|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2024/HSST Ngày: 10/5/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Huy và bà Nguyễn Thị Kim Lý
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Mai Huế - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 22/2024/HSST ngày 27 tháng 03 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Mạnh T, sinh ngày 24 tháng 7 năm 1988, tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1961 và bà Bùi Thị Tuyết M, sinh năm 1968; có vợ là Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1990 và có 04 con; lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2014, bị Công an thành phố Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Xâm hại đến sức khỏe của người khác" theo quyết định số 38/QĐ - XPHC ngày 15/12/2014. Ngày 16/12/2014 đã chấp hành xong.
Bị cáo tại ngoại tại tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
-
Nguyễn Bảo L, sinh ngày 17 tháng 7 năm 1994, tại tỉnh Yên Bái; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; chỗ ở: Tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Gia L1, sinh năm 1959 và bà Phạm Thanh T1, sinh năm 1969; có vợ là Nguyễn Thị Huyền T2, sinh năm 1996 và 01 con sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2018 bị Công an thành phố Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "Xâm hại đến sức khỏe của người khác" theo quyết định số 74/QĐ-XPHC ngày 28/02/2018. Ngày 09/3/2018 đã chấp hành xong.
Bị cáo tại ngoại tại tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt tại phiên tòa.
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Đan Đình T3, sinh năm 1994. Trú tại: Tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt không có lý do.
- + Anh Phùng Minh T4, sinh năm 1984. Trú tại: Tổ dân phố N, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1995. Trú tại: Tổ dân phố P, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Thị Huyền T2, sinh năm 1996. Trú tại: Tổ A, phường N, thành phố Y; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/01/2024, Đ Công an thành phố Y nhận được Đơn tố giác nặc danh đề ngày 19/01/2024, nội dung tố giác Nguyễn Bảo L cho vay tiền với lãi suất cao, cầm cố tài sản đối với Đan Đình T3.
Ngày 24/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Công an thành phố Y triệu tập Đan Đình T3 lên làm việc. T3 khai nhận, do cần tiền chi tiêu cá nhân, nên T3 mang chiếc xe môtô của T3 nhãn hiệu HONDA SH, BKS: 21F1-082.82, cùng giấy chứng nhận đăng ký xe môtô đến nhà L vay tiền của Nguyễn Bảo L, với mức mức lãi suất 3.000đ/1 triệu đồng/1 ngày, tương ứng với mức lãi suất 109,5%/1 năm, gấp 5,5 lần mức lãi suất cao nhất được quy định theo Bộ luật dân sự.
Ngày 25/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Y đã tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của L tại tổ A, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái đã thu giữ: 01 xe môtô nhãn hiệu Honda SH BKS: 21F1 - 082.82; 01 chứng nhận đăng ký xe môtô mang BKS: 21F1 - 082.82; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s; 01 hợp đồng đặt cọc có chữ ký, họ tên của Đan Đình T3 và số tiền 17.100.000 đồng. Quá trình giải quyết vụ án, L tự nguyện giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 promax, màu xanh xám.
Tại Cơ quan CSĐT Công an thành phố Y, L khai nhận từ khoảng đầu năm 2022, Nguyễn Mạnh T thuê L để thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. T cung cấp tiền cho L để L cho khách vay tiền và đi thu tiền lãi cho T.
Ngày 25/01/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Y đã triệu tập T để làm việc. T khai nhận đã thuê L thực hiện hành vi cho vay lãi nặng như trên. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Y đã thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở, phương tiện của T tại tổ dân phố H, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái nhưng không thu giữ được đồ vật, tài sản gì. Quá trình giải quyết vụ án, T tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 promax, màu xám.
Quá trình điều tra xác định: Từ tháng 3 năm 2022 đến ngày 25/01/2024, Nguyễn Mạnh T đã thuê và cung cấp tiền cho Nguyễn Bảo L để L cho ba người vay tiền với lãi suất cao và đi thu tiền lãi. Giữa T và L thỏa thuận, L là người trực tiếp thỏa thuận và cho vay tiền, đến thời gian phải trả lãi theo thỏa thuận, T bảo L nhắc những người đã vay tiền phải chuyển tiền lãi đến số tài khoản ngân hàng T6 của L số: 19030645269699. Tiền lãi L thu vào ngày cùng với ngày vay tiền của những tháng tiếp theo. Sau đó Lâm chuyển lại tiền lãi, tiền gốc đã thu được của người vay đến tài khoản ngân hàng T6 của T số: 19021751962019. Sau khi thu được gốc và lãi thì Lâm chuyển lại hết cho T.
Số tiền T và L thu lời bất chính được tính theo công thức sau: A = B – (20%/365 x C x D) (trong đó: A là số tiền thu lợi bất chính, B là số tiền lãi thực tế thu được của khoản vay, C là số ngày vay tiền, D là số tiền vay).
Nguyễn Mạnh T và Nguyễn Bảo L cho 03 người vay lãi suất cao, cụ thể như sau:
- Từ ngày 28/9/2023 đến 25/01/2024 (120 ngày), T và L cho Đan Đình T3 vay số tiền 20.000.000 đồng, với lãi suất 3.000đ/1 triệu/1 ngày, tương ứng với 109,5%/năm, gấp 5,5 lần so với mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự. Khi vay tiền T3 mang chiếc xe môtô của T3 nhãn hiệu HONDA SH, BKS: 21F1-082.82, cùng giấy chứng nhận đăng ký xe môtô đến nhà L, để cầm cố cho L. L yêu cầu T3 phải ký vào giấy hợp đồng đặt cọc do L đã chuẩn bị sẵn và để lại xe môtô, cùng đăng ký xe môtô. Theo thỏa thuận, Số tiền lãi mà T3 phải trả cho L là 7.200.000 đồng, tuy nhiên đến ngày 25/1/2024, T3 đã trả cho L được tiền lãi là 6.000.000 đồng, còn nợ lại 1.200.000 đồng tiền lãi và tiền gốc chưa trả. Do hành vi cho vay lãi nặng của L và T bị phát hiện ngăn chặn vào ngày 25/01/2024. Số tiền thu lời bất chính thực tế T và L nhận được là: 4.684.932 đồng. Số tiền thu lời bất chính xác định truy cứu trách nhiệm hình sự là: 5.884.932 đồng.
- T và L cho Phùng Minh T4 vay 03 lần:
- - Lần thứ nhất: Từ ngày 14/3/2022 đến 24/7/2023 (498 ngày) cho vay 20.000.000 đồng, với lãi suất 2.900đ/1 triệu/1 ngày, tương ứng với 105,5%/năm, gấp 5,3 lần so với mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự, theo thỏa thuận hàng tháng T4 phải trả 1.800.000 đồng tiền lãi. Thao đã trả được 28.800.000 đồng tiền lãi. Số tiền thu lời bất chính xác định truy cứu trách nhiệm hình sự là: 23.342.466 đồng.
- Do ngày 24/7/2023, T4 đã trả số tiền gốc của khoản vay lần thứ nhất với số tiền 15.000.000 đồng nên từ ngày 25/7/2023 đến 20/10/2023 (88 ngày), số tiền gốc T4 còn nợ là: 5.000.000 đồng với lãi suất 3.100đ/1 triệu/1 ngày, tương ứng với 112%/năm, gấp 5,6 lần so với mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự. Theo thỏa thuận khoản vay này, T4 phải trả tiền lãi 450.000đ/1 tháng. T4 đã trả được 1.350.000 đồng tiền lãi và trả đủ số tiền gốc. Số tiền thu lời bất chính xác định truy cứu trách nhiệm hình sự là: 1.108.904 đồng.
- - Lần thứ hai: Từ ngày 01/12/2023 đến ngày 20/12/2023 (20 ngày) cho vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 3.000đ/1 triệu/1 ngày, tương ứng với 109,5%/năm, gấp 5,5 lần so với mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự, T4 phải trả tiền lãi cho khoản vay này là: 600.000 đồng và chưa trả tiền gốc. Số tiền thu lời bất chính xác định truy cứu trách nhiệm hình sự là: 490.411 đồng.
- - Lần thứ ba: Từ ngày 21/12/2023 đến ngày 25/01/2024 (36 ngày), T4 tiếp tục vay thêm số tiền 10.000.000 đồng, tuy nhiên do Lâm trừ 600.000 đồng tiền lãi của khoản vay 10.000.000 đồng ngày 01/12/2023 nêu trên, nên L chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng cho T4 số tiền là 9.400.000 đồng.
- Do đó, T4 phải chịu tiền lãi của tổng số tiền là 20.000.000 đồng với lãi suất 3.000đ/1 triệu/1 ngày, tương ứng với 109,5%/năm, gấp 5,3 lần so với mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự. Đối với khoản vay này T4 đã trả được 01 tháng tiền lãi vào ngày 21/01/2024 với số tiền là 1.800.000 đồng, số tiền gốc T4 vẫn chưa trả.
- Do hành vi cho vay lãi nặng của L và T bị phát hiện ngăn chặn vào ngày 25/01/2024, Số tiền thu lời bất chính thực tế nhận được là: 1.405.479 đồng. Số tiền thu lời bất chính xác định truy cứu trách nhiệm hình sự là: 1.765.479 đồng.
Tổng số tiền thu lợi bất chính thực tế đối với các khoản vay của T4 là: 26.347.260 đồng; Tổng số tiền thu lời bất chính xác định truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các khoản vay của T4 là: 26.707.260 đồng.
- Từ ngày 16/2/2023 đến ngày 25/01/2024 (344 ngày), T và L cho Nguyễn Tuấn A vay số tiền 15.000.000 đồng, với lãi suất 3.000đ/1 triệu đồng/ 1 ngày, tương ứng với 109,5%/năm, gấp 5,5 lần so với mức cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự. Theo thỏa thuận hàng tháng Tuấn A phải trả tiền lãi cho khoản vay này là: 1.350.000 đồng/ 1 tháng. Tuấn A đã trả được tiền lãi thực tế cho khoản vay này là 14.850.000 đồng và chưa trả tiền gốc.
Do hành vi cho vay lãi nặng của L và T bị phát hiện ngăn chặn vào ngày 25/01/2024, Số tiền thu lời bất chính thực tế nhận được là: 12.022.603 đồng. Số tiền thu lời bất chính xác định truy cứu trách nhiệm hình sự là: 12.652.603 đồng.
Như vậy, Nguyễn Mạnh T và Nguyễn Bảo L đã cho 03 người nêu trên vay tiền với lãi suất cao, đều vượt quá 05 (năm) lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự, đã thu lời bất chính thực tế được nhận với số tiền 43.054.795 đồng và số tiền thu lời bất chính để xác định trách nhiệm hình sự của T và L là 45.244.795 đồng.
Bản cáo trạng số 26/CT-VKS -TP ngày 27/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố các bị cáo Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Bảo L về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Bảo L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự ”.
- * Về hình phạt:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 35, 50, 17, 58 Bộ luật Hình sự, phạt: Nguyễn Mạnh T từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 35, 50, 17, 58 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Bảo L từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- * Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 01/2021/NQ - HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu khoản tiền gốc các bị cáo cho vay; khoản tiền gốc người vay chưa trả cho các bị cáo và khoản tiền lãi các bị cáo được phép thu theo mức lãi suất tối đa do Bộ luật dân sự quy định (20%/01 năm). Trả lại khoản tiền các bị cáo thu lời bất chính cho người vay.
- - Về vật chứng: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
- - Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Bảo L thành khẩn khai báo, không có tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên và xin HĐXX được hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Mạnh T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, xét thấy sự vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 290, 292 Bộ luật TTHS, Toà án xét vắng mặt họ.
[2] Lời khai của Nguyễn Bảo L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Hợp đồng đặt cọc, số tiền đã thanh toán, thời gian vay, ngày, giờ thanh toán và chứng từ sao kê ngân hàng, phù hợp với lời khai của bị cáo vắng mặt; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bản kết luận điều tra, bản cáo trạng nên có đủ cơ sở để kết luận:
Từ tháng 3/2022 đến ngày 25/01/2024, Nguyễn Mạnh T và Nguyễn Bảo L đã thực hiện hành vi cho vay tiền với lãi suất cao để kiếm lời. Cụ thể như sau: Nguyễn Mạnh T và Nguyễn Bảo L cho 03 người vay, tổng số tiền gốc cho vay là 75.000.000đồng, với mức lãi suất từ 2.900đồng đến 3.100đồng/01 triệu/ 01 ngày, tương ứng với mức lãi xuất từ 105,5% đến 109,5%/ 01 năm (gấp từ 5,3 đến 5,5 lần) so với mức lãi suất tối đa theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, số tiền thu lời bất chính bị truy cứu TNHS là 45.244.795 đồng. Số tiền thu lời bất chính thực tế là 43.054.795 đồng. Số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự đối với khoản vay (20%/năm) các bị cáo được phép thu là 10.345.205 đồng.
Hành vi do các bị cáo T, L thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội danh và hình phạt được quy định tại Điều 201 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo thu lời bất chính số tiền dưới 100.000.000đồng nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố các bị cáo theo khoản 1 Điều 201 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật .
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo, HĐXX thấy:
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó Nguyễn Mạnh T là người khởi xướng, thuê, cung cấp tiền để L thực hiện việc cho vay lãi nặng nên giữ vai trò chính trong vụ án. Nguyễn Bảo L là người trực tiếp cho vay, thu tiền gốc, lãi của người vay theo sự chỉ đạo của T nên là người thực hành, giúp sức tích cực, giữ vai trò thứ yếu.
Hành vi do các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, mang tính chất bóc lột làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, túng quẫn, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, sức khỏe của những người vay tiền và gia đình của họ, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, cụ thể là trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng để nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân, nhận thức được việc cho vay lãi với mức lãi suất cao gấp 5 lần mức lãi suất tối đa theo quy định của Bộ luật Dân sự là trái pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do mục đích thu lợi bất chính, vẫn cố ý thực hiện, do đó cần phải đưa ra xử lý nghiêm trước pháp luật.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên cho hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Các bị cáo T, L có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội do từng bị cáo thực hiện, căn cứ quy định tại Điều 201BLHS, HĐXX thấy, các bị cáo Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Bảo L có thể xem xét áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ tính giáo dục, răn đe đối với các bị cáo mà không ảnh hưởng đến sự nghiêm minh của pháp luật, cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật Nhà nước. Đây là vụ án có đồng phạm, nên áp dụng các Điều 17, 58 BLHS khi quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo.
* Về hình phạt bổ sung:
Các bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền nên không bị áp dụng hình phạt bổ sung.
[4] Về biện pháp tư pháp: Trong vụ án này, T là người cung cấp tiền và thuê L đứng ra trực tiếp cho vay lãi nặng, toàn bộ tiền cho vay là của T, L thực hiện nhiệm vụ do T chỉ đạo và được T trả công, do đó HĐXX chỉ tịch thu khoản tiền gốc của T cho vay; khoản tiền gốc người vay chưa trả cho T; khoản tiền lãi T được phép thu theo mức lãi suất tối đa do Bộ luật dân sự quy định (20%/01 năm) và trả lại khoản tiền T thu lời bất chính cho những người vay, L là đồng phạm giữ vai trò thứ yếu nên không bị áp dụng biện pháp tư pháp.
Cụ thể các khoản tiền bị tịch thu và được trả lại theo bảng dưới đây:
| TST | Họ và tên | Tổng số tiền gốc cho vay (đồng) | Các khoản tiền bị tịch thu và phải trả lại (đồng) | |||
|---|---|---|---|---|---|---|
| Tiền gốc tịch thu từ bị cáo | Tiền gốc tịch thu từ người vay | Tiền lãi 20%/01 năm tịch thu của bị cáo | Tiền thu lời bất chính bị cáo phải hoàn trả | |||
| 1 | Nguyễn Mạnh Tuấn | 75.000.000 | 20.000.000 | 55.000.000 | 10.345.205 | 43.054.795 |
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 hợp đồng đặt cọc có chữ ký, họ tên của Đan Đình T5 là vật mang dấu vết tội phạm nên được lưu theo hồ sơ vụ án;
- - Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda SH BKS: 21F1-082.82 và 01 chứng nhận đăng ký xe môtô mang BKS: 21F1-082.82, là tài sản hợp pháp của anh Đan Đình T3, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y đã trả lại cho anh T3 là phù hợp.
- - Đối với số tiền 17.100.000đồng thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Bảo L, đây là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Huyền T2 (là vợ của Nguyễn Bảo L), không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y đã trả lại cho chị T2 là phù hợp.
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 promax, màu xám, gắn số điện thoại 0853.736.xxx thu giữ của Nguyễn Mạnh T; 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Bảo L, trong đó có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s màu trắng, gắn số điện thoại 0968.575.xxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 promax, màu xanh xám, gắn số điện thoại 0399.888.xxx là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc liên lạc, trao đổi cho vay lãi nặng nên bị tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[6] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tại phiên tòa về việc giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
[7] Các bị cáo Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Bảo L phải chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Bảo L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
- Về hình phạt:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 35, 50; 17, 58 Bộ luật Hình sự, phạt: Nguyễn Mạnh T 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng chẵn) nộp ngân sách nhà nước.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; các Điều 35, 50; 17, 58 Bộ luật Hình sự, phạt: Nguyễn Bảo L 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng chẵn) nộp ngân sách nhà nước.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:
- - Tịch thu của Nguyễn Mạnh T số tiền gốc cho vay là 20.000.000đồng nộp Ngân sách nhà nước;
- - Tịch thu số tiền của 03 người vay (tiền vay gốc chưa trả T), tổng số là 55.000.000 đồng nộp ngân sách nhà nước, cụ thể tịch thu của từng người như sau: Đan Đình T3 20.000.000đồng; Phùng Minh T4 20.000.000đồng; Nguyễn Tuấn A 15.000.000đồng.
- - Tịch thu từ Nguyễn Mạnh T số tiền lãi được phép thu theo mức lãi suất tối đa quy định tại BLDS (20%/01 năm) là 10.345.205 đồng để nộp ngân sách nhà nước;
- - Buộc Nguyễn Mạnh T trả lại tiền thu lợi bất chính do bị cáo phạm tội mà có là 43.054.795 đồng cho ba người vay, cụ thể như sau: Anh Đan Đình T3 4.684.932 đồng; anh Phùng Minh T4 26.347.260 đồng; Nguyễn Tuấn A 12.022.603 đồng.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 promax, màu xám, gắn số điện thoại: 0853.736.xxx thu giữ của Nguyễn Mạnh T; 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Bảo L, trong đó có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 6s màu trắng, gắn số điện thoại: 0968.575.xxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 11 promax, màu xanh xám, gắn số điện thoại: 0399.888.xxx.
- (Các vật chứng nêu trên có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa cơ quan CSĐT Công an thành phố Y và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái ngày 01 tháng 4 năm 2024).
- Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án: Các bị cáo Nguyễn Mạnh T, Nguyễn Bảo L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng, tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Bị cáo L có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị cáo T vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Thị Thuỷ |
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Đã ký Nguyễn Thị Thuỷ |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Thị Thuỷ |
Bản án số 27/2024/HSST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 27/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI - TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tuyên phạm tội
