Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KBANG

TỈNH GIA LAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 08/8/2024.

“V/v Ly hôn giữa chị Sương và anh Thơ”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Quế.
  2. Ông Phan Đình Toàn.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Tố Uyên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Kbang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thùy - Kiểm sát viên (KSV).

Ngày 08/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) thụ lý số: 09/2024/TLST-HNGĐ ngày 23/01/2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/7/2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mai S, sinh năm 1976;
  • Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai.
  • - Bị đơn: Anh Phạm Ngọc T, sinh năm 1972;
  • Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai.
  • Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi.
  • Chị S và anh T đều vắng mặt nhưng có đơn đề nghị vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mai S trình bày:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh T qua thời gian quen biết, tìm hiểu đã tự nguyện đi đến hôn nhân và tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 02/11/1992.
  2. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng không hòa hợp, không hiểu tính tình nhau nên bất đồng quan điểm sống. Anh, chị đã không còn chung sống với nhau từ năm 1997 đến nay, mỗi người một cuộc sống, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay xét mâu thuẫn thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

  3. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung nhưng đã chết nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
  4. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản tự khai ngày 12/3/2024, bị đơn anh Phạm Ngọc T trình bày:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Thời gian anh chị tìm hiểu và kết hôn giống như chị S trình bày, anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Trong quá trình chung sống giữa anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung nên từ năm 1997 đến nay anh chị không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Trước đây anh sinh sống tại thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai, sau đó anh chuyển đến nơi khác sinh sống và anh chị không còn liên lạc với nhau. Hiện anh đang sinh sống tại thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi. Do đó, chị S yêu cầu Toà án nhân dân huyện Kbang giải quyết ly hôn thì anh đồng ý và anh đồng ý ly hôn với chị S vì mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng không thể hàn gắn được.
  2. Về con chung: Vợ chồng có 01 con nhung nhưng đã chết nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Các tài liệu, chứng cứ được nguyên đơn giao nộp, gồm: 01 Trích lục kết hôn mang tên Nguyễn Thị Mai SPhạm Ngọc T (bản sao); 01 Căn cước công dân mang tên Nguyễn Thị Mai S (bản pho to);

Các tài liệu, chứng cứ được bị đơn giao nộp: 01 Căn cước công dân mang tên Phạm Ngọc T (bản pho to).

Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Chị S và anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 02/11/1992. Điều này được thể hiện qua chứng cứ do chị S giao nộp là Trích lục kết hôn ngày 02/11/1992 mang tên Nguyễn Thị Mai SPhạm Ngọc T (bản sao).

Tại phiên toà, KSV phát biểu quan điểm của VKSND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai về việc giải quyết vụ án như sau:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 6, Điều 96, Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Đối với bị đơn: Không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 6, Điều 96, Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 93, 94, 143, 144, 147, 227, 228, 238; 266 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Áp dụng vào các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

  • Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Mai S được ly hôn với anh Phạm Ngọc T.
  • Về con chung: Vợ chồng ông, bà có 01 con chung nhưng đã chết nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng ông, bà không có tài sản chung và nợ chung nên đều không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, không đề nghị HĐXX xem xét.
  • Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mai S phải chịu án phí LHST theo quy định.

(Có kèm bài phát biểu).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Mai S có địa chỉ tại thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai có đơn khởi kiện đề nghị TAND huyện Kbang, tỉnh Gia Lai giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa chị và anh Phạm Ngọc T có địa chỉ tại thôn C, xã Đ, huyện K, tỉnh Gia Lai. Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi (cả hai đương sự có thoả thuận lựa chọn Toà án nhân dân huyện Kbang giải quyết vụ án). Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Kbang, tỉnh Gia Lai.

Tại phiên tòa, cả hai đương sự đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị S và anh T tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện K, tỉnh Gia Lai vào ngày 02/11/1992 nên quan hệ hôn nhân giữa chị S và anh T là hợp pháp nên được pháp luật công nhận.

Chị S trình bày, quá trình chung sống hạnh phúc được một thời gian thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng không hòa hợp, không hiểu tính tình nhau nên bất đồng quan điểm sống. Anh, chị đã không còn chung sống với nhau từ năm 1997 đến nay, mỗi người một cuộc sống, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nay xét mâu thuẫn thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Kbang giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Anh T cũng đồng ý ly hôn với chị S vì trong quá trình chung sống giữa anh chị đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, không có tiếng nói chung nên từ năm 1997 đến nay anh chị không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị S và anh T đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ quy định tại các Điều 51 và Điều 56 của Luật HN&GĐ năm 2014 để công nhận sự thuận tình ly hôn của chị S và anh T.

[3] Về con chung: Hai đương sự có 01 con chung nhưng cháu đã chết nên đều không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, HĐXX không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Hai đương sự không có tài sản chung và nợ chung nên đều không yêu cầu Toà án giải quyết. Vì vậy, HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí LHST: Chị S tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 91, 93, 94, 95, 108, 143, 144, 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của BLTTDS năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51 và 56 của Luật HN&GĐ năm 2014;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. 1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn của chị Nguyễn Thị Mai S và anh Phạm Ngọc T.
  2. 2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Mai S tự nguyện chịu toàn bộ án phí sơ thẩm về việc ly hôn là 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng phí, lệ phí Tòa án số: 0002039 ngày 23/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kbang, tỉnh Gia Lai. Chị S được trả lại 150.000 đồng (một trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí Ly hôn sơ thẩm đã nộp.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật, các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu TAND tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Kbang;
  • -Chi cục THADS huyện Kbang;
  • -Các đương sự;
  • -UBND cấp xã nơi ĐKKH;
  • -Lưu HSVA, VPTA.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Phương

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thị Hội Nguyễn Văn Thi

Nguyễn Thị Hồng Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 08/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI về ly hôn giữa chị sương và anh thơ

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn giữa chị Sương và anh Thơ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KBANG, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa chị S và anh T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger