị Hà G được ly hôn với anh Vũ Đức X.
2. Về con chung: Giao cháu Vũ Ngọc Bảo L, sinh ngày 17/10/2019 cho chị Bùi Thị Hà G trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị G và anh X không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
3. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị Hà G và anh Vũ Đức X không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Chị Bùi Thị Hà G phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005538 ngày 11/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Chị G đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:
Chị Bùi Thị Hà G được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Anh Vũ Đức X được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI AN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
