Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỜ ĐỎ

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10/5/2024
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa

Các Hội Thẩm nhân dân: 1/ Ông Phạm Hồng Lưu

2/ Ông Lê Văn Thừa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 17/2024/TLST-HNGĐ, ngày 30 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp: “Xin ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 63/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 02 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hồng D, sinh năm 1983 (xin vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số B, khóm A, phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.
  • - Bị đơn: Chị Nguyễn Tuyết N, sinh năm 1983 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Số F, ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện cùng các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ nguyên đơn – anh Nguyễn Hồng D trình bày:
    • - Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hồng D và chị Nguyễn Tuyết N tự tìm hiểu và quen biết nhau vào năm 2003. Sau thời gian tìm hiểu cả 02 quyết định tiến tới hôn nhân vào năm 2009, thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ ruột của anh Nguyễn Hồng D. Cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên cãi nhau dẫn đến đời sống hôn nhân không hạnh phúc, kể từ năm 2011 anh Nguyễn Hồng D xuất gia theo đạo phật và hiện đang tu tại chùa ở Vĩnh Long. Do không còn tình cảm vợ chồng gì nhau nên anh Nguyễn Hồng D yêu cầu Tòa án xem xét cho ly hôn với chị Nguyễn Tuyết N.
    • - Về nuôi con chung: Quá trình chung sống anh D và chị N có 02 con chung tên Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày 02/10/2004; Nguyễn Hồng L, sinh ngày 26/11/2006. Hiện các con đang sống với chị N anh D đồng ý giao các con chung cho chị N nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.
    • - Về chia tài sản chung: Vợ chồng không tạo lập được tài sản chung, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
    • - Về nghĩa vụ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có nợ ai, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
  2. Bị đơn chị Nguyễn Tuyết N vắng mặt trong suốt thời gian Tòa án thụ lý, xét xử nên không có lời trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về Tố tụng:

[1.1] Anh Nguyễn Hồng D khởi kiện yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Tuyết N xét đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình, bị đơn cư trú ở địa bàn huyện C, thành phố Cần Thơ nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ quy định tại Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Chị Nguyễn Tuyết N là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt chị N. Anh Nguyễn Hồng D là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt được Tòa chấp nhận. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt anh D.

[2] Xét về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Nguyễn Hồng D và chị Nguyễn Tuyết N có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, nên quan hệ hôn nhân này là hợp pháp, khi phát sinh tranh chấp Toà án xem xét giải quyết theo thủ tục chung.

[3] Xét nguyên nhân mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa anh D và chị N: Theo trình bày của anh D do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, vợ chồng không hòa hợp về tính cách nên không có sự thấu hiểu và cảm thông nhau, từ đó tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách và anh D quyết định xuất gia theo đạo phật kể từ năm 2011. Xét, việc anh D không còn tình cảm gì với chị N và hiện tại đã xuất gia theo đạo phật, nhận thấy không thể hàn gắn tình cảm vợ chồng nên Tòa án cho ly hôn giữa anh D với chị N.

[4] Về nuôi con chung: Xét các con chung của anh D và chị N gồm Nguyễn Thị Tuyết N1, sinh ngày 02/10/2004; Nguyễn Hồng L, sinh ngày 26/11/2006 thì Nguyễn Thị Tuyết N1 đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét về nuôi con chung. Đối với cháu Nguyễn Hồng L hiện đang sống với chị N nên Tòa án tiếp tục giao quyền nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hồng L cho chị N tiếp tục thực hiện cho đến khi cháu lạc tròn 18 tuổi. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con không ai đặt ra để tòa án xem xét nên Tòa án không xem xét giải quyết. Đương sự được thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật.

[5] Về chia tài sản chung: Do đương sự không yêu cầu, nên Tòa án không xem xét.

[6] Về nghĩa vụ chung: Đương sự khai không có, tòa án không xem xét.

[7] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Nguyễn Hồng D phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 227; Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 9; Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 có hiệu lực 01.01.2015;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc án phí, lệ phí.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Hồng D về việc xin ly hôn với chị Nguyễn Tuyết N.
    • - Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Hồng D với chị Nguyễn Tuyết N.
    • - Về nuôi con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hồng L, sinh ngày 26/11/2006 cho chị Nguyễn Tuyết N trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh Nguyễn Hồng D không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
    • - Về quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung: Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho anh Nguyễn Hồng D theo quy định của pháp luật, không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.
    • - Về chia tài sản chung: Đương sự không yêu cầu, Toà án không xem xét.
    • - Về nghĩa vụ chung: Đương sự khai không có, Toà án không xem xét.
  2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Anh Nguyễn Hồng D phải nộp số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007871 ngày 30/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Anh D đã thực hiện xong.
  3. Về quyền kháng cáo: Tuyên án công khai các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hay niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa Tớithi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự./.
Các Hội thẩm nhân dân Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
Phạm Hồng Lưu Lê Văn T Nguyễn Đăng K
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn (hôn nhân gia đình)

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn (Hôn nhân gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: do mâu thuẫn trong quan hệ vợ chồng không thể hàn gắn nên các đương ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger