|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2024/DS-PT Ngày 11 tháng 02 năm 2025 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
|
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Chuyền
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tú và bà Nguyễn Thị Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Đình Sắc- Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh- Kiểm sát viên trung cấp.
Trong ngày các ngày 16/01/2025 và 11/02/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 252/2024/TLPT- DS ngày 21 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS- ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 317/2024/QĐ-PT ngày 09 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 453/2024/QĐ-PT ngày 20/12/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 14/2025/QĐ-PT ngày 16/01/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1954. Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T: Bà Tô Thị H, sinh năm 1966. Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T: Bà Nguyễn Thị L- Luật sư thuộc Văn phòng Luật sư Kim Vĩnh A thực hiện trợ giúp pháp lý cho ông T.
- Bị đơn: Cụ Nguyễn Thị N, sinh năm 1943. Địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Tô Thị H, sinh năm 1966.
- Chị Nguyễn Thị Ngọc T1, sinh năm 1992
- Chị Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1994
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1966
- Ông Nguyễn Sơn H1, sinh năm 1968
- Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1964
- Bà Đỗ Thị V, sinh năm 1976
- Anh Nguyễn Nhật H2, sinh năm 1999
- Chị Nguyễn Thị Diệu L1, sinh năm 1990
- Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Y do ông Vũ Thành N1 – Công chức địa chính – xây dựng đại diện theo ủy quyền.
- Ủy ban nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang do ông Huỳnh Anh T2 – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường đại diện theo ủy quyền.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Cùng địa chỉ: Nhà H, ngách A, xóm C, T, T, T, Hà Nội.
HKTT: G, N, T, Hà Nội.
Nơi ở: Phòng 3104 Tòa chung cư K, đường N, phường T, quận T, Hà Nội.
(Bà Tô Thị H, Luật sư Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị M có mặt; các đương sự khác vắng mặt)
Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu trong hồ sơ vụ án thì nội dung vụ án được xác định như sau:
* Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn T do bà Tô Thị H đại diện theo ủy quyền trình bày: Vợ chồng ông bà được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 830857, số vào sổ cấp GCN QSDĐ 01156 theo Quyết định số 1356/QĐ-UBND ngày 15/6/2006. Cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T và bà Tô Thị H được quyền sử dụng thửa đất số 30, tờ bản đồ số 19, diện tích 968,9m² gồm 100m² đất ở và 868,9m² đất vườn, địa chỉ thửa đất tại phố H, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đến nay chưa cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất có tứ cận là: Phía Đông giáp hộ ông C, phía Nam giáp hộ ông H3, phía Tây giáp hộ cụ N, phía Bắc giáp đường đi. Đường đi này cũng dẫn vào hộ cụ N. Trước đây đường đi vào hộ cụ N là lối mòn nhỏ đi xuống cánh đồng. Sau đó để tiện sử dụng cho hộ cụ N và các hộ dân khác đi ra cánh đồng sản suất, gia đình bà rào dịch vào đất thổ cư của bà để mở rộng con đường nhưng phần đất này vẫn nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông bà. Năm 2020, Ủy ban nhân dân huyện Y thu hồi đất tại cánh đồng và sân vận động cũ làm khu liên hợp thể thao thì cụ N xây tường chiếm phần đất đường đi này làm của riêng. Nay ông T khởi kiện yêu cầu cụ Nguyễn Thị N phải tháo dỡ cánh cổng, tường cay và trả lại cho ông T phần đất tại thửa đất số 30, tờ bản đồ số 19 tại Tổ dân phố H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Phần đất yêu cầu trả lại dài khoảng 20m, rộng khoảng 1,55m, diện tích khoảng 31m², phía Bắc giáp đường, phía Đông giáp hộ ông C, phía Tây giáp hộ cụ N, phía Nam giáp gia đình ông bà (ông T bà H).
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị M– con gái của cụ N trình bày: Năm 1977, gia đình bà được Ủy ban nhân dân huyện Y giao cho thửa đất giáp ranh với hộ ông T hiện nay. Gia đình bà được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 072985 (có thể số này không chính xác vì mờ không rõ), số vào sổ cấp GCN: 01027 QSDĐ/QĐ 1022H, cấp ngày 14/3/2004. Cấp cho hộ cụ Nguyễn Thị N được quyền sử dụng thửa đất số 29, tờ bản đồ số 19, diện tích 2.907,1m² gồm 200m² đất ở và 2.709,1m² đất vườn tại phố H, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Đến nay chưa cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Con đường đi vào gia đình bà mà ông T đang khởi kiện đòi gia đình bà phải trả có nguồn gốc được gia đình bà sử dụng từ năm 1977. Sau nhiều lần mở rộng, năm 2013 gia đình bà đổ bê tông, xây cột cổng và làm cánh cổng sắt và đến năm 2020 thì nhà nước thu hồi một phần đường đi để làm khu liên hợp thể thao. Đến lúc này bà mới biết khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004, nhà nước đã cấp thiếu diện tích, cấp không đúng hiện trạng vì không cấp đường đi này vào thửa đất của gia đình bà. Nay vợ chồng ông T khởi kiện yêu cầu gia đình bà phải tháo dỡ cánh cổng, tường cay và trả lại cho ông T phần đất đường đi là không có căn cứ, gia đình bà không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.
* Ủy ban nhân dân huyện Y do ông Huỳnh Anh T2- Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Y đại diện trình bày:
1. Đất của bà Tô Thị H: Được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 830857, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 01156 theo Quyết định số 1356/QĐ-UBND ngày 15/6/2006. Cấp cho hộ ông Nguyễn Văn T và bà Tô Thị H được quyền sử dụng thửa đất số 30, tờ bản đồ số 19, diện tích 968,9m² gồm: Đất ở 100m² và đất vườn 868,9m², địa chỉ thửa đất tại phố H, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
2. Đất của cụ Nguyễn Thị N: Được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN 01027 QSDĐ/QĐ 1022H, cấp ngày 14/3/2004; hộ cụ Nguyễn Thị N được quyền sử dụng thửa đất số 29, tờ bản đồ số 19, diện tích 2.907,1m² gồm: Đất ở 200m² và đất vườn 2.709,1m² tại phố H, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Năm 2020, nhà nước thu hồi một phần diện tích thực hiện dự án khu liên hợp thể thao. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 2 hộ gia đình đảm bảo đúng quy định pháp luật. Việc kết quả đo đạc hiện trạng, diện tích giảm hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cho hộ ông Nguyễn Văn T là do sai số trong đo đạc. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện xem xét giải quyết theo thẩm quyền.
* Ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện Y trình bày: Phần đất đang tranh chấp giữa ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị N là lối đi vào thửa đất của bà Nguyễn Thị N, phần đất lối đi này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể:
Tại tờ bản đồ giải thửa can vẽ năm 1998, thể hiện sân bóng (thửa số 78, diện tích 14.679m², tờ bản đồ số 06) liền với lối đi sau đó mới đến đất của cụ N.
Tại tờ bản đồ địa chính số 378460-5-d đo vẽ năm 2001 thể hiện phần đất đang tranh chấp là lối đi vào đất của gia đình cụ N.
Lối đi này được gia đình cụ N sử dụng từ những năm 1977 để đi vào thửa đất của bà và là lối đi duy nhất của gia đình. Trong quá trình sử dụng, gia đình cụ N nhiều lần cải tạo, nâng cấp lối đi và trồng một số cây ăn quả dọc lối đi vào. Lối đi này không thuộc quyền quản lý của Ủy ban nhân dân thị trấn. Năm 2020, Ủy ban nhân dân huyện Y đã thu hồi một phần lối đi vào thửa đất của cụ N để xây dựng khu liên hợp thể thao.
Về trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ N năm 2004 và gia đình ông T năm 2006 đúng trình tự thủ tục. Tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình cụ N và gia đình ông T không ai có ý kiến khiếu nại, tranh chấp gì. Thửa đất của ông T được sử dụng ổn định, đã xây tường và hàng rào xung quanh rõ ràng, không có tranh chấp gì với các hộ liền kề (trừ phần đất đang tranh chấp với cụ N trong vụ án này). Nay ông T tranh chấp đất với cụ N thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
* Kết quả đo đạc và xem xét thẩm định tại chỗ xác định được phần đất tranh chấp có diện tích 28,3m², có giáp ranh là cạnh 1-6 giáp lối vào thửa đất của cụ N, rộng 1,5m; Cạnh 1-2-3 giáp phần còn lại của lối đi cũ, dài 18,99m; Cạnh 3-4 giáp lối đi vào cổng hộ ông T, dài 1,5m; Cạnh 4-5-6 giáp thửa đất của ông T, dài 18,79m, có tường bao ngăn cách phần đất này với thửa đất của ông T. Trên 28,3m² đất này có tường rào xây cay bê tông, cổng sắt, trụ cổng xây cay, cột điện của hộ cụ N.
* Tại phiên tòa sơ thẩm: Bà H đại diện cho ông T yêu cầu cụ N phải tháo dỡ cánh cổng, tường cay và trả lại cho ông T 28,3m² đất tại thửa đất số 30, tờ bản đồ số 19 tại Tổ dân phố H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Kích thước phần đất yêu cầu trả như kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đã nêu.
Với nội dung trên, bản án dân sự số 69/2024/DS- ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 175; Điều 176 Bộ luật dân sự. Khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 170, khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T đối với cụ Nguyễn Thị N về việc yêu cầu cụ Nguyễn Thị N phải tháo dỡ công trình để trả lại ông Nguyễn Văn T phần đất 28,3m² có giáp ranh là: cạnh 1-6 giáp lối vào thửa đất của cụ N, rộng 1,5m; Cạnh 1-2-3 giáp phần còn lại của lối đi cũ, dài 18,99m; Cạnh 3-4 giáp lối đi vào cổng hộ ông T, dài 1,5m; Cạnh 4-5-6 giáp thửa đất của ông T, dài 18,79m, có tường bao ngăn cách phần đất này với thửa đất của ông T. Địa chỉ phần đất tại Tổ dân phố H, thị trấn P, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (Có sơ đồ minh họa kèm theo bản án).
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
Ngày 07/10/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bà H trình bày: Gia đình bà đã tách thửa đất nhưng do bà M không ký giáp ranh nên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất tách thửa. Lối đi đang có tranh chấp có nhiều gia đình sử dụng làm lối đi chung nhưng bà xác định diện tích đất này thuộc quyền sử dụng của gia đình bà. Gia đình bà xây dựng tường năm 2015 để chắn nước ở trên đồi không chảy xuống, không nhằm xác định ranh giới thửa đất của gia đình bà. Năm 2016, bà M đổ bê tông đường đi để cưới con gái, việc đổ bê tông không có tranh chấp gì. Bà đại diện cho ông T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T.
Bà M trình bày: Bà không nhất trí với yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Bà xác định diện tích đất lối đi bị thu hồi có nằm trong tổng diện tích đất 408,8 m² mà gia đình bà bị thu hồi.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông T là bà Nguyễn Thị L trình bày và đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để thu thập tài liệu chứng cứ làm rõ diện tích đất ngõ là bao nhiêu.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật của Thư ký, HĐXX và của các đương sự theo quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của ông T, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 69/2024/DS- ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
Ông Nguyễn Văn T được miễn án phí DSPT .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm việc vắng mặt lần thứ hai của bị đơn và một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự này.
[2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn T:
[2.1] Về nội dung vụ án: Nguồn gốc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 19, diện tích 968,9m² gồm: Đất ở 100m² và đất vườn 868,9m², địa chỉ thửa đất tại phố H, thị trấn C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang là do cụ Đ là bố của ông T để lại. Thửa đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2003, diện tích là 1.320,9m² và cấp theo bản đồ đo đạc năm 2001. Năm 2006, cụ Đ tách đất tặng cho các con sau đó ông T được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 830857, số vào sổ cấp GCNQSDĐ 01156 theo Quyết định số 1356/QĐ-UBND ngày 15/6/2006 cho hộ ông Nguyễn Văn T và bà Tô Thị H. Từ đó đến nay chưa được cấp đổi lần nào. Phía Tây của thửa đất giáp thửa đất của cụ N, phía Đông giáp thửa đất của ông C, phía Nam giáp thửa đất của ông H4 và phía Bắc có tường bao giáp lối đi. Bà H cho rằng trước đây lối đi nhỏ, hộ cụ N và các hộ khác đi làm ruộng qua để lên hàng rào của gia đình bà nên gia đình bà tự nguyện lùi lại ranh giới 1,5m để mở rộng lối đi.
Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì thấy phần đất đang tranh chấp là một phần của lối đi cũ dẫn vào hộ cụ N có diện tích là 28,3m². Trên đất có tường rào xây cay bê tông, cổng sắt, trụ cổng xây cay, cột điện của hộ cụ N. Theo bà H thì phần đất tranh chấp này nằm trong thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà năm 2006. Đối với lối đi thì theo bà là lối đi chung của mấy hộ gia đình, không phải của mình cụ N, nhưng bà không có căn cứ chứng minh. Bà và ông T yêu cầu cụ N trả diện tích 28,3 m² và tháo dỡ các tài sản trên diện tích đất này.
Theo bà M con của cụ N và là người được cụ N tặng cho phần đất giáp với thửa đất của ông T thì phần đất này thuộc lối đi vào gia đình bà từ năm 1977, trước là đường đất, đến năm 2013 đã được gia đình bà đổ bê tông, xây tường rào sử dụng không có tranh chấp gì. Bà không chấp nhận yêu cầu trả lại đất của ông T.
Đơn vị đo đạc không so sánh được hiện trạng sử dụng đất của ông T với bản đồ năm 2001 (là bản đồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Đ sau đó tách ra cho ông T) nên không có căn cứ xác định 28,3m² đất tranh chấp có nằm trong thửa đất của ông T hay không. Đối chiếu kích thước ghi trong sơ đồ thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T năm 2006 với kích thước thửa đất theo đo đạc hiện nay thì thấy không trùng khớp nhau.
Theo địa phương cho biết thì ranh giới thửa đất của ông T từ trước đến nay có tường bao và hàng rào, không có thay đổi gì. Lối đi (phần đất tranh chấp) đã hình thành từ năm 1977, sau đó mở rộng ra. Ông T cũng xây tường ngăn thửa đất của gia đình ông với phần đất tranh chấp 28,3m² này. Lối đi trước đây hẹp sau đó cụ N cải tạo đổ bê tông (khoảng năm 2012 – 2013) đã mở rộng lối đi về phía mương, phía ruộng, không phải mở về phía thửa đất của ông T. Mọi người sử dụng lối đi ổn định, không có tranh chấp gì, cho đến khi thu hồi đất xây khu đô thị năm 2020 mới xảy ra tranh chấp, ông T phá tường đã xây.
Diện tích thửa đất của gia đình ông T hiện nay là 833,4m², giảm 135,5m² so với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T năm 2006 là 968,9m². Tuy nhiên theo đại diện Ủy ban nhân dân huyện Y, đại diện Ủy ban nhân dân thị trấn P và các đương sự đều trình bày ranh giới thửa đất của ông T trước đến nay có tường bao và hàng rào, không có thay đổi gì nên nguyên nhân giảm diện tích là do sai số đo đạc. Mặt khác phần đất tranh chấp chỉ có 28,3m² trong khi diện tích giảm 135,5m² nên không có căn cứ xác định nguyên nhân giảm diện tích này là do ông T xây tường lùi lại, để lại diện tích đất 28,3m² cho cụ N mở rộng lối đi.
Do đó, không có căn cứ xác định 28,3m² đất đang tranh chấp nằm trong diện tích đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông T nên không có căn cứ xác định diện tích đất này thuộc quyền sử dụng của hộ ông T.
Bản án sơ thẩm tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T về việc yêu cầu cụ N phải tháo dỡ công trình trên diện tích đất 28,3 m² và trả lại cho ông quyền sử dụng diện tích đất này là phù hợp.
[2.2] Từ nhận định trên đây, xác định ông Nguyễn Văn T kháng cáo bản án, đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là không có căn cứ để chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 69/2024/DS- ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
[2]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Văn T phải chịu án phí DSPT, nhưng ông T được miễn vì là người cao tuổi theo quy định tại Điều 12, Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn T, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 69/2024/DS- ST ngày 28 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Thế, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí: Ông Nguyễn Văn T được miễn án phí DSPT.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Chuyền |
Bản án số 27/2024/DS-PT ngày 11/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 27/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
