TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/KDTM-PT Ngày 10/9/2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bé.
Các Thẩm phán:
Bà Mai Vương Thảo.
Ông Vũ Việt Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng: Bà Nguyễn Thị Tú Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 16/2024/TLPT-KDTM ngày 02 tháng 8 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 08/2024/KDTM-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 160/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 266/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q; Địa chỉ trụ sở: 28C – B đường B, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
- Người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Q: Bà Đinh Thị L – Phó Giám đốc Trung tâm - xử lý nợ. (Theo văn bản ủy quyền ngày 24/01/2024 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Q).
- Bà Đinh Thị L ủy quyền lại: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1990, hoặc/và ông Nguyễn Lâm Huy T1, sinh năm: 1992, hoặc/và bà Vũ Thị Hồng P, sinh năm 1999, hoặc/ và ông Dương Hồ V, sinh năm 1990 - Chức vụ: Chuyên viên - Phòng xử lý nợ Miền B. Địa chỉ liên hệ: Tầng B, số E đường N, phường K, quận C, thành phố Đà Nẵng (Theo văn bản ủy quyền số: 3045/2024/UQ-BDH.NCB ngày 08/05/2024). Ông V có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH T3 - Địa chỉ trụ sở: Số A đường N, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Hồng M – Sinh năm: 1977 – Chức vụ : Giám đốc - Nơi ĐKHKTT: Tổ C phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở hiện tại: 127 đường N, phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lương Thị Thanh N; Sinh năm 1968.
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Lương Thị Thanh N : Ông Phạm Văn M1. Sinh năm 1987; địa chỉ : Thôn L, xã V, huyện T, tỉnh Quảng Bình. (Theo văn bản ủy quyền ngày 06/9/2024). Bà N và ông M1 đều có mặt.
- Chị Trần Lương Thảo L1; Sinh năm 1993.
- Anh Trần Đức T2; Sinh năm 2001.
Cùng địa chỉ: 8 đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (Đều có Đơn xin xét xử vắng mặt).
- Phòng Công chứng số B thành phố Đà Nẵng – Địa chỉ: B đường Đ, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Ông Lương Minh H – Sinh năm: 1977 – Địa chỉ: A đường N, tổ C phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Bà Lê Thị Hồng M - Sinh năm: 1977 – Địa chỉ: A đường N, tổ C phường A, quận T, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ: K L, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Thanh H1 – Sinh năm: 1963 – Địa chỉ: Tổ E phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng. Địa chỉ: Tổ A phường M, quận N, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Người kháng cáo: Ngân hàng TMCP Q là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Q do ông Dương Hồ V trình bày: Ngày 24/09/2020, giữa Ngân hàng TMCP Q và Công ty TNHH T3 có ký kết Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 017/20/HĐHM-9223 với hạn mức cho vay tối đa là 4.500.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn lưu động ngắn hạn, thời hạn duy trì hạn mức là 12 tháng. Căn cứ vào hợp đồng hạn mức trên, ngày 29/09/2020, Ngân hàng TMCP Q và Công ty TNHH T3 ký Khế ước nhận nợ số: 001/2020/KUNN/017/20/HĐHM-9223 để Công ty TNHH T3 vay số tiền là 1.350.000.000 đồng, thời hạn vay 06 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân, lãi suất trong hạn trong 03 tháng đầu kể từ ngày giải ngân là 10%/năm, lãi suất áp dụng cho khoản vay của khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần vào các ngày 29 theo công thức LSV = Lãi suất tham chiếu dành cho KHDN+2%/năm, lãi quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn. Ngày 15/10/2020, Ngân hàng TMCP Q và Công ty TNHH T3 ký tiếp Khế ước nhận nợ số: 002/2020/KUNN/017/20/HĐHM-9223 để Công ty TNHH T3 vay số tiền là 3.150.000.000 đồng, mục đích vay bổ sung vốn lưu động, thời hạn vay 06 tháng, kể từ ngày tiếp theo ngày giải ngân, lãi suất trong hạn trong 03 tháng đầu kể từ ngày giải ngân là 10%/năm, lãi suất áp dụng cho khoản vay của khách hàng cho thời gian tiếp theo được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần vào các ngày 15 theo công thức LSV = Lãi suất tham chiếu dành cho KHDN+2%/năm; lãi quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, lãi suất chậm trả lãi là 10%/năm. Để bảo đảm cho khoản vay trên, ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N đã thế chấp Quyền sử dụng thửa đất số 7; tờ bản đồ số 121; diện tích: 267,9m² và tài sản gắn liền với đất là nhà ở; diện tích sàn: 212,6 m²; diện tích xây dựng: 106,3 m²; cấp hạng: 2; số tầng: 2; kết cấu tường xây, mái đúc, sàn đúc tại địa chỉ 8 đường N, tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ655950; sổ vào sổ cấp GCN CH01022 do UBND quận L, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/01/2011 cho ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 018/2019/HĐTC-9224 ngày 11/04/2019; số công chứng 3978 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/04/2019. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH T3 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và đã phát sinh nợ quá hạn. Tính đến hết ngày 14/6/2022, Công ty TNHH T3 còn nợ Ngân hàng TMCP Q tiền 6.273.550.784 đồng, trong đó nợ gốc là 4.097.963.345 đồng và tiền lãi phát sinh với số tiền là 2.175.587.439 đồng (lãi trong hạn 19.935.616 đồng, lãi quá hạn 2.148.779.632 đồng và tiền lãi chậm trả lãi trong hạn 6.872.191 đồng). Do vậy, Ngân hàng TMCP Q yêu cầu buộc Công ty TNHH T3 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q đối với số tiền 6.273.551.784 đồng. Buộc Công ty TNHH T3 phải tiếp tục trả nợ lãi phát sinh được quy định tại Hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng TMCP Q kể từ ngày 15/6/2024 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ. Trường hợp Công ty TNHH T3 không thực hiện trả hoặc trả không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP Q toàn bộ số tiền nợ nêu trên và lãi phát sinh thì đề nghị xử lý tài sản đã thế chấp là Quyền sử dụng thửa đất số 7; tờ bản đồ số 121; diện tích: 267,9m² và tài sản gắn liền với đất là nhà ở; diện tích sàn: 212,6m²; diện tích xây dựng: 106,3m²; cấp hạng: 2; số tầng: 2; kết cấu tường xây, mái đúc, sàn đúc tại địa chỉ 8 đường N, tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ655950; sổ vào sổ cấp GCN CH01022 do UBND quận L cấp ngày 29/01/2011 cho ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 018/2019/HĐTC-9224 ngày 11/04/2019; số công chứng 3978 TP/CC-SCC/HĐGD.
- Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án đối với bị đơn Công ty TNHH T3 và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Hồng M, ông Lương Minh H, bà Nguyễn Thị Thanh H1 nhưng không ai có không có văn bản phản hồi và đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải được.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lương Thị Thanh N trình bày: Bà và ông Trần Đức L2 đăng ký kết hôn vào năm 1991, ngày 20/09/2020, ông Trần Đức L2 chết, bà N và ông L2 có 02 người con tên Trần Lương Thảo L1 và Trần Đức T2. Cha ông Trần Đức L2 là ông Trần H2 chết vào năm 1994 và mẹ là bà Lê Thị H3 chết năm 2013. Bà Lương Thị Thanh N thừa nhận vào ngày 11/4/2019 bà và ông L2 chồng của bà đã ký hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 018/2019/HĐTC-9224, số công chứng 3978 TP/CC-SCC/HĐGD thế chấp tài sản là Quyền sử dụng thửa đất số 7; tờ bản đồ số 121; diện tích: 267,9m² và tài sản gắn liền với đất là nhà ở; diện tích sàn: 212,6m²; diện tích xây dựng: 106,3m²; cấp hạng: 2; số tầng: 2; kết cấu tường xây, mái đúc, sàn đúc tại địa chỉ 8 đường N, tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ655950; sổ vào sổ cấp GCN CH01022 do UBND quận L, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/01/2011 cho ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N để đảm bảo khoản vay của Công ty TNHH T3 vay tổng số tiền là 13.500.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng hạn mức số : 024/19/HĐHM -9224 ngày 11/4/2019 và các khế ước nhận nợ cụ thể gồm:
- SỐ 001/KUNN/024/19/HĐHM-9224 ngày 11/4/2019.
- Số 002/2020/KUNN/024/19/20/HĐHM – 9224 n gày 15/10/2019.
- Số 003/2020/KUNN/024/19/20/HĐHM-9224 ngày 18/03/2020.
- Số 004/2020/KUNN/024/19/20/HĐHM-9224 ngày 10/03/2020
- Số 005/2020/KUNN/024/19/20/HĐHM-9224 ngày 27/03/2020.
- Số 006/2020/KUNN/024/19/20/HĐHM-9224 ngày 01/04/2020.
Ngày 14/10/2020, Công ty TNHH T3 đã thanh toán hết khoản vay cho Ngân hàng Ngân hàng TMCP Q tiền 13.500.000.000 đồng. Bà N không thừa nhận bà và ông L2 đã thế chấp tài sản của vợ chồng là Quyền sử dụng thửa đất số 7 tờ bản đồ số 121 và tài sản gắn liền với đất là nhà ở tại địa chỉ 8 đường N, tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ655950 do UBND quận L, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/01/2011 cho ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N để đảm bảo khoản vay của Công ty TNHH T3 theo hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 017/20/HĐHM-9223 ngày 24/09/2020 và các ký Khế ước nhận nợ số 001/2020/KUNN/017/20/HĐHM-9223 để Công ty TNHH T3 vay số tiền là 1.350.000.000 đồng và khế ước nhận nợ số 002/2020/KUNN/017/20/HĐHM-9223 ngày 15/10/2020 để Công ty TNHH T3 vay số tiền là 3.150.000.000 đồng vì theo kết quả giám định của Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng kết luận:
- Chữ viết ghi họ và tên Trần Đức L2 và chữ ký của ông Trần Đức L2 dưới mục “Thành viên” tại biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 10/09/2020 không phải chữ ký và chữ viết của ông Trần Đức L2.
- Chữ viết ghi họ và tên Trần Đức L2 và chữ ký của ông Trần Đức L2, chữ viết ghi họ và tên Lương Thị Thanh N và chữ ký của bà Lương Thị Thanh N dưới ‘mục bảo lãnh” tại giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ ngày 10/09/2020 không phải là chữ viết và chữ ký của ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N.
Đối với Biên bản làm việc ngày 20/10/2021 giữa ba bên là Ngân hàng, Giám đốc Công ty TNHH T3 là bà và bà Lương Thị Thanh N thì bà N cho rằng:
- Về tính xác thực của biên bản: Bà N xác nhận rằng vào thời điểm đó, nhận được thông báo mời họp của Ngân hàng thì bà đã tham dự và biên bản này là có thực, bà đã viết những nội dung như trong biên bản dưới sự hướng dẫn của cán bộ Ngân hàng;
- Về nội dung trong biên bản:
- Thứ nhất, hoàn cảnh tham gia cuộc họp là lúc chồng bà (ông Trần Đức L2) mất chưa được bao lâu. Hơn nữa, dịch Covid-19 vừa mới lắng xuống nên bà đang trong tình trạng bối rối và hết sức lo lắng khi biết căn nhà duy nhất của 3 mẹ con bà có thể rơi vào tình trạng bị phát mãi nếu như Công ty TNHH T3 không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng.
- Thứ hai, về đề xuất trả nợ từ phía Công ty TNHH T3 theo tiến độ đến hết 2021 là tất toán dư nợ, hoàn thành nghĩa vụ trả nợ và hoàn trả tài sản về cho gia đình bà thì bà hiểu rằng Công ty TNHH T3 cũng như bao doanh nghiệp khác đang rơi vào tình trạng khó khăn sau đại dịch là tình trạng chung, việc trễ hạn là điều dễ hiểu và việc đề nghị phía Ngân hàng tạo điều kiện cho Doanh nghiệp trả nợ dần là điều bà nên làm. Mặt khác, bà cũng đã nêu rất rõ nội dung đề nghị Công ty TNHH T3 trả nợ cho Ngân hàng theo đúng cam kết.
- Về nhận thức sự việc của bà tại thời điểm lập biên bản: Bà hoàn toàn không hiểu không can thiệp cũng như không hề có thông tin về kết quả kinh doanh của Công ty TNHH T3, việc xem xét và đưa ra quyết định dùng tài sản duy nhất của gia đình để bảo lãnh thế chấp cho Cty là do chồng bà quyết định. Tại thời điểm đó bà không có những kiến thức am hiểu về quy định cho vay, hoạt động cấp vốn của Ngân hàng. Bà cũng không hề biết việc tái cấp cho chu kỳ năm 2020 – 2021 của phía Ngân hàng TMCP Q với Công ty TNHH T3 đã có những chứng từ mà ở đó có những chữ ký không phải là chữ ký thực. Do vậy, biên bản nêu trên của Ngân hàng TMCP Q chỉ mang tính chất ghi lại nội nội dung một công việc trong tiến trình thu hồi nợ quá hạn của Ngân hàng mà hoàn toàn không có giá trị pháp lý để phủ định những sai sót tác nghiệp trước đó của Ngân hàng khi thực hiện tái cấp cho Công ty TNHH T3. Bà đã đọc kỹ lại và nhận thức rằng những nội dung bà viết trong biên bản là mang tính chất phối hợp, tạo điều kiện tốt cho phía Doanh Nghiệp cũng như Ngân hàng trong việc thu hồi nợ.
Từ những nội dung trình bày trên bà khẳng định vợ chồng bà đồng ý thế chấp tài sản của vợ chồng cho Công ty TNHH T3 vay theo hợp đồng tín dụng hạn mức số 024/19/HĐHM -9224 ngày 11/4/2019 và 06 khế ước nhận nợ trên.
Ngày 14/10/2020, Công ty TNHH T3 thanh toán hết khoản vay theo các khế ước nhận nợ nói trên thì vợ chồng bà không đồng ý dùng tài sản của vợ chồng để đảm bảo cho bất kỳ khoản vay khác của Công ty TNHH T3 theo như trình bày của đại diện Ngân hàng nên đề nghị Ngân hàng phải trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà, nhưng đến nay Ngân hàng vẫn chưa thực hiện. Do vậy, bà Lương Thị Thanh N có đơn yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án tuyên bố chấm dứt Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 018/2019/HĐTC-9224 ngày 11/04/2019 có số công chứng 3978 TP/CC-SCC/HĐGD và trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ655950, sổ vào sổ cấp GCN:CH01022 do UBND quận L cấp ngày 29/01/2011 cho ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N cho bà N.
Đối với nội dung nói trên, Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 08/2024/KDTM-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xử và quyết định: Căn cứ các khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 235 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 116, 117, 118, 463, Điều 466 và khoản 3 Điều 422 của Bộ luật dân sự; Căn cứ các Điều 91 và Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng 2010; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng TMCP Q đối với Công ty TNHH T3.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lương Thị Thanh N về việc tuyên bố chấm dứt hợp đồng thế chấp số: 018/2019/HĐTC-9224 ngày 11/04/2019 số công chứng 3978 TP/CC-SCC/HĐGD giữa Ngân hàng TMCP Q với ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N.
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm Công ty TNHH T3 phải chịu là 114.273.551 đồng (Một trăm mười bốn triệu hai trăm bảy mươi ba ngàn năm trăm năm mươi mốt đồng).
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Công ty TNHH T3 phải chịu là 3.000.000 đồng và nộp lại cho Ngân hàng TMCP Q.
- Chi phí giám định: Bà Lương Thị Thanh N tự nguyện chịu (Đã nộp đủ và chi xong).
- Án phí đối với yêu cầu độc lập là: 300.000 đồng, Ngân hàng TMCP Q phải chịu. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.301.500 đồng theo biên lai thu số 0002728 ngày 07/06/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Q tiền là 56.001.500 đồng.
- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự biết theo quy định của pháp luật.
Buộc Công ty TNHH T3 phải trả cho Ngân hàng TMCP Q tính đến ngày 16/4/2024 với số tiền là 6.273.551.784 đồng (Sáu tỷ hai trăm bảy mươi ba triệu năm trăm năm mươi mốt ngàn bảy trăm tám mươi tư đồng) trong đó nợ gốc là 4.097.963.345 đồng và tiền lãi phát sinh với số tiền là 2.175.588.430 đồng, lãi trong hạn 19.935.616 đồng, lãi quá hạn 2.148.780.632 đồng và tiền lãi chậm trả lãi trong hạn 6.872.191 đồng.
Lãi tiếp tục được tính kể từ ngày 15/6/2024 cho đến khi Công ty TNHH T3 thanh toán hết toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 017/20/HĐHM-9223 ngày 29/09/2020, khế ước nhận nợ số 001/2020/KUNN/017/20/HĐHM-9223 ngày 29/09/2020 và khế ước nhận nợ số 002/2020/KUNN/017/20/HĐHM-9223 ngày 15/10/2020 giữa Ngân hàng TMCP Q với Công ty TNHH T3.
Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 7 tờ bản đồ số 121 và tài sản gắn liền với đất là nhà ở tại địa chỉ số H đường N, tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ655950, vào sổ cấp GCN số CH01022 do UBND quận L, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/01/2011 cho ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N không phải là tài sản đảm bảo cho bất kỳ khoản vay nào của Công ty TNHH T3.
Ngân hàng TMCP Q phải trả lại cho bà Lương Thị Thanh N bản chính Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ655950, vào sổ cấp GCN số CH01022 do UBND quận L, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/01/2011 cho ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N.
Hoàn trả lại cho bà Lương Thị Thanh N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000028 ngày 29/05/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 26/5/2024, Ngân hàng TMCP Q có đơn kháng cáo xem xét lại bản án sơ thẩm với lý do: Căn cứ điểm b, khoản 4, Điều 1 Hợp đồng thế chấp số 018/2019/HĐTC-9224 ngày 11/04/2019 giữa Ngân hàng TMCP Q với ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N thỏa thuận về “Nghĩa vụ được bảo đảm“ quy định “Nghĩa vụ được bảo đảm là các hợp đồng cấp tín dụng khác, tài liệu cấp tín dụng khác được ký kết giữa bên A và bên được bảo đảm trong khoản thời gian 20 năm kể từ ngày ký hợp đồng này... “. Như vậy, tại thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp, ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N đã đồng ý việc tiếp tục bảo đảm cho các khoản vay khác phát sinh sau khi ký hợp đồng thế chấp, cho nên việc Ngân hàng TMCP Q tiếp tục sử dụng hợp đồng thế chấp số: 018/2019/HĐTC-9224 ngày 11/04/2019 để đảm bảo cho khoản vay theo hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 017/20/HĐHM-9223 ngày 29/9/2020 là hoàn toàn đúng thỏa thuận và quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn là Công ty TNHH T3 do bà Lê Thị Hồng M là đại diện theo pháp luật; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lương Minh H, bà Lê Thị Hồng M, bà Nguyễn Thị Thanh H1 đều đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Bà Trần Lương Thảo L1, anh Trần Đức T2, Phòng Công chứng số B thành phố Đà Nẵng đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q thì thấy: Để đảm bảo cho khoản vay của Công ty TNHH T3, ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N đã ký hợp đồng thế chấp số: 018/2019/HĐTC-9224 ngày 11/4/2019 với Ngân hàng TMCP Q tự nguyện thế chấp tài sản của ông bà là Quyền sử dụng thửa đất số 7, tờ bản đồ số 121, diện tích 267,9m² và tài sản gắn liền với đất là nhà ở, diện tích sàn 212,6m², diện tích xây dựng 106,3m², cấp hạng 2, số tầng 2, kết cấu tường xây, mái đúc, sàn đúc tại địa chỉ số H đường N, tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ655950, sổ vào sổ cấp GCN là CH01022 do UBND quận L cấp ngày 29/01/2011 đứng tên ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N để Công ty TNHH T3 vay tổng số tiền 13.500.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng hạn mức số: 024/19/HĐHM-9224 ngày11/4/2019 và các khế ước nhận nợ gồm:
- SỐ 001/KUNN/024/19/HĐHM-9224 ngay 11/4/2019.
- Số 002/2020/KUNN/024/19/20/HĐHM- 9224 ngày 15/10/2019.
- Số 003/2020/KUNN/024/19/20/HĐHM-9224 ngày 18/03/2020.
- Số 004/2020/KUNN/024/19/20/HĐHM-9224 ngày 10/03/2020
- SỐ 05/2020/KUNN/024/19/20/HĐHM-9224 ngày 27/03/2020
- Số 006/2020/KUNN/024/19/20/HĐHM-9224 ngày 01/04/2020.
[2.1] Ngày 14/10/2020, Ngân hàng xác nhận Công ty TNHH T3 đã thanh toán số tiền 13.500.000.000 đồng theo hợp đồng hạn mức và các khế ước nhận nợ nói trên. Đến ngày 24/9/2020, Ngân hàng TMCP Q và Công ty TNHH T3 có ký hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 017/20/HĐHM-9223 với hạn mức cho vay tối đa là 4.500.000.000 đồng, trên cơ sở hợp đồng hạn mức tín dụng trên, ngày 29/09/2020, Ngân hàng TMCP Q và Công ty TNHH T3 ký khế ước nhận nợ số: 001/2020/KUNN/017/20/HĐHM-9223 để Công ty TNHH T3 ký khế vay số tiền là 1.350.000.000 đồng và ngày 15/10/2020 ký khế ước nhận nợ số: 002/2020/KUNN/017/20/HĐHM-9223 để Công ty TNHH T3 vay số tiền là 3.150.000.000 đồng. Và cũng trên cơ sở của hợp đồng thế chấp số: 018/2019/HĐTC-9224 ngày 11/4/2019 (Hợp đồng có thời hạn 20 năm kể từ ngày 11/4/2019).
[2.2] HĐXX xét thấy: Căn cứ vào Bản kết luận ngày 30/03/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Đà Nẵng: “Chữ viết ghi họ và tên Trần Đức L2 và chữ ký của ông Trần Đức L2 dưới mục “Thành viên” tại biên bản họp Hội đồng thành viên ngày 10/09/2020 không phải chữ ký và chữ viết của ông Trần Đức L2. Chữ viết ghi họ và tên Trần Đức L2 và chữ ký của ông Trần Đức L2, chữ viết ghi họ và tên Lương Thị Thanh N và chữ ký của bà Lương Thị Thanh N dưới ‘mục bảo lãnh” tại giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ ngày 10/09/2020 không phải là chữ viết và chữ ký của ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N”.
[2.3] Như vậy, cho thấy mặc dù hợp đồng thế chấp vẫn còn kéo dài thời hạn nhưng hợp đồng thế chấp ngày 11/4/2019 lại không đảm bảo khoản vay cho Công ty TNHH T3 vay vốn tại Ngân hàng TMCP Q đối với hạn mức cấp tín dụng số : 017/20/HĐHM-9223 ngày 24/9/2020 và khế ước nhận nợ số: 001/2020/KUNN/017/20/HĐHM-9223 ngày 29/09/2020 và khế ước nhận nợ số: 002/2020/KUNN/017/20/HĐHM-9223 ngày 15/10/2020 để Công ty TNHH T3 vay tổng số tiền là 4.500.000.000 đồng. Bởi do ông Trần Đức L2 là thành viên góp vốn của Công ty đã không ký vào họp Hội đồng thành viên ngày 10/09/2020 và giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ ngày 10/09/2020, ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N đều không ký vào các biên bản trên. (Đã được Phân viện KHHS tại thành phố Đà Nẵng kết luận). Các tài liệu này đều giả mạo chữ ký, chữ viết của ông L2, bà N. Hơn nữa, khoản vay này được ký kết sau ngày ông Trần Đức L2 chết (ngày 20/9/2020). Như vậy, nghĩa vụ bảo đảm tiền vay của ông Trần Đức L2 theo hợp đồng thế chấp số: 018/2019/HĐTC-9224 ngày 11/4/2019 hết hiệu lực pháp luật kể từ ngày tất toán hợp đồng tín dụng (ngày 14/10/2020) được bảo đảm hợp đồng thế chấp số: 018/2019/HĐTC-9224 ngày 11/4/2019. Mặt khác, do thời điểm ông Trần Đức L2 chết chưa phát sinh các nghĩa vụ phải bảo đảm hình thành trong tương lai đối với các khoản nợ sau này của Công ty TNHH T3 nên hợp đồng thế chấp số: 018/2019/HĐTC-9224 ngày 11/4/2019 đã chấm dứt kể từ ngày ông Trần Đức L2 chết.
[2.4] Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP Q yêu cầu thực hiện việc giám định chữ ký, chữ viết của bà Lương Thị Thanh N và ông Trần Đức L2 tại Biên bản thoả thuận (Sử dụng trong trường hợp tài sản bảo đảm của bên thứ ba) ngày 24/9/2020; Biên bản ba bên (Áp dụng khi phát sinh hợp đồng cấp tín dụng mới trong trường hợp TSBĐ thuộc sở hữu của bên thứ ba) ngày 24/9/2020; biên bản thỏa thuận giá trị tài sản ngày 24/9/2020. HĐXX xét thấy: Như đã phân tích trên thì các biên bản này sau ngày ông Trần Đức L2 chết. Hơn nữa, cũng không xác định chữ ký, chữ viết của ông bà Lương Thị Thanh N và ông Trần Đức L2 bảo đảm cho khoản vay trước hay khoản vay sau nếu cho rằng hợp đồng cấp tín dụng lần sau là do Ngân hàng ghi nhầm thời gian ký kết hợp đồng. Do vậy, xét thấy không cần thiết để thực hiện việc giám định chữ ký, chữ viết trên của ông L2 và bà N trên 03 biên bản trên, đồng thời yêu cầu này cũng chưa được cấp sơ thẩm xem xét nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu này của Ngân hàng TMCP Q. Vì vậy, việc cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q về xử lý tài sản đã thế chấp và chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Lương Thị Thanh N về tuyên chấm dứt hợp đồng thế chấp ngày 11/4/2019 và buộc Ngân hàng TMCP Q phải trả lại cho bà Lương Thị Thanh N bản chính Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là hoàn toàn có căn cứ. Quyền sử dụng thửa đất số 7, tờ bản đồ số 121, diện tích 267,9m² và tài sản gắn liền với đất là nhà ở diện tích sàn 212,6m², diện tích xây dựng 106,3m², cấp hạng 2, số tầng 2, kết cấu tường xây, mái đúc, sàn đúc tại địa chỉ số H đường N, tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ655950, sổ vào sổ cấp GCN là CH01022 do UBND quận L cấp ngày 29/01/2011 đứng tên ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N không phải là tài sản bảo đảm cho khoản vay của Công ty TNHH T3 theo hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số 017/20/HĐHM-9223 ngày 24/9/2020 và 02 khế ước nhận nợ ngày 29/9/2020 và ngày 15/10/2020. Do vậy yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q đối với Công ty TNHH T3 là có cơ sở đúng theo quy định tại các Điều 463 và 466 Bộ luật dân sự và các Điều 91 và Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng 2010 nên chấp nhận yêu cầu buộc Công ty TNHH T3 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q tính đến ngày 14/6/2024, tổng số tiền là 6.273.550.784 đồng, trong đó nợ gốc là 4.097.963.345 đồng và tiền lãi phát sinh với số tiền là 2.175.587.439 đồng (lãi trong hạn 19.935.616 đồng, lãi quá hạn 2.148.779.632 đồng và tiền lãi chậm trả lãi trong hạn 6.872.191 đồng). Lãi tiếp tục được tính quy định tại Hợp đồng cho vay và khế ước nhận nợ đã ký với Ngân hàng TMCP Q kể từ ngày 15/6/2024 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.
[2.5] Việc cấp sơ thẩm nhận định đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T để điều tra làm rõ hành vi giả chữ ký của ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N trong các tài liệu nộp cho Ngân hàng TMCP Q nên HĐXX phúc thẩm không đề cập đến.
[2.6] Do cấp sơ thẩm khi phát hành Bản án sơ thẩm có sai sót lỗi chính tả trong các biên lai thu tiền tạm ứng án phí cũng như thời điểm tính và số tiền nợ gốc tại thời điểm xét xử sơ thẩm nên cấp phúc thẩm điều chỉnh lại cho phù hợp.
[3] Từ những nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q.
[4] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Ngân hàng TMCP Q đã tạm ứng trước 3.000.000 đồng (Đã nộp và chi xong). Buộc Công ty TNHH T3 phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Q tiền trên. Chi phí giám định: Bà Lương Thị Thanh N đã tự nguyện chịu nên không đê cập đến.
[5] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH T3 phải chịu là 114.273.551 đồng. Do chấp nhận yêu cầu độc lập của bà N nên Ngân hàng TMCP Q phải chịu là 300.000 đồng.
[6] Do không chấp nhận kháng cáo nên Ngân hàng TMCP Q phải chịu án phí KDTM-PT.
[7] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kinh doanh thương mại ở giai đoạn phúc thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để thực hiện việc giám định chữ ký, chữ viết của bà Lương Thị Thanh N và ông Trần Đức L2 tại Biên bản thoả thuận (Sử dụng trong trường hợp tài sản bảo đảm của bên thứ ba) ngày 24/9/2020; Biên bản ba bên (Áp dụng khi phát sinh hợp đồng cấp tín dụng mới trong trường hợp TSBĐ thuộc sở hữu của bên thứ ba) ngày 24/9/2020; biên bản thỏa thuận giá trị tài sản ngày 24/9/2020. Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không chấp nhận. HĐXX vẫn tiếp tục xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 296, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Căn cứ các Điều 116, 117, 118, 463, 466 và khoản 3 Điều 422 của Bộ luật dân sự; Căn cứ các Điều 91 và Điều 98 Luật các Tổ chức tín dụng 2010; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng TMCP Q.
- Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 08/2024/KDTM-ST ngày 14 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q đối với Công ty TNHH T3 về việc "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng".
- Buộc Công ty TNHH T3 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP Q tính đến ngày 14/6/2024 với số tiền là 6.273.550.784 đồng (Sáu tỷ hai trăm bảy mươi ba triệu năm trăm năm mươi ngàn bảy trăm tám mươi tư đồng), trong đó nợ gốc là 4.097.963.345 đồng và tiền lãi phát sinh với số tiền là 2.175.587.439 đồng (lãi trong hạn 19.935.616 đồng, lãi quá hạn 2.148.779.632 đồng và tiền lãi chậm trả lãi trong hạn 6.872.191 đồng).
- Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm, ngày 15/6/2024, Công ty TNHH T3 còn phải tiếp tục trả lãi theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng hạn mức cấp tín dụng số: 017/20/HĐHM-9223 ngày 29/09/2020 kiêm khế ước nhận nợ số 001/2020/KUNN/017/20/HĐHM-9223 ngày 29/09/2020 và khế ước nhận nợ số 002/2020/KUNN/017/20/HĐHM-9223 ngày 15/10/2020 cho đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Lương Thị Thanh N đối với Ngân hàng TMCP Q.
- Tuyên bố chấm dứt hợp đồng thế chấp số: 018/2019/H ĐTC-9224 ngày 11/04/2019, số công chứng 3978 TP/CC-SCC/HĐGD giữa Ngân hàng TMCP Q với ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N.
- Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 7 tờ bản đồ số 121 và tài sản gắn liền với đất là nhà ở tại địa chỉ số H đường N, tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ655950, vào sổ cấp GCN số CH01022 do UBND quận L, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/01/2011 đứng tên ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N không phải là tài sản đảm bảo cho bất kỳ khoản vay nào của Công ty TNHH T3.
- Buộc Ngân hàng TMCP Q phải có nghĩa vụ trả lại cho bà Lương Thị Thanh N bản chính Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ655950, vào sổ cấp GCN số CH01022 do UBND quận L, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 29/01/2011 đứng tên ông Trần Đức L2 và bà Lương Thị Thanh N.
- Nếu Ngân hàng TMCP Q không trả thì bà Lương Thị Thanh N chị Trần Lương Thảo L1; anh Trần Đức T2 có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án buộc Ngân hàng TMCP Q giao bản chính Giấy chứng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên.
- Chi phí tố tụng: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc Công ty TNHH T3 phải hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Q tiền 3.000.000 đồng. Chi phí giám định: Bà Lương Thị Thanh N tự nguyện chịu (Đã nộp đủ và chi xong).
- Án phí KDTM-ST: Công ty TNHH T3 phải chịu là 114.273.551 đồng (Một trăm mười bốn triệu hai trăm bảy mươi ba ngàn năm trăm năm mươi mốt đồng). Án phí đối với yêu cầu độc lập là: phải chịu: 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 56.301.500 đồng theo biên lai thu số 0002782 ngày 07/06/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Hoàn trả lại cho Ngân hàng TMCP Q tiền là 56.001.500 đồng (Năm mươi sáu triệu không trăm không một ngàn năm trăm đồng). Hoàn trả lại cho bà Lương Thị Thanh N số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0000028 ngày 19/05/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Án phí KDTM-PT: Ngân hàng TMCP Q phải chịu: 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 2.000.000 đồng theo biên lai thu số 0001356 ngày 05/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bé |
Bản án số 27/2024/KDTM-PT ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 27/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử phúc thẩm
