Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09/5/2024

“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Thường

Bà Nguyễn Thị Thu Phương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hường - Kiểm sát viên.

Ngày 09/5/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 46/2024/TLST-HNGĐ, ngày 20 tháng 02 năm 2024, về “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/4/2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1984; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước

* Bị đơn: Bà Hồ Thị Kim L, sinh năm 1976; (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và các văn bản có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Văn P trình bày.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn P và bà Hồ Thị Kim L chung sống với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã Đ (N là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước vào năm 2017. Quá trình chung sống, lúc đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian gần đây vợ chồng có nhiều mâu thuẫn xảy ra, bất đồng quan điểm sống. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn. Nay ông Nguyễn Văn P khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn với bà Hồ Thị Kim L.

Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2014 và Nguyễn Thanh H1, sinh năm 2016. Khi ly hôn, ông P yêu cầu được nuôi cháu Nguyễn Thị Thu H và giao cháu Nguyễn Thanh H1 cho bà Hồ Thị Kim L nuôi dưỡng. Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bận công việc nên ông Nguyễn Văn P xin vắng mặt tại phiên tòa.

Ngoài ra, ông Nguyễn Văn P không yêu cầu gì thêm.

Đối với bị đơn bà Hồ Thị Kim L, tại các văn bản có trong hồ sơ vụ án trình bày:

Về thời gian kết hôn, chung sống thì bà Hồ Thị Kim L đồng ý như lời trình bày của ông Nguyễn Văn P. Trước đây cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Tuy nhiên, thời gian từ năm 2022 đến nay thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn bà Hồ Thị Kim L cho rằng do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm. Từ đó, cuộc sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã nhau, có lúc có xảy ra xô xát giữa vợ chồng. Do đó, nay ông P yêu cầu ly hôn thì bà L cũng đồng ý.

Về con chung: Quá trình chung sống có 02 con chung là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2014 và Nguyễn Thanh H1, sinh năm 2016. Khi ly hôn, bà L đồng ý với yêu cầu của ông P, đồng ý giao cho ông P được nuôi cháu Nguyễn Thị Thu H và giao cháu Nguyễn Thanh H1 cho bà Hồ Thị Kim L nuôi dưỡng. Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hồ Thị Kim L xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án là đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử là đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có đơn xin vắng, do đó đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc vắng mặt theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Ý kiến về giải quyết vụ án: Việc kết hôn, chung sống giữa ông Nguyễn Văn P và bà Hồ Thị Kim L là hợp pháp. Qúa trình chung sống ông P xác định vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xin ly hôn với bà Hồ Thị Kim L. Trong khi đó bà Hồ Thị Kim L cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông Nguyễn Văn P. Kết quả xác minh của Tòa án thể hiện giữa ông L và bà P thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Do đó, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị chấp nhận cho ông P được ly hôn với bà Hồ Thị Kim L.

Về con chung: Ông Nguyễn Văn P và bà Hồ Thị Kim L thống nhất thỏa thuận giao cho ông P được nuôi cháu Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2016 và giao cho bà Hồ Thị Kim L nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thanh H1, sinh năm 2014. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận như trên.

Về việc cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào ý kiến của Kiểm sát viên và đương sự;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân gia đình về “Ly hôn” do nguyên đơn ông Nguyễn Văn P thực hiện quyền khởi kiện. Do bị đơn bà Hồ Thị Kim L có nơi cư trú tại Tổ B, ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Đối với ông Nguyễn Văn P và bà Hồ Thị Kim L có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo luật định.

[2] Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Ông Nguyễn Văn P và bà Hồ Thị Kim L tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thị xã Đ (N là thành phố Đ), tỉnh Bình Phước vào năm 2017. Xét thấy, đây là hôn nhân hợp pháp tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình sống ông P xác định hôn nhân không hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống, tính tình trái ngược, do đó mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng. Quá trình giải quyết vụ án, bà Hồ Thị Kim L thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn và đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông P. Đồng thời, bà L xin vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập để tham gia các phiên hòa giải và phiên tòa nhưng không đến, điều đó thể hiện bà L không còn thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Qua xác minh, được chính quyền địa phương cung cấp giữa ông P và bà L có nhiều mâu thuẫn xảy ra, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Nay anh Nguyễn Văn P xác định tình cảm vợ chồng đã hết, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, tuyên xử cho ông Nguyễn Văn P được ly hôn với bà Hồ Thị Kim L là phù hợp và có căn cứ.

Về con chung: Quá trình chung sống giữa ông P và bà L có 02 con chung là Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2014 và Nguyễn Thanh H1, sinh năm 2016. Xét thấy, ông P và bà L đều thống nhất thỏa thuận giao cho ông P được nuôi cháu Nguyễn Thị Thu H và giao bà Hồ Thị Kim L được nuôi cháu Nguyễn Thanh H1. Việc các đương sự thỏa thuận như trên là phù hợp với nguyện vọng của hai cháu, đúng quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng ghi nhận sự thỏa thuận như trên là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

[3] Về quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

[4] Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn P phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • - Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • - Áp dụng các điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho ông Nguyễn Văn P được ly hôn với bà Hồ Thị Kim L.
  2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, tuyên giao cháu Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 2014 cho ông Nguyễn Văn P trực tiếp nuôi dưỡng; giao cháu Nguyễn Thanh H1, sinh năm 2016 cho bà Hồ Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng, cho đến khi các cháu trưởng thành đủ 18 tuổi.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

  3. Về tài sản chung, nợ chung và các vấn đề khác: Không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Ông Nguyễn Văn P phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0010067 ngày 20/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bình Phước;

- VKSND huyện Đồng Phú ;

- CC.THADS huyện Đồng Phú;

- Các đương sự;

- Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Văn Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 09/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn (hôn nhân và gia đình)

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân và gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phụng - Long ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger