Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÙ LAO DUNG

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày: 10-9-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÙ LAO DUNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Tâm.

Ông Võ Thành Phước.

Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hoàng Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Kiều Phương, Kiểm sát viên.

Trong ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Huỳnh Dương Bảo N, sinh ngày 23/7/1997; tại L - Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: chăn nuôi; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Huỳnh Văn V (c) và bà Lâm Thị Thúy H (s); Vợ: Nguyễn Thị Thúy U (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2015; Tiền sự: Có 02 tiền sự: Năm 2018 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng (đã chấp hành xong ngày 12/4/2019). Ngày 25/11/2019 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Toà án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, (đã chấp hành xong 24/12/2020); Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 25/01/2021 có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị Toà án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng tuyên phạt 01 năm 06 tháng tù, chấp hành xong ngày 26/5/2022 (chưa được xoá án tích). Bị cáo Bảo N bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 01/11/2023 đến ngày 07/11/2023 chuyển tạm giam cho đến nay. (Bị cáo có mặt)
  2. Chao Văn C; sinh ngày 01/01/1985; tại C - Sóc Trăng; Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Làm Vườn; Trình độ học vấn: 6/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Chao Văn H1 (s) và bà Nguyễn Thị N1 (s); Vợ Hồ Kim C1 và 01 người con sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: không. Nhân Thân: Tốt. Bị cáo C bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 01/11/2023 đến ngày 07/11/2023 chuyển tạm giam cho đến nay; (Bị cáo có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Đỗ Hoàng M, sinh năm 1988 (vắng mặt);
  2. Nơi cư trú: Số G Đường Đ, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

  3. Ông Huỳnh Văn M1, sinh năm 1994 (vắng mặt);
  4. Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng;

  5. Bà Lâm Thị Thúy H, sinh năm 1963 (có mặt);
  6. Nơi cư trú: Ấp N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Sóc Trăng;

Người làm chứng:

  1. Bà Phùng Thị Út Mười M2, sinh năm 1975 (vắng mặt);
  2. Ông Chao Văn H1, sinh năm 1953 (vắng mặt);
  3. Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ 15 phút ngày 01/11/2023, lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện C kết hợp cùng công an xã A tiến hành kiểm tra hành chính nhà ông Chao Văn H1 thuộc ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Phát hiện và bắt quả tang 03 đối tượng gồm Chao Văn C, Đỗ Hoàng MHuỳnh Dương Bảo N đang sử dụng chất ma túy tại phòng ngủ của Chao Văn C trong nhà ông Chao Văn H1; tiến hành kiểm tra thì phát hiện thu giữ 05 (năm) túi nylon bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng. Qua điều tra xác định được 05 túi ma túy nêu trên, bị cáo Huỳnh Dương Bảo N mua lại của một người chạy xe Honda ôm (không rõ lai lịch) tại thành phố S vào khoảng 11 giờ cùng ngày với giá là 1.000.000 đồng đem về cất giấu mục đích bán lại cho người khác.

Sau đó N để ma túy trong hộc xe phía bên phải rồi chạy đến nhà Đỗ Hoàng M (sinh năm 1988, địa chỉ: số G, đường Đ, phường I, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng) để chở M đi qua nhà Chao Văn C. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày N chở M đến nhà C, khi đến không thấy Còn ở nhà nên NM ngồi đợi khoảng 05 phút thì C ở trong nhà kêu MN đi vào phòng (phòng riêng của C) nhưng chỉ có N đi vào phòng, M ở ngoài nằm võng. Lúc này C nói với N là “hôm nay có 200 ngàn hà”, nói xong Còn móc túi quần lấy tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng đưa cho N cất giữ

thì N cầm 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa ma túy để xuống nền nhà, lúc này C đi ra ngoài lấy cái nỏ, ống hút bằng nhựa, chai nước lọc và bật lửa (hột quẹt) đem vào phòng, Còn dùng cây kìm bằng kim loại màu trắng (loại kìm dùng để cắt móng tay) cắt túi ma túy ra rồi đổ hết ma túy vào trong cái nỏ (nỏ có uốn cong một đầu) sau đó dùng bật lửa đốt cho ma túy tan chảy ra. Cùng lúc này Huỳnh Văn M1 (sinh năm 1994, địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng) chạy xe đến kêu cửa thì N đi ra mở cửa và M1 cầm tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng đưa cho N để mua ma túy (giữa M1N có hẹn trước liên lạc qua zalo), lúc này N cầm gói ma túy đưa cho M1 và hai người đứng nói chuyện qua lại với nhau khoảng 01 phút thì M1 đi về, N đóng cửa phòng lại. Sau khi M1 ra về thì Còn bắt đầu sử dụng ma túy, Còn hút 01 hơi thì để xuống nền gạch, sau đó tới NM, mỗi người hút 01 hơi xong rồi ngồi nghỉ, khoảng 05 phút sau nghe có tiếng gõ cửa bên ngoài nên C đứng lên đi ra mở cửa thì phát hiện lực lượng Công an vào kiểm tra nên N cầm tờ giấy màu vàng trên tay phải, được quấn băng keo màu đen, bên trong có đựng ma túy ném ra ngoài cửa trúng vào một người Công an nên rơi xuống nền gạch. Qua kiểm tra phát hiện bên trong có 04 túi tinh thể rắn màu trắng và 01 túi tinh thể rắn màu trắng nằm dưới nền gạch trong phòng nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tại Kết luận giám định số: 183/KLMT-KTHS ngày 09/11/2023 của Phòng K thuộc Công an tỉnh S kết luận:

Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 05 túi ny lon được niêm phong (vật chứng thu giữ của bị cáo Bảo N khi bắt quả tang) gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,4785 gam loại Methamphetamine.

Trong quá trình điều tra, các bị cáo Huỳnh Dương Bảo NChao Văn C đã tự khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội do mình gây ra.

Tại Cáo trạng số: 18/CT-VKS-CLD ngày 08/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung đã truy tố: bị cáo Huỳnh Dương Bảo N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự và bị cáo Chao Văn C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự 2015);

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Qua các chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có căn cứ chứng minh hành vi của bị cáo Huỳnh Dương Bảo N đã hội đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015 và bị cáo Chao Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Huỳnh Dương Bảo NChao Văn C. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Dương Bảo N, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị cáo Chao Văn C, phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Huỳnh Dương Bảo N.

Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Chao Văn C.

Đề nghị xử phạt:

Bị cáo Huỳnh Dương Bảo N mức án từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Chao Văn C mức án từ 07 (bảy ) năm đến 08 (T) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 01 túi nilon được hàn kính hai đầu, kích thước 2,6 x 1,7 cm, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nilon được hàn kính hai đầu, kích thước 3,5 x 0,9 cm, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nilon được hàn kính hai đầu, kích thước 3,2 x 0,9 cm, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nilon được hàn kính hai đầu, kích thước 2,2 x 0,9 cm, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nilon được hàn kính hai đầu, kích thước 1,6 x 1,6 cm, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 ống nỏ bằng thuỷ tinh kích thước 19,5 cm, đường kính ống 0,7 cm, có một đầu hình cầu đường kính 1,9 cm; 01 ống nỏ bằng thuỷ tinh kích thước 24,1 cm, đường kính ống 0,7 cm, một đầu bị biến dạng; 01 ống nhựa trong suốt dài 27,5 cm, đường kính ống 0,7 cm; 01 cây kéo bằng kim loại, kích thước 10,5 cm; 01 chai nhựa có cắm 01 ống nhựa và ống nỏ bằng thủy tinh có kích thước như sau: 01 ống nỏ bằng thuỷ tinh, có cắm ống nhựa kích thước 14,7 cm; đoạn ống nhựa dài 6,8 cm, đầu hình cầu kích thước 1,6 cm bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; một ống hút bằng nhựa trong sốt dài 24 cm; 01 chai nhựa cao 14,6 cm, bề ngang chai nhựa kich thước 5,8 cm, bên trong có chứa dung dịch chất lỏng không màu; 02 bật lửa; 01 cây kìm bằng kim loại màu trắng.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 400.000 đồng (do bị cáo Bảo N phạm tội mà có); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, mặt sau có chữ SAMSUNG đã qua sử dụng (bị cáo Bảo Ngọc d làm phương tiện phạm tội).

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Dương Bảo N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng và số tiền 950.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Trả lại cho bị cáo Chao Văn C: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, mặt sau có chữ SAMSUNG 4G đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Trả cho Đỗ Hoàng M: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen (đã qua sử dụng), có gắn ốp lưng bằng nhựa, màu trắng (trong ốp lưng có 01 tờ tiền ngoại tệ mệnh giá 01 đô).

Trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 54N2-8653 cho bà Lâm Thị Thúy H là chủ sở hữu hợp pháp nên không đặt ra xét lại.

Tại phiên tòa, các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố; thống nhất ý kiến đề nghị của Vị Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng minh và chứng cứ: Xét thấy, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật được quy định tại các Điều 85, 86, 87, 88, 89, 90, 91, 94, 98, 100, 102, 104, 105, 106, 108 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Hoàng M, Huỳnh Văn M1 và người làm chứng Phùng Thị Út Mười M2, Chao Văn H1 vắng mặt. Xét thấy, trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ và rõ ràng. Đồng thời, tại phiên tòa Vị Kiểm sát viên, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa cũng đề nghị xét xử vắng mặt những người nêu trên. Xét thấy sự vắng mặt của những người nêu trên không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, căn cứ Điều 292 và Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên theo quy định của pháp luật.

[5] Lời khai nhận của các bị cáo Huỳnh Dương Bảo NChao Văn C tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét

và các chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập, được thẩm tra tại phiên tòa nên đủ cơ sở khẳng định:

[5.1] Đối với hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”: Bị cáo Huỳnh Dương Bảo N là người chủ động bỏ tiền ra trực tiếp đi Sóc Trăng mua ma túy của người chạy xe ôm ( không rõ lai lịch) đem về bán lại cho các con nghiện. Cụ thể: Trước khi bị bắt quả tang bị cáo Bảo N đã trực tiếp bán cho người khác 02 lần, lần thứ nhất bán cho Chao Văn C với số tiền 200.000 đồng; lần thứ hai bán cho Huỳnh Văn M1 với số tiền 200.000 đồng. Đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự thì hành vi phạm tội của Huỳnh Dương Bảo N đã hội đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do bị cáo Bảo N đã bán ma túy nhiều lần cho các con nghiện ( bán cho người khác 02 lần gồm Chao Văn CHuỳnh Văn M1) đây là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[5.2]. Đối với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quá trình điều tra cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa; bị cáo Chao Văn C khai nhận đã sử dụng địa điểm là phòng ngủ của mình; bị cáo C mua ma tuý của Bảo N và cung cấp dụng cụ sử dụng ma tuý để Huỳnh Dương Bảo NĐỗ Hoàng M thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy. Nên đã hội đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015.

[6] Do các bị cáo đã có hành vi phạm tội nêu trên nên Cáo trạng số: 18/CT-VKS-CLD ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cù Lao Dung: Truy tố bị cáo Huỳnh Dương Bảo N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015; bị cáo Chao Văn C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho các bị cáo.

[7] Động cơ phạm tội của các bị cáo với mục đích mua bán ma túy để hưởng lợi bất chính và sử dụng nhằm thõa mãn nhu cầu cá nhân. Ý thức chủ quan của các bị cáo là phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp.

[8] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội. Bởi vì chính các bị cáo cũng nhận thức được rằng ma tuý là chất độc hại, nó làm cho con người lười biếng lao động và làm ảnh hưởng đến sự phát triển giống nòi, dân tộc. Nghiêm trọng hơn, chính ma tuý là một trong những nguồn lây nhiễm HIV/AIDS cho cộng đồng. Đồng thời, các bị cáo biết rõ việc sử dụng trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý với mục đích để thu lợi bất chính và thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy và xâm phạm đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân hoang mang lo sợ không an tâm lao động sản xuất.

Bị cáo Huỳnh Dương Bảo N là người chủ động trực tiếp mua ma túy về để bán lại cho người khác sử dụng nên cần phải có một mức án thật nghiêm khắc mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cũng nhằm để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Bị cáo Chao Văn C là người trực tiếp thực hiện tội phạm, mua ma túy của Bảo N để tổ chức cho người khác sử dụng tại phòng riêng của mình, nên cũng cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[9] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Huỳnh Dương Bảo N đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” chưa được xoá án tích mà phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự 2015; bị cáo Chao Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[10] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[10.1] Sau khi phạm tội bị cáo Bảo N đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[10.2] Trước khi phạm tội bị cáo Chao Văn C có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình; bị cáo có trình độ học vấn thấp (6/12) nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật.

[11] Đối với Huỳnh Văn M1 đã có hành vi mua ma túy của bị cáo Bảo N để sử dụng và khi hay tin N bị bắt đã tiêu huỷ hết nên không thu được vật chứng để xác định định lượng, do chưa đủ căn cứ nên cơ quan điều tra không xử lý hình là đúng quy định của pháp luật.

Đối với Đỗ Hoàng MHuỳnh Dương Bảo N Cơ quan điều tra không chứng minh được việc có hùn tiền, chuẩn bị công cụ, dụng cụ để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý cùng với bị cáo C, do chưa đủ căn cứ nên cơ quan điều tra không xử lý hình sự hành vi này mà xử phạt hành chính theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP là đúng quy định của pháp luật. Riêng Huỳnh Dương Bảo N do bị khởi tố về tội mua bán trái phép chất ma túy nên không xử phạt hành chính.

[12] Đối với người đàn ông chạy xe Hon da ôm là người bán ma túy cho bị cáo Huỳnh Dương Bảo N, do không xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể, nên cơ quan điều tra Công an huyện C chưa làm việc được. Đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ, có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

[13] Đối với bà Lâm Thị Thúy H là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô biển số 54N2-8653; vào ngày 01/11/2023 có cho bị cáo Bảo N mượn chiếc xe để đi công chuyện, việc Huỳnh Dương Bảo N lấy xe đi mua ma túy bà hoàn toàn không hay biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã ra quyết định xử lý vật

chứng bằng hình thức trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 54N2-8653 cho bà Lâm Thị Thúy H chủ sở hữu hợp pháp tài sản là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[14] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 01 túi nilon được hàn kính hai đầu, kích thước 2,6 x 1,7 cm, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nilon được hàn kính hai đầu, kích thước 3,5 x 0,9 cm, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nilon được hàn kính hai đầu, kích thước 3,2 x 0,9 cm, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nilon được hàn kính hai đầu, kích thước 2,2 x 0,9 cm, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nilon được hàn kính hai đầu, kích thước 1,6 x 1,6 cm, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 ống nỏ bằng thuỷ tinh kích thước 19,5 cm, đường kính ống 0,7 cm, có một đầu hình cầu đường kính 1,9 cm; 01 ống nỏ bằng thuỷ tinh kích thước 24,1 cm, đường kính ống 0,7 cm, một đầu bị biến dạng; 01 ống nhựa trong suốt dài 27,5 cm, đường kính ống 0,7 cm; 01 cây kéo bằng kim loại, kích thước 10,5 cm; 01 chai nhựa có cắm 01 ống nhựa và ống nỏ bằng thủy tinh có kích thước như sau: 01 ống nỏ bằng thuỷ tinh, có cắm ống nhựa kích thước 14,7 cm; đoạn ống nhựa dài 6,8 cm, đầu hình cầu kích thước 1,6 cm bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; một ống hút bằng nhựa trong sốt dài 24 cm; 01 chai nhựa cao 14,6 cm, bề ngang chai nhựa kich thước 5,8 cm, bên trong có chứa dung dịch chất lỏng không màu; 02 bật lửa; 01 cây kìm bằng kim loại màu trắng.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 400.000 đồng (do bị cáo Bảo N phạm tội mà có); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, mặt sau có chữ SAMSUNG đã qua sử dụng (bị cáo Bảo Ngọc d làm phương tiện phạm tội).

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Dương Bảo N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphonne đã qua sử dụng và số tiền 950.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Trả lại cho bị cáo Chao Văn C: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, mặt sau có chữ SAMSUNG 4G đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

Trả cho Đỗ Hoàng M : 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen (đã qua sử dụng), có gắn ốp lưng bằng nhựa, màu trắng (trong ốp lưng có 01 tờ tiền ngoại tệ mệnh giá 01 đô).

[15] Tại phiên tòa, xét thấy ý kiến luận tội của Vị Kiểm sát viên đối với các bị cáo Huỳnh Dương Bảo NChao Văn C về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[16] Về án phí hình sự sơ thẩm: Đối với các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Dương Bảo N, phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Chao Văn C, phạm tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Huỳnh Dương Bảo N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 50; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Chao Văn C về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên xử:

  1. Xử phạt bị cáo Huỳnh Dương Bảo N: 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 01/11/2023.
  2. Xử phạt bị cáo Chao Văn C: 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời gian phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 01/11/2023.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

    Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng không còn giá trị sử dụng gồm: 01 túi nilon được hàn kính hai đầu, kích thước 2,6 x 1,7 cm, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nilon được hàn kính hai đầu, kích thước 3,5 x 0,9 cm, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nilon được hàn kính hai đầu, kích thước 3,2 x 0,9 cm, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nilon được hàn kính hai đầu, kích thước 2,2 x 0,9 cm, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 túi nilon được hàn kính hai đầu, kích thước 1,6 x 1,6 cm, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 ống nỏ bằng thuỷ tinh kích thước 19,5 cm, đường kính ống 0,7 cm, có một đầu hình cầu đường kính 1,9 cm; 01 ống nỏ bằng thuỷ tinh kích thước 24,1 cm, đường kính ống 0,7 cm, một đầu bị biến dạng; 01 ống nhựa trong suốt dài 27,5 cm, đường kính ống 0,7 cm; 01 cây kéo bằng kim loại, kích thước 10,5 cm; 01 chai nhựa có cắm 01 ống nhựa và ống nỏ bằng thủy tinh có kích thước như sau: 01 ống nỏ bằng thuỷ tinh, có cắm ống nhựa kích thước 14,7 cm; đoạn ống nhựa dài 6,8 cm, đầu hình cầu kích thước 1,6 cm bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; một ống hút bằng nhựa trong sốt dài 24 cm; 01 chai nhựa cao 14,6 cm, bề ngang chai nhựa kich thước 5,8 cm, bên trong có chứa dung dịch chất lỏng không màu; 02 bật lửa; 01 cây kìm bằng kim loại màu trắng.

    Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 400.000 đồng (do bị cáo Bảo N phạm tội mà có); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, mặt sau có chữ SAMSUNG đã qua sử dụng (bị cáo Bảo Ngọc d làm phương tiện phạm tội).

  1. Trả lại cho bị cáo Huỳnh Dương Bảo N: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone đã qua sử dụng và số tiền 950.000 đồng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

    Trả lại cho bị cáo Chao Văn C: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen, mặt sau có chữ SAMSUNG 4G đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội.

    Trả cho Đỗ Hoàng M: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen (đã qua sử dụng), có gắn ốp lưng bằng nhựa, màu trắng (trong ốp lưng có 01 tờ tiền ngoại tệ mệnh giá 01 đô).

    Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu vật chứng, ngày 15/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cù Lao Dung.

  2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
  3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Cù Lao Dung;
  • - Cơ quan THAHS CA Huyện CLD;
  • - Chi cục THADS huyện CLD;
  • - Cơ quan CSĐT CA Huyện CLD;
  • - Sở TP tỉnh Sóc Trăng;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Phòng KTNV và THA TAND tỉnh ST;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Thanh

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger