Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/DS-ST

Ngày 10 tháng 5 năm 2024

V/v Tranh chấp kiện đòi tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Thu Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Bảng;
  2. Bà Nguyễn Thị Vượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 136/2024/TLST-DS ngày 05/10/2023 về Tranh chấp kiện đòi tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2024/QĐXXST-DS ngày 19/3/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 31/QĐST-DS ngày 19/4/2024, giữa:

* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế P, sinh năm 1957

Địa chỉ: Số nhà D, đường C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (có mặt)

* Bị đơn: Anh Trịnh Tùng L, sinh năm 1976

Địa chỉ: Số nhà A, tổ dân phố H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai tiếp theo, diễn biến tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Thế P trình bày: Do có mối quan hệ họ hàng nên ngày 20/11/2018 ông có cho anh Trịnh Tùng L vay tiền, hai bên lập “giấy biên nhận” với nội dung: Anh Trịnh Tùng L vay ông số tiền 50.000.000 đồng để mua xe máy, nhưng thực tế không có việc mua bán xe máy mà là vay tiền, mục đích anh L vay tiền ông là để cải tạo hồ cá kinh doanh, hai bên không thỏa thuận lãi suất, không hẹn ngày trả trong giấy biên nhận nhưng có trao đổi miệng là vay 2 tháng. Ngày 10/5/2024 anh L xuất trình tài liệu là bản phô tô về việc anh L đã trả ông hai lần tiền, ngày 05/11/2019 trả 15.000.000 đồng, ngày 25/01/2022 trả 4.000.000 đồng, tổng đã trả 19.000.000 đồng thì ông cũng đồng ý. Nay ông khởi kiện yêu cầu anh Trịnh Tùng L phải thanh toán trả ông số tiền 31.000.000 đồng, ông không yêu cầu tính lãi suất, ngoài ra ông không yêu cầu gì khác.

- Bị đơn anh Trịnh Tùng L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không trình bày lời khai, không cung cấp tài liệu chứng cứ, không đến Tòa án làm việc và vắng mặt tại các phiên họp và phiên tòa. Đến ngày xét xử 10/5/2024 anh L có nộp tài liệu là bản phô tô về việc trả ông P tổng số tiền 19.000.000 đồng, vào ngày 05/11/2019 trả 15.000.000 đồng và ngày 25/01/2022 trả 4.000.000 đồng, .

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký Tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa HĐXX thực hiện đúng quy định của BLTTDS. Về phía các đương sự, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn không chấp hành nghiêm chỉnh, vắng mặt tại các phiên họp và tại phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 147, 227, 228, Điều 271 và Điều 273 của BLTTDS; Điều 166, 280 của BLDS ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế P. Buộc anh Trịnh Tùng L phải thanh toán trả ông Nguyễn Thế P số tiền 31.000.000 đồng (Ba mươi mốt triệu đồng).

Về án phí: Anh L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm vấn công khai tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ông Nguyễn Thế P có đơn khởi kiện yêu cầu anh Trịnh Tùng L trả tiền. Anh L cư trú tại phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang nên quan hệ pháp luật là “Tranh chấp kiện đòi tài sản” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của BLTTDS.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn anh Trịnh Tùng L vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai nên HĐXX căn cứ Điều 227, 228 của BLTTDS xét xử vắng mặt anh L.

[2] Về nội dung: Căn cứ “Giấy biên nhận” ghi ngày 20/11/2018, lời khai của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án xác định: Ngày 20/11/2018 anh Trịnh Tùng L vay ông Nguyễn Thế P số tiền 50.000.000 đồng để mua xe máy, nhưng thực tế không có việc mua bán xe máy mà là vay tiền, hai bên không thỏa thuận lãi suất, không hẹn ngày trả trong giấy biên nhận. Ông P đã đòi tiền anh L nhiều lần. Đến ngày xét xử 10/5/2024 anh L xuất trình tài liệu là bản phô tô về việc anh L đã trả ông P hai lần tiền, ngày 05/11/2019 trả 15.000.000 đồng, ngày 25/01/2022 trả 4.000.000 đồng, tổng đã trả 19.000.000 đồng, ông P cũng nhất trí.

Nay ông P khởi kiện yêu cầu anh Trịnh Tùng L phải thanh toán trả ông P số tiền 31.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi suất.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thế P, Hội đồng xét xử thấy: Giữa ông P và anh L có lập giấy biên nhận vay tiền, nội dung thể hiện anh L vay ông P số tiền 50.000.000 đồng, có chữ ký người giao tiền là ông Nguyễn Thế P, người nhận tiền là anh Trịnh Tùng L. Quá trình vay anh L đã trả ông P tổng số tiền gốc là 19.000.000 đồng, Nay ông P yêu cầu anh L thanh toán trả số tiền 31.000.000 đồng là có căn cứ theo quy định tại các Điều 166, 280 của BLDS.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông P được chấp nhận nên anh L phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm là: 31.000.000 đồng x 5% = 1.550.000 đồng

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, 147, Điều 227, khoản 2 Điều 228, Điều 271, 272 và Điều 273 của BLTTDS; Điều 166, 280 của BLDS; Điều 24, 26 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

Buộc anh Trịnh Tùng L phải thanh toán trả ông Nguyễn Thế P số tiền 31.000.000 đồng (Ba mươi mốt triệu đồng).

2. Về án phí: Anh L phải chịu 1.550.000 đồng (Một triệu, năm trăm năm mươi nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thị Thu Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/DS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 27/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phùng - Long
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger