|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 08/5/2024
V/v: “Tranh chấp về hôn nhân
và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hương Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Trứ
Ông Nguyễn Xuân Trường
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Kim Chi -Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Duy - Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Hiệp Hoà, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 334/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024 /QĐXX ST- HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trương Thị H, sinh năm 1990 (Văng mặt)
HKTT: Thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Nơi ở hiện nay: Thôn A, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn O, sinh năm 1985 (Có mặt)
Địa chỉ: Thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang.
Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 25/9/2023 bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Trương Thị H trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn O kết hôn năm 2009, có ĐKKH tại UBND xã L, trước khi cưới hai bên có được tìm hiểu và được hai bên gia đình tổ chức theo truyền thống. Sau ngày cưới chị về nhà anh O làm dâu ngay, cuộc sống vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc cho đến tháng 5/2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh O có tình cảm với người phụ nữ khác hai vợ chồng có xảy ra xô xát và tranh cãi nhau. Bên cạnh đó chị cũng xác nhận bản thân chị cũng có quan hệ bất chính với người đàn ông khác và đã bị anh O phát hiện. Chị đã xin lỗi anh O để vợ chồng về đoàn tụ nuôi dạy con cái nhưng do mâu thuẫn không thể hòa giải được anh O vẫn đánh chửi chị. Chị xác định tình cảm vợ chồng chị không thể hàn gắn, không thể chung sống được nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh O.
Về con chung: chị xác định chị và anh O có với nhau hai con chung là: Cháu Nguyễn Mạnh L, sinh ngày 17/11/2010 và Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 20/01/2014. Hiện nay các con đều đang ở với anh O, vợ chồng ly hôn chị có nguyện vọng mỗi người nuôi một cháu trong trường hợp cả hai con có nguyện vọng ở với bố thì chị đồng ý và tự nguyện đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung với anh O mỗi cháu là 1.500.000đồng/1 cháu/1 tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ, nhà ở, quyền sử dụng đất, ruộng đất và các quan hệ khác: Vợ chồng không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn O1 trình bày: Anh xác nhận lời trình bày của chị H về điều kiện kết hôn và tình trạng hôn nhân của anh chị như hiện nay là đúng. Theo anh nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do vào tháng 6/2022 anh đi làm ăn xa chị H có phát sinh tình cảm với người khác và anh đã tha thứ cho chị H. Tuy nhiên, chị H vẫn giấu anh một số việc nên anh có mắng chửi và chị H đã bỏ đi, hiện nay hai vợ chồng đang sống ly thân không ai quan tâm đến ai nữa. Nay chị H làm đơn xin ly hôn anh thì anh cũng nhất trí đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa giải quyết cho anh được ly hôn với chị H.
Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Mạnh L, sinh ngày 17/11/2010 và Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 20/01/2014. Hiện nay các con đều đang ở với anh. Nay vợ chồng ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cả hai con chung và đồng ý với mức cấp dưỡng của chị H cho hai con chung là mỗi cháu 1.500.000đ/1 cháu/1 tháng cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, công nợ, ruộng canh tác: Vợ chồng không có nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Cháu Nguyễn Mạnh H1 trình bày: Cháu là con trai của mẹ H và bố O. Việc mâu thuẫn của bố mẹ và đã tới việc mẹ cháu làm đơn ly hôn thì cháu không biết. Hiện nay cháu đang ở với bố, cháu học lớp 4 trường tiểu học L1, xã L. Nếu bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng ở với bố.
Cháu Nguyễn Mạnh L trình bày: Cháu là con trai của mẹ H và bố O. Cháu có biết việc mẹ cháu làm đơn ly hôn với bố. Cháu xác định đây là việc của bố mẹ nên cháu không có ý kiến gì. Nếu trường hợp bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng ở với bố vì bố chăm sóc, quan tâm anh em cháu. Mẹ cháu đã bỏ nhà đi đã lâu và không quan tâm hay đóng tiền gì cho anh em cháu cả.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến và xác định về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, đối với nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điều 56, Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35 Điều 147, Điều 271, Điều 273; của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị H được ly hôn anh O
Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn O được nuôi dưỡng hai con chung là cháu Nguyễn Mạnh L, sinh ngày 17/11/2010 và Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 20/01/2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi hai con chung cùng anh O là mỗi cháu 1.500.000đ/1 cháu/1 tháng cho đến khi hai con chung 18 tuổi.
Về án phí: Chị H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ án phí cấp dưỡng sơ thẩm.
Đề nghị tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự được biết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và các chứng cứ được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Xét đơn khởi kiện và yêu cầu tại phiên tòa của nguyên đơn là chị Trương Thị H HĐXX xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự anh Nguyễn Văn O có đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại xã L, huyện H, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, do đó Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
[2].Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh O kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, thỏa thuận và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện H được xác định là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống chị H và anh O đều thừa nhận có quan hệ với người khác. Chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn được nên chị đề nghị Tòa án Hiệp Hòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh O. Tại phiên tòa chị H xin vắng mặt và anh O cũng xác nhận việc chị H trình bày là đúng và anh cũng nhất trí đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị H. HĐXX nhận thấy, cả chị H và anh O đều mong muốn chấm dứt quan hệ vợ chồng của anh chị nhưng do chị H vắng mặt tại phiên tòa nên cần xử cho chị H được ly hôn với anh O là có căn cứ.
[3]. Về con chung: Chị H và anh O đều xác nhận vợ chồng có hai con chung là cháu Nguyễn Mạnh L, sinh ngày 17/11/2010 và Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 20/01/2014. Hiện nay các con đều đang ở với anh O và hai cháu đều có nguyện vọng được ở với anh O. Điều này chị H cũng đã trình bày trong quá trình làm việc tại Tòa án nếu hai cháu có nguyện vọng ở với anh O thì chị cũng nhất trí và đây cũng là nguyện vọng của anh O nên cần giao hai con chung cho anh O chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh O có yêu cầu chị H phải đóng góp cho anh số tiền cấp dưỡng là 1.500.000đồng/1 cháu/1 tháng cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi, chị H tại các biên bản làm việc tại Tòa án cũng đã nhất trí với mức cấp dưỡng này nên cần buộc chị H phải cấp dưỡng nuôi con chung cho anh O với số tiền là 1.500.000đồng/ 1 cháu/ 1 tháng là có căn cứ.
[5]. Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức, công nợ, nhà ở, quyền sử dụng đất, ruộng đất và các quan hệ khác: chị H và anh O cùng xác định vợ chồng không có không yêu cầu Tòa án giải quyết cho nên Hội đồng xét xử không xem xét là có căn cứ.
[6]. Về án phí: Chị Trương Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56, Điều 58; Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân gia đình; Điều 28, Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho: Chị Trương Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn O.
Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Văn O được nuôi dưỡng hai con chung là: Cháu Nguyễn Mạnh L, sinh ngày 17/11/2010 và Nguyễn Mạnh H1, sinh ngày 20/01/2014.
Về cấp dưỡng: Chị H phải đóng góp cho anh Nguyễn Văn O số tiền cấp dưỡng là 1.500.000đ/1 cháu/1 tháng cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi,
Chị Trương Thị H được quyền đi lại thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Trương Thị H phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000đ tiền cấp dưỡng sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí số: 0003562 ngày 02/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa. Chị H còn phải nộp 300.000đ án phí sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hương Lan |
Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BAHNGĐ
