Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày 08-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trần Minh Châu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Hùng Em;

Ông Phan Ngọc Thành.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đặng Hồng Thiên, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Lý Minh V, sinh ngày 01/01/1991; tên gọi khác: Không; nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn N, sinh năm 1967 và bà Lê Minh T, sinh năm 1968; Gia đình có 02 chị em, bị cáo nhỏ nhất; tiền án: Ngày 19/3/2024, Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (chưa chấp hành án); tiền sự: Không; tạm giữ: Ngày 09/4/2024; tạm giam: Ngày 12/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp. có mặt

- Bị hại: Nguyễn Thị P, sinh năm 1971. có mặt

Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

  1. Lý Văn N, sinh năm 1967; vắng mặt
  2. Lê Thị T1, sinh năm 1968. vắng mặt

Cùng địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 08/04/2024, Lý Minh V điều khiển xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, màu sơn xanh-đen, biển số 66K1 - 546.68 đi từ nhà thuộc ấp C, xã T, huyện T đến ấp K, xã P, huyện T. Phát hiện nhà bà Nguyễn Thị P cửa không khóa, V điều khiển xe chạy qua khỏi nhà bà P khoảng 50m, rồi quay đầu xe về hướng xã P, dừng xe quan sát thấy không có ai, đột nhập vào nhà đến cửa buồng nhà, phát hiện trên thùng loa loại kẹo kéo có một chiếc túi vải màu đỏ, dùng tay kéo dây túi ra, thấy bên trong có một cọc tiền, V lấy cất giấu ở thắt lưng quần, nhanh chóng tẩu thoát, điều khiển xe hướng về huyện T.

Khi đến đoạn vắng thuộc địa phận xã T, huyện T, V dừng xe, lấy cọc tiền vừa trộm ra, đếm được 40.070.000 đồng. Tiếp tục, điều khiển xe đến Ngân hàng S1 Chi nhánh huyện T thuộc khóm B, thị trấn S, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, nộp tiền vào số tài khoản 050114860112 tên Lý Minh V, số tiền 30.000.000 đồng, còn 10.000.000 đồng mang về nhà cất giấu. Đến khoảng 09 giờ ngày 09/4/2024, V sử dụng App Emobile Banking của Ngân hàng S1 trên điện thoại di động thực hiện việc chuyển tiền đến số tài khoản 6500205144840 của ông Lý Văn N (cha ruột V) số tiền 10.000.000 đồng. Khoảng 10 giờ cùng ngày, Công an huyện T tiến hành mời Lý Minh V về trụ sở làm việc, tại Cơ quan Công an V thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, giao nộp số tiền 20.000.000 đồng. Đến Ngân hàng S1 Chi nhánh huyện T rút số tiền 20.000.000 đồng, giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T.

Vật chứng thu giữ: 01 áo sơ mi, loại sọc cơ rô, màu đỏ - trắng, đã qua sử dụng; 01 quần sọt, loại quần Jean ngắn, màu xanh - xám, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm, màu sơn xanh, đã qua sử dụng; 01 giấy phép lái xe hạng C, số [...] tên Lý Minh V; Tiền Việt Nam là 40.000.000 đồng; 01 túi vải màu đỏ, trên thân túi có nhiều hoa văn, đã qua sử dụng; 01 Giấy đăng ký xe môtô, xe máy số 000038, tên Lý Minh V, sinh năm 1991, địa chỉ ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, đứng tên chủ sở hữu; 01 xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, số máy G3M5E161323, số khung RLCUG1210NY081358, màu sơn xanh-đen, biển số 66K1 - 546.68, đã qua sử dụng. Đối với điện thoại di động dùng chuyển tiền cho ông Lý Văn N, sau khi chuyển tiền V không nhớ để ở đâu, Cơ quan điều tra không thu được.

Tại bản kết luận giám định số: 548/KL-KTHS ngày 01/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: 92 tờ tiền Việt Nam loại Polime mệnh giá 500.000 đồng (12 tờ); 200.000 đồng (64 tờ), 100.000 đồng (8 tờ), 50.000 đồng (8 tờ) gửi đến giám định ký hiệu từ A1 đến A92 đều là tiền thật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị P đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số: 29/CT-VKS-TN ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Lý Minh V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

3

- Kiểm sát viên phân tích các tình tiết cấu thành tội phạm và khẳng định Cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Lý Minh V, phạm tội “Trộm cắp tài sản” mức án từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.

Căn cứ Điều 56 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt theo Bản án hình sự phúc thẩm số: 61/2024/HS-PT, ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt bị cáo 03 (ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và quyết định thi hành án hình phạt tù số: 19/2024/QĐ-CA ngày 01/4/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp thi hành hình phạt tù 03 (ba) tháng tù, thời tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo V.

Về trách nhiệm dân sự và về vật chứng: Giữ nguyên theo cáo trạng.

- Bị cáo Lý Minh V khai: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản” như nội dung cáo trạng đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo không tham gia tranh luận, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét được giảm nhẹ hình phạt.

- Bị hại Nguyễn Thị P: Thống nhất theo nội dung bản cáo trạng và phát biểu luận tội của Kiểm sát viên. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo V.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ sau: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày; Sơ đồ hiện trường; Bản ảnh hiện trường tại ấp K, xã P, huyện T ngày 11/4/2024 của Công an huyện T; Lời khai của bị hại, người làm chứng cùng toàn bộ chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lý Minh V lợi dụng lúc nhà bà Nguyễn Thị P nhà không khoá cửa nên bị cáo V lén lút đột nhập vào nhà bà P phát hiện tại cửa buồng trên thùng loa loại kẹo kéo có một chiếc túi vải màu đỏ,

4

trong túi có cọc tiền tổng số 40.070.000 đồng, bị cáo V lấy cọc tiền, nhanh chóng tẩu thoát.

Hành vi của của bị cáo V là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo thực hiện trộm cắp tài sản một cách lén lút, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác, gây mất ổn định an ninh trật tự ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173, của Bộ luật Hình sự mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, mức hình phạt theo điều luật quy định là phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3] Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của mỗi người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, bất kỳ ai xâm phạm đến tài sản của người khác trái pháp luật sẽ bị trừng trị. Tình hình tội phạm về trộm cắp tài sản và hậu quả gây mất an ninh trật tự xã hội hiện nay, gây phẫn nộ trong quần chúng nhân dân.

Bản thân bị cáo V là người đã thành niên có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhằm phục vụ cho lợi ích cá nhân mình. Ngoài ra, ngày 19/3/2024 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm với mức hình phạt 03 (ba) tháng tù. Trong thời gian tại ngoại ngày 08/4/2024 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản. Qua đó, thấy được ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tương xứng với nhân thân, tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại xong; bị hại P xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có các bác ruột tên Lý Văn H, Lý Văn SLý Văn H1 được Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng Nhì và Bằng Tổ quốc ghi công nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng: Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo V đang chờ thực hiện quyết định thi hành án phạt tù theo Quyết định số 16/2024/QĐ-CA, ngày 01/4/2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp nhưng tiếp tục tái phạm được quy định tại điểm h, khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[4] Hình phạt bổ sung: Xét thấy, bản thân bị cáo V làm thuê thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Trong quá trình điều tra bị hại Nguyễn Thị P trình bày mất trộm số tiền 40.500.000 đồng, bị cáo V khai nhận trộm số tiền 40.070.000 đồng, bị hại P thống nhất do không nhớ rõ số tiền lẻ, bị hại P đã nhận lại số tiền 40.070.000 đồng, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về vật chứng của vụ án:

5

Đối với 01 áo sơ mi, loại sọc cơ rô, màu đỏ - trắng, đã qua sử dụng; 01 quần sọt, loại quần Jean ngắn, màu xanh - xám, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm, màu sơn xanh, đã qua sử dụng; 01 Giấy phép lái xe hạng C, số G tên Lý Minh V. Xét thấy, vật chứng trên của bị cáo V không dùng vào việc phạm tội nên trao trả lại cho bị cáo là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự (Theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 15/5/2024).

Đối với tiền Việt Nam là 40.000.000 đồng; 01 túi vải màu đỏ, trên thân túi có nhiều hoa văn, đã qua sử dụng. Xét thấy, vật chứng trên của bị hại P nên trao trả lại cho bị hại là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự (Theo biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 11/5/2024).

Đối với 01 xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, số máy G3M5E161323, số khung RLCUG1210NY081358, màu sơn xanh-đen, biển số 66K1 - 546.68, đã qua sử dụng và 01 Giấy đăng ký xe môtô, xe máy số 000038, tên Lý Minh V, sinh năm 1991, địa chỉ ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, đứng tên chủ sở hữu. Xe mô tô do bị cáo V đứng tên chủ xe. Trong quá trình điều tra, bị cáo V và ông Lý Văn N đều khai nhận, bị cáo V đi làm thuê không có phương tiện di chuyển, ông N mua xe cho bị cáo V đứng tên, nhưng quyền định đoạt do ông N quyết định. Xét thấy, ông Lý Văn N giao xe cho bị cáo V quản lý, đứng tên chủ xe, bị cáo V dùng vào việc phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với điện thoại di động dùng chuyển tiền cho ông Lý Văn N, sau khi chuyển tiền bị cáo V không nhớ để ở đâu, Cơ quan điều tra không thu được. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào tìm được sẽ xem xét xử lý theo quy định pháp luật.

[7] Đối với ông Lý Văn N không biết việc bị cáo V chuyển số tiền 10.000.000 đồng do trộm cắp tài sản mà có nhưng sau khi biết sự việc đã giao nộp lại số tiền trên nên không xem xét trách nhiệm.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; khoản 1 Điều 38; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lý Minh V phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lý Minh V 02 (hai) năm tù.

6

Tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 61/2024/HS-PT, ngày 19/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt bị cáo 03 (ba) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản” và quyết định thi hành án hình phạt tù số: 16/2024/QĐ-CA ngày 01/4/2024 của Chánh án Tòa án nhân dân huyện huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp thi hành hình phạt tù 03 (ba) tháng tù, thời tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Tổng hợp hình phạt chung của 02 bản án là: 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 09/4/2024.

2.Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 xe môtô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Exciter, số máy G3M5E161323, số khung RLCUG1210NY081358, màu sơn xanh-đen, biển số 66K1 - 546.68, đã qua sử dụng. Xe mô tô do Lý Minh V đứng tên chủ xe; 01 Giấy đăng ký xe môtô, xe máy số 000038, tên Lý Minh V, sinh năm 1991, địa chỉ ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, đứng tên chủ sở hữu.

(Tất cả vật chứng nêu trên Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Lý Minh V phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Tam Nông;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Tam Nông;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Tam Nông;
  • - Chi cục THADS huyện Tam Nông;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Trần Minh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản bị cáo Lý Minh V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger