TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HS-ST Ngày: 10 – 5 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Bình.
Ông Nguyễn Văn Thiện.
- Thư ký phiên toà: Tô Văn Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh,
tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham
gia phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Lực - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 và Quyết định thay đổi kiểm sát viên số 04/QĐ-VKS-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Thị Ngọc G, sinh năm 1990 tại Bình Thuận;
Nơi ĐKHKTT: Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Chỗ ở hiện nay: Thôn G, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Tấn P, sinh năm 1967 và bà Trương Thị H, sinh năm 1970; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; có chồng là Trần Đ (đã ly hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 2009, con nhỏ sinh năm 2011.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2023. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt tại phiên tòa.
· Bị hại:
+ Võ Ngọc S, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Số C, đường T, thôn C, xã M, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
+ Trần Phan Hoàng P1, sinh năm 1981 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ C, khu phố E, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
+ Trần Văn M, sinh năm 1964 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
+ Nguyễn Đức T, sinh năm 1995 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Số A, đường H, khu phố F, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
+ Phan Trương N, sinh năm 2003 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Số A, đường số C, thôn E, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
+ Trần Công N1, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Số D, đường N, khu phố I, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Phạm Bá H1, sinh năm 1972 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Số F, ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
+ Huỳnh Văn V, sinh năm 1983 (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Tổ E, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng sáng ngày 03/10/2023, Ú (chưa rõ nhân thân, lai lịch) điều khiển xe Wave Anpha màu đỏ, gắn biển số 60V6-8225 chở Trần Thị Ngọc G đi hướng N về thị trấn V và xã M tìm xe để trộm. Khi đi đến khu vực đồng ruộng M thuộc thôn F, xã M, huyện Đ thì phát hiện 01 xe Honda Winer biển số 86B8-465.96 của ông Võ Ngọc S dựng ở ven đường nên Ú dừng xe lại. Trần Thị Ngọc G đứng lề đường cảnh giới, Ú đi bộ đến chiếc xe của ông S bẻ khóa lấy trộm nhưng chưa bẻ được thì bị ông S phát hiện. Ú chạy đến vị trí Trần Thị Ngọc G đứng đợi và điều khiển xe mô tô Wave Anpha màu đỏ, gắn biển số 60V6-8225 chở Trần Thị Ngọc G đi về hướng xã N thì bị người dân phát hiện và truy đuổi, đến đoạn kênh khu vực đê bao thuộc khu phố H, thị trấn V, huyện Đ thì Trần Thị Ngọc G bị giữ lại, Ú bỏ chạy thoát.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 06 ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá huyện Đ kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Winner, màu xanh trắng đen, biển số 86B8 - 465.96, tại thời điểm ngày 03/10/2023 có giá trị 27.000.000 đồng (Hai mươi bảy triệu đồng).
Quá trình điều tra, Trần Thị Ngọc G khai nhận đã thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Đ. Cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: khoảng 10 giờ ngày 09/06/2023, Ú điều khiển xe hiệu Wave Anpha màu đỏ, gắn biển số 60V6-8225 chở G đi lòng vòng trên các tuyến đường huyện Đ để tìm xe lấy trộm. Khi đi đến đường đê ngoài đồng ruộng thuộc thôn H, xã N, huyện Đ thì thấy 01 chiếc xe mô tô SH Mode màu đỏ đen, biển số 86B8 - 344.95 của ông Trần Phan Hoàng P1, dựng bờ ruộng không có người trông coi nên Ú đi đến lấy trộm xe, G đứng gần đó cảnh giới. Sau khi lấy trộm được xe, Ú và G mang xe về căn nhà thuê ở thôn G, xã N, huyện Đ. Út tháo biển số xe này ra và gắn biển số khác vào. Sau đó, Ú và G sử dụng chiếc xe này để tiếp tục cùng nhau đi trộm cắp xe. Cơ quan điều tra đã thu hồi được biển số 86B8 – 344.95 và xe mô tô biển số 86B8 – 344.95 cùng 01 giấy đăng ký xe mô tô Dream, biển số 60F2 – 2577, tên chủ xe Tô Duy L, trú tại TĐ1, T, B, X, Đồng Nai và 01 giấy đăng ký xe biển số 86B8-344.95 có trong cốp xe. Tài sản đã được trả cho chủ sở hữu ông Trần Phan Hoàng P1.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 75 ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá huyện Đ kết luận 01 xe mô tô hiệu Honda SH mode, biển số 86B8 - 344.95, tại thời điểm ngày 09/06/2023, có giá trị 29.000.000 đồng (Hai mươi chín triệu đồng).
Vụ thứ hai: Vào ngày 13/09/2023, Ú chạy xe Wave Anpha màu đỏ, gắn biển số 60V6-8225 chở G đi đến thị trấn V tìm xe để trộm. Khi đi đến khu vực bãi đất trống thuộc khu phố I, thị trấn V, huyện Đ thì phát hiện 01 xe mô tô, biển số 60S7-6343 do ông Trần Công N1, dựng không có người trông coi nên Ú chở G quay ra lại bên ngoài gần đường lớn, G đứng đó canh người, Ú đi bộ đến chiếc xe để lấy trộm. Sau khi lấy được xe, Ú chạy về căn nhà thuê cất. Hiện chưa thu hồi được tài sản.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 06 ngày 12/01/2024 của Hội đồng định giá huyện Đ kết luận: 01 xe mô tô hiệu Havico, màu nâu, số khung: 054UM-212978, số máy : FMG-34F412978, biển số 60S7-6343, tại thời điểm ngày 13/09/2023, giá trị 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Vụ thứ ba: Vào ngày 25/09/2023, Ú chạy xe Wave Anpha màu đỏ, gắn biển số 60V6-8225 chở G đi lòng vòng ở xã T để tìm xe lấy trộm. Khi đến khu vực rẫy điều thuộc thôn A, xã T, huyện Đ thì Ú và G thấy 01 xe Honda Wave Anpha màu đen, biển số 86B8-532.97 của ông Trần Văn M, dựng không có người trông coi nên Ú đi bộ vào lấy trộm xe, rồi chạy xe về căn nhà thuê. Trong cốp xe có 01 giấy đăng ký xe biển số 86B8-532.97. Sau đó, Ú và G mang xe và giấy đăng ký xe đến tiệm mua bán xe của ông Phạm Bá H1 bán với giá 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng). Cơ quan điều tra đã thu hồi được xe mô tô biển số 86B8-532.97 và 01 giấy đăng ký xe biển số 86B8-532.97 trả cho chủ sở hữu ông Trần Văn M.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 75 ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá huyện Đ kết luận 01 xe mô tô hiệu Honda Wave, biển số 86B8-532.97, tại thời điểm ngày 25/09/2023, giá trị 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng).
Vụ thứ tư: Vào ngày 30/09/2023, Ú chạy xe Wave Anpha màu đỏ, gắn biển số 60V6-8225 chở G đi đến xã M tìm xe để trộm. Khi đi vào đường đất đến vườn cây cao su thuộc đồng cầu đỏ xã M, huyện Đ, thì Ú và G phát hiện 01 chiếc xe Yamaha Gravitar biển số 86Z1-4850 của ông Nguyễn Đức T, dựng không có ai trông coi nên Ú đi đến lấy trộm xe, rồi chạy xe về căn nhà thuê, tháo biển số xe này ra và gắn biển số khác vào. Sau đó, G chạy xe này đến tiệm mua bán xe của ông Huỳnh Văn V bán với giá 1.900.000 đồng (Một triệu chín trăm nghìn đồng). Cơ quan điều tra đã thu hồi được xe mô tô biển số 86Z1-4850 và 01 giấy đăng ký xe biển số 86Z1-4850 trả cho chủ sở hữu ông Nguyễn Đức T.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 75 ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá huyện Đ kết luận 01 xe mô tô hiệu Yamaha Jupiter Gravita, biển số 86Z1 - 4850, tại thời điểm ngày 30/09/2023, giá trị 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).
Vụ thứ năm: Chiều tối ngày 30/09/2023, Ú chạy xe SH Mode màu đỏ (Xe Ú và G lấy trộm tại thôn H, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận ngày 09/06/2023), chở G đi đến xã T tìm xe để trộm. Khi đi vào đường H, thuộc thôn D, xã T, huyện Đ, thì phát hiện 01 chiếc xe Suzuki Raider, màu đen biển số 86B8 – 584.57 của ông Phan Trương N, dựng lề đường không có ai trông coi nên Ú đi đến lấy trộm xe, G đứng gần đó cảnh giới. Sau khi lấy được xe, Ú và G mang xe về căn nhà thuê, tháo biển số xe này ra và gắn biển số khác vào. Cơ quan điều tra đã thu hồi được xe mô tô biển số 86B8 – 584.57 và 01 giấy đăng ký xe biển số 86B8 – 584.57 trả cho chủ sở hữu ông Nguyễn Đức T.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 75 ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá huyện Đ kết luận 01 xe mô tô hiệu Suzuki Raider, biển số 86B8 - 584.57, tại thời điểm ngày 30/09/2023, giá trị 33.000.000 đồng (Ba mươi ba triệu đồng).
Bị hại Trần Công N1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 3.000.000 đồng.
Bị hại Võ Ngọc S, Trần Phan Hoàng P1, Trần Văn M, Nguyễn Đức T, Phan Trương N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Văn H2, Huỳnh Văn V không biết nguồn gốc các xe đã mua là do phạm tội mà có, không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Với những tình tiết nêu trên tại Cáo trạng số 24/CT-VKSÐL-HS ngày 20/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố bị cáo Trần Thị Ngọc G về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Trần Thị Ngọc G thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến và nhất trí với kết luận định giá tài sản.
Đại diện VKSND huyện Đức Linh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Thị Ngọc G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc G mức án từ 3 đến 4 năm tù.
- Về dân sự:
+ Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 9.900.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
+ Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc G phải bồi thường cho ông Trần Công N1 số tiền 3.000.000 đồng.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Đã nhận ra lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị hại Trần Công N1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Văn V, Phạm Bá H1 vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt; các bị hại khác vắng mặt nhưng đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án, không yêu cầu bồi thường về dân sự, không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản sự việc; biên bản xác định hiện trường; biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc; kết luận định giá tài sản; lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định:
[2.1] Về hành vi phạm tội:
Trong khoảng thời gian từ ngày 09/6/2023 đến ngày 03/10/2023, Trần Thị Ngọc G 06 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Đ. Ngày 09/6/2023, Trần Thị Ngọc G trộm của ông Trần Phan Hoàng P1 tại đồng ruộng thuộc thôn H, xã N 01 chiếc xe mô tô hiệu SH Mode màu đỏ đen, biển số 86B8-344.95, giá trị 29.000.000 đồng. Ngày 13/09/2023, Trần Thị Ngọc G trộm 01 chiếc xe mô tô hiệu Havico màu nâu, biển số 60S7-6343 của ông Trần Công N1 tại khu phố I, thị trấn V, giá trị 3.000.000 đồng. Ngày 25/09/2023, Trần Thị Ngọc G trộm 01 xe mô tô Wave Anpha màu đen, biển số 86B8-532.97 của ông Trần Văn M tại thôn A, xã T, giá trị 12.000.000 đồng. Ngày 30/09/2023, Trần Thị Ngọc G trộm 01 chiếc xe mô tô Yamaha Jupiter Gravitar, biển số 86Z1-4850 của ông Nguyễn Đức T tại đồng cầu đỏ thuộc xã M, giá trị 8.000.000 đồng. Ngày 30/09/2023, Trần Thị Ngọc G trộm 01 chiếc xe mô tô Suzuki Raider màu đen đỏ, biển số 86B8-584.57 của ông Phan Trương N tại thôn D, xã T, giá trị 33.000.000 đồng. Ngày 03/10/2023, Trần Thị Ngọc G trộm 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda, loại Winner, màu xanh trắng đen, biển số 86B8 - 465.96 của ông Võ Ngọc S tại khu vực đồng ruộng M, thôn F, xã M, giá trị 27.000.000 đồng.
Trần Thị Ngọc G thực hiện 6 lần trộm cắp tài sản, cả 6 lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, tổng tài sản chiếm đoạt là 112.000.000 đồng.
[2.2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, xâm hại đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân, biết được việc trộm cắp tài sản là trái pháp luật, sẽ bị trừng trị nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng tội.
[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo 6 lần thực hiện trộm cắp tài sản, cả 6 lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
[2.4] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa chung cho xã hội.
[2.5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản nên không xem xét phạt tiền.
[3] Về xử lý vật chứng:
- Các tài sản là xe mô tô, biển số xe đã được thu giữ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
- 01 biển số 86B8 – 408.17; 01 biển số 86Y1 – 2167; 01 biển số 86B8 – 019.75, cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục tạm giữ, xác minh làm rõ là phù hợp;
- 01 giấy phép lái xe hạng A1 và 01 căn cước công dân mang tên Phạm Phước T1, trú tại tổ H, khu phố H, Đ, Đ, Bình Thuận. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại Phạm Phước T1 là phù hợp.
- 01 tua vít kim loại dài 20cm, tay cầm màu vàng xám; 10 tua vít các loại; 01 cái liềm dài 37cm, lưỡi liềm kim loại cong, cán liềm bằng gỗ tròn; 01 kiềm kim loại cán màu xanh; 01 túi vải caro, bên trong có chứa: 01 kiềm bằng kim loại có cán bọc nhựa màu đỏ đen có chữ UNITY; 01 tua vít kim loại dài 19cm, tay cầm màu đen cam có chữ KAPUSI; 03 cây khóa lục giác là những công cụ sử dụng để phạm tội, không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu huỷ.
- 01 máy mài cầm tay hiệu CROWN của người tên Ú. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục tạm giữ xác minh là phù hợp.
- 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...], mang tên Đoàn Thị S1 - 1975, trú tại ấp B, T, Đ, Đồng Nai; 01 căn cước công dân mang tên Đoàn Thị S1 - 1975, trú tại tổ D, ấp B, T, Đ, Đồng Nai; 01 giấy đăng ký xe mô tô biển số 60H6 – 210.22, tên chủ xe Đoàn Thị S1 - 1975, địa chỉ tổ D, ấp B, T, Đ, Đồng Nai; 01 xe máy lóc máy có chữ DETECH, bửng xe dán RC, số máy: VDEJQ139FMB-2367594, số khung: RPESCB2PEKA367594, gắn biển số 67AD-033.10. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục tạm giữ để chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai xử lý là phù hợp.
- 01 thẻ ngân hàng V2 mang tên Trần Thị Ngọc G, 01 bóp da nữ có chữ PRADA, 01 bóp da màu đen có chữ GENK, 01 căn cước công dân số [...], mang tên Trần Thị Ngọc G, không liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho Trần Thị Ngọc G là phù hợp.
- Số tiền 615.000 đồng của Trần Thị Ngọc G là tiền của bị cáo, trả cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- 01 xe mô tô hiệu Honđa, màu đỏ, số khung: HHC09023Y301436, số máy: HC09E-0301540, gắn biển số 60V6-8225 là xe mô tô của ông Hồ Q, sinh năm 1967, trú tại khu phố A, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận bị kẻ gian lấy cắp vào ngày 30/08/2023 tại rẫy cao su thuộc thôn C, xã T, huyện Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại xe cho ông Hồ Q, tiếp tục tạm giữ biển số 60V6-8225 xác minh là phù hợp.
- 01 xe mô tô trên bửng có chữ Dream II, số máy: LC150FMG801796435, số khung: LZSXCHLS01796435, không có biển số; 01 biển số xe 86F8 – 1138 là xe của ông Nguyễn Tấn V1, sinh năm 1993, trú tại thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận bị kẻ gian lấy trộm vào tháng 10 năm 2023 tại nhà hoang thuộc thôn H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trả lại cho Nguyễn Tấn V1 là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
- Buộc bị cáo phải nộp số tiền thu lợi bất chính 9.900.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước.
- Các bị hại đã nhận lại tài sản là Võ Ngọc S, Trần Phan Hoàng P1, Trần Văn M, Nguyễn Đức T, Phan Trương N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Văn H2, Huỳnh Văn V không yêu cầu bồi thường về dân sự nên không xem xét buộc bị cáo phải bồi thường về dân sự.
- Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc G phải bồi thường cho ông Trần Công N1 số tiền 3.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
[5] Ngoài ra, Trần Thị Ngọc G còn khai nhận cùng với Ú trộm 01 xe Wave Anpha màu trắng, biển số 60B4-707.97 tại khu vực rẫy thuộc xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã ban hành Công văn đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Đồng Nai để điều tra theo thẩm quyền là phù hợp.
[6] Phạm Văn H2, Huỳnh Văn V mua tài sản của bị cáo nhưng không biết tài sản do phạm tội mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.
[7] Đối với người tên Ú có hành vi trộm một số xe mô tô khác trên địa bàn huyện Đ và cùng với Trần Thị Ngọc G trộm xe, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ chưa xác định được nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ tiếp tục điều tra, xử lý sau.
[8] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[10] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền phải bồi thường.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Ngọc G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Ngọc G 3 (Ba) năm 6 (S2) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 03/10/2023.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 tua vít kim loại dài 20cm, tay cầm màu vàng xám; 10 tua vít các loại; 01 cái liềm dài 37cm, lưỡi liềm kim loại cong, cán liềm bằng gỗ tròn; 01 kiềm kim loại cán màu xanh; 01 túi vải caro, bên trong có chứa: 01 kiềm bằng kim loại có cán bọc nhựa màu đỏ đen có chữ UNITY; 01 tua vít kim loại dài 19cm, tay cầm màu đen cam có chữ KAPUSI; 03 cây khóa lục giác.
Trả lại cho bị cáo Trần Thị Ngọc G số tiền 615.000 đồng (Sáu trăm mười lăm nghìn đồng), nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Các vật chứng trên đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 02/4/2024 và giấy nộp tiền ngày 03/4/2024)
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, Điều 587 và Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015:
- Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc G phải nộp khoản thu lợi bất chính là 9.900.000 đồng (Chín triệu chín trăm nghìn đồng) vào ngân sách nhà nước.
- Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc G phải bồi thường cho ông Trần Công N1 số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Trần Thị Ngọc G phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 10/5/2024). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Nghĩa |
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị Ngoc G "Trộm cắp tài sản"
