Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUYÊN HOÁ

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày: 09 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Xuân Thuận;
  2. Bà Trần Thị Phúc Tuệ.

- Thư ký phiên toà: Ông Trần Thanh Quang – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS, ngày 14 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2024/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn H, sinh ngày 02 tháng 01 năm 1996, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị H1; Vợ: Hoàng Thị N; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 21/3/2024 cho đến ngày 16/04/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Nguyễn Văn T, sinh ngày 26 tháng 7 năm 1999, tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Nguyễn Thị H1; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T từ ngày 21/3/2024 cho đến ngày 16/04/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Phan Thế A, sinh năm 1992; nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1974; nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

- Người tố giác: Ông Hoàng Xuân H2, sinh năm 1962; nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Văn H3, sinh năm 1997; nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị Ngọc Á, sinh năm 2006; nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
  • + Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1996; nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, cóa mặt.
  • + Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1968; nơi cưi trú: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tháng 5/2023, Nguyễn Văn H cho Phan Thế A vay số tiền 150.000.000 đồng và hưởng lãi suất theo thỏa thuận. Sau khi vay tiền, Phan Thế A chỉ thực hiện nghĩa vụ trả lãi theo thỏa thuận được 04 tháng thì không có khả năng chi trả và rời khỏi địa phương. H tìm cách liên lạc với anh Phan Thế A để đòi nợ nhưng không được. Quá trình đó H có nhờ anh Nguyễn Văn H3 trú cùng thôn, khi nào thấy anh Phan Thế A thì báo cho H để gặp giải quyết công việc riêng. Đến khoảng 08 giờ ngày 21/3/2024, H được anh Nguyễn Văn H3 gọi điện báo anh Phan Thế A đang có mặt tại nhà bố vợ là ông Nguyễn Văn N1 tại thôn C, xã T, huyện T. Sau khi được H3 báo tin, H đã rủ Nguyễn Văn T (là em trai của H), cùng đi đến nhà của ông N1 để tìm gặp anh Phan Thế A, T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha bienr kiểm soát 73D1-123.69, chở theo H đến nhà của ông N1. Khi đến T1 dừng xe đứng ngoài cổng, còn H đi vào nhà tìm gặp anh Phan Thế A để nói chuyện. Khi gặp, H yêu cầu anh A trả nợ, nhưng anh A im lặng, H đi đến ôm và kéo buộc anh A đi theo mình, anh A không chấp nhận và kháng cự lại, dùng tay ôm vào tường nhà. H gọi “Toản ơi” (Mục đích để T vào giúp), khi nghe H gọi T đi từ ngoài sân vào cùng với H dùng tay ôm, kéo, khống chế đẩy anh A ra ngoài sân, đưa lên xe mô tô, rồi T điều khiển xe mô tô chở H ngồi sau kẹp anh A ngồi ở giữa đi về nhà H tại thôn C, xã T, huyện T. Khi về đến nhà, H cầm cổ áo kéo anh A xuống xe, đưa vào gian nhà phía sau. Tại đây, H tiếp tục yêu cầu anh A trả nợ, nhưng anh A trả lời “Hiện tại chưa có tiền”. Sau nhiều lần yêu cầu anh A tìm cách để trả tiền cho mình nhưng anh A không thực hiện. H đã dùng tay, chân, dép đánh anh A làm anh A bị thương tích ở vùng đầu gây chảy máu. H tiếp tục giữ anh A tại nhà mình để yêu cầu anh A trả nợ. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, thì người dân phát hiện trình báo cho Công an huyện T.

Hậu quả: Anh Phan Thế A bị 01 vết thương rách da ở trán phải; 01 vết sưng đỏ vùng gáy bên trái; 01 vết tổn thương qua lớp biểu bì da ở đốt 2 ngón 4 bàn tay phải và 01 vết tổn thương qua lớp biểu bì da ở đốt 2 ngon 4 bàn tay bên phải.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 49/KLTTCT-TTGĐYK-PY ngày 10/4/2024 của Trung tâm giám định Y khoa - Pháp y tỉnh Q, kết luận: tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Phan Thế A tại thời điểm giám định là 03%.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ: 01 xe ô tô biển kiểm soát D1-123.69, nhãn hiệu Yamaha, số loại EXCITER, màu sơn trắng – đỏ; số máy: G3D4E178781, số khung: 0610fy165907, xe đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE 13 mini, màu xanh, số I: 353410575100643, gắn thẻ sim số: 0836859001; 01 chiếc dép da bên phải màu đen, bề mặt có ghi chữ T2; 01 hộp cát tông đã được niêm phong, bên trong có chứa một mảnh vải có nhiều hoa văn, họa nét xanh – trắng – vàng, dính chất màu đỏ; 01 hộp cát tông đã được niêm phong, bên trong có các mẫu giấy nhiều kích thước dính chất màu đỏ; 01 phong bì được niêm phong, bên trong có chứa một túi nilon đựng chất màu nâu.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T cùng gia đình thỏa thuận bồi thường cho anh Phan Thế A số tiền 3.000.000 đồng. Anh Phan Thế A đã nhận số tiền, không có yêu cầu gì thêm và làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho H và T.

Tại bản Cáo trạng số 27/CT-VKSTH- HS ngày 12/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình đã truy tố Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng cải tạo không giam giữ; về trách nhiệm dân sự: không đề nghị xem xét thêm; về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự 2015: trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T3 01 xe ô tô biển kiểm soát 73D1-123.69, nhãn hiệu Yamaha, số loại EXCITER, màu sơn trắng – đỏ; số máy: G3D4E178781, số khung: 0610fy165907, xe đã qua sử dụng; trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE 13 mini, màu xanh, số I: 353410575100643, gắn thẻ sim số: 0836859001; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình s 2015; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015: Tuyên tịch thu tiêu hủy số vật chứng còn lại theo biên bản giao nhận giữa Cơ quan điều tra Công an huyện T với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Nói lời sau cùng, các bị cáo nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, hành vi và các quyết định tố tụng mà các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T khai nhận: Ngày 21/3/2024 Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T không có chức năng quyền hạn cũng như không được giao thực hiện nhiệm vụ bắt, giữ người nhưng Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T đã có hành vi dùng vũ lực lôi kéo, bắt, giữ anh Phan Thế A trái ý muốn của anh A và trái quy định của pháp luật. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người tố giác, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” được quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về vai trò, tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo:

Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm, tuy nhiên trước khi phạm tội các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công vai trò, vị trí cho nhau, vì vậy tính chất đồng phạm chỉ mang tính giản đơn. Xét vai trò của các bị cáo, thấy bị cáo Nguyễn Văn H là người chủ động, tích cực thực hiện hành vi bắt, giữ anh Phan Thế A trái pháp luật, bị cáo Nguyễn Văn T đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực. Do đó, bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Hành vi của các bị cáo đã thực hiện trong vụ án là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo nhận thức được hành vi bắt, giữ người người khác khi không có nhiệm vụ, thẩm quyền là trái quy định của pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, điều đó đã làm ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội tại địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giản nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về áp dụng hình phạt đối với các bị cáo:

Căn cứ vào vai trò tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Xét thấy các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có đủ điều kiện được rèn luyện, cải tạo tại địa phương nên áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương là cũng đủ nghiêm và thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật và phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát D1-123.69, nhãn hiệu Yamaha, số loại EXCITER, màu sơn trắng – đỏ; số máy: G3D4E178781, số khung: 0610fy165907 là tài sản hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T3. Anh T3 giao cho bà Nguyễn Thị H1 (mẹ đẻ) được quyền quản lý, sử dụng. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe nói trên để thực hiện hành vi phạm tội bà H1 không biết, do đó cần trả lại cho người được quyền quản lý, sử dụng hợp pháp là là bà Nguyễn Thị H1 là phù hợp.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, loại IPHONE 13 mini, màu xanh, số I: 353410575100643, gắn thẻ sim số: 0836859001 không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H.

Đối với các vật chứng gồm: 01 chiếc dép da bên phải màu đen, bề mặt có chử T2; hộp cát tông đã được niêm phong, bên trong có chứa một mảnh vải có nhiều hoa văn, họa nét xanh – trắng – vàng, dính chất màu đỏ; 01 hộp cát tông đã được niêm phong, bên trong có các mẫu giấy nhiều kích thước dính chất màu đỏ; 01 phong bì được niêm phong, bên trong có chứa một túi nilon đựng chất màu nâu cần tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T đã cùng gia đình thỏa thuận bồi thường cho bị hại anh Phan Thế A số tiền 3.000.000 đồng. Anh Nguyễn Thế A1 đã nhận tiền, không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.

[8] Về án phí:

Các bị cáo Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, Nguyễn Văn H còn có hành vi gây thương tích cho anh Phan Thế A với tỉ lệ tổn thương cơ thể là 0,3%, nhưng anh Phan Thế A không yêu cầu khởi tố và còn có hành vi cho anh Phan Thế A vay số tiền 150.000.000 đồng với lãi suất thỏa thuận là 6.750.000 đồng/ 01 tháng, tương đương với lãi suất 52,98%/01 năm, gấp 2,65 lần mức lãi suất cho phép theo quy định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự. Các hành vi nêu trên của bị cáo H chưa cấu thành tội phạm “Cố ý gây thương tích” và “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định pháp luật nên cơ quan điều tra đã chuyển xử lý hành chính là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Đối với anh Nguyễn Văn H3 là người đã gọi điện thoại cho bị cáo Nguyễn Văn H thông báo về vị trí của anh Phan Thế A, nhưng quá trình điều tra đã làm rõ anh H3 không biết mục đích bị cáo H tìm gặp anh Phan Thế A, quá trình H và T thực hiện hành vi phạm tội anh H3 không liên quan, không tham gia nên không xem xét xử lý là đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 157; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (áp dụng cho các bị cáo Nguyễn Văn HNguyễn Văn T).

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn HNguyễn Văn T phạm tội "Bắt, giữ người trái pháp luật".
  2. Về hình phạt:
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến ngày 16/4/2024, được quy đổi thành 81 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành là 09 tháng, 09 ngày.
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/3/2024 đến ngày 16/4/2024, được quy đổi thành 81 ngày cải tạo không giam giữ. Thời gian còn lại buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chấp hành là 06 tháng, 09 ngày.

    Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ đối với các bị cáo Nguyễn Văn HNguyễn Văn T tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án.

    Miễn khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo Nguyễn Văn HNguyễn Văn T trong thời gian chấp hành hình phạt, do các bị cáo thu nhập không ổn định.

    Giao các bị cáo Nguyễn Văn HNguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình phối hợp cùng với gia đình để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét thêm.
  4. Về xử lý vật chứng:

    Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự 2015

    Trả lại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1974; nơi cư trú: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình 01 xe ô tô biển kiểm soát 73D1-123.69, nhãn hiệu YAMAHA, số loại EXCITER, màu sơn trắng – đỏ; số máy: G3D4E178781, số khung: 0610fy165907, xe đã qua sử dụng.

    Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, nhãn hiệu Iphone 13 mini, màu xanh, số IMEI: 353410575100643, gắn thẻ sim số: 0836859001, đã qua sử dụng.

    Áp dụng các điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, tịch thu, tiêu hủy:

    • - 01 chiếc dép da màu đen, bề mặt có chữ “TUẤN”, dép bên phải, đã qua sử dụng;
    • - 01 hộp cát tông đã được niêm phong, bên trong có chứa một mảnh vải có nhiều hoa văn, họa nét xanh, trắng, vàng, dính chất màu nâu đỏ;
    • - 01 hộp cát tông đã được niêm phong, bên trong có các mẫu giấy nhiều kích thước dính chất màu nâu đỏ;
    • - 01 phong bì được niêm phong, bên trong có chứa một túi nilon đựng chất màu nâu đỏ.

    Các vật chứng nói trên có đặc điểm được mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình ngày 21/6/2024.

  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTCQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thượng vụ Quốc hội: Buộc các bị cáo Nguyễn Văn TNguyễn Văn H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 09/7/2024 (đối với những người có mặt tại phiên tòa) và trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định pháp luật (đối với những người vắng mặt tại phiên tòa)

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Quảng Bình;
  • - VKSND huyện Tuyên Hoá;
  • - Công an huyện Tuyên Hóa;
  • - TAND tỉnh Quảng Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Bình;
  • - Chi cục THADS Tuyên Hóa;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH về hình sự (bắt, giữ người trái pháp luật)

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Bắt, giữ người trái pháp luật)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HOÁ, TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do mâu thuẫn trong việc vay mượn tài sản nên Nguyễn Văn H và đồng phạm đã có hành vi băt, giữ người trái pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger