|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2023/HS-ST |
|
|
Ngày 06 - 12 - 2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ THANH, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Đình Huy
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Văn Len
- Ông Lê Đình Chiến
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Chiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện như thanh, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Huế - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 25/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Quách Thị L-Sinh ngày sinh ngày 15/02/1981; tại xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 03/12;
Dân tộc: Mường; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Quách Văn N (đã chết) và bà Trịnh Thị H (đã chết);
Có chồng là Cao Văn T và 03 con;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại - Có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H1 - Trợ giúp viên pháp lý chi nhánh S, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T.
Có mặt.
* Bị hại: Ông Trương Xuân H2, sinh năm: 1954
Địa chỉ: khu phố X, thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Vắng mặt.
* Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Trương Xuân H3, sinh năm: 1981
Địa chỉ: Số A tòa V, khu đô thị L, phường H, quận H,TP. Hà Nội
Vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Cao Văn T, sinh năm: 1980
Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Có mặt.
* Người làm chứng:
- Anh Cao Văn N1, sinh năm 2002
Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Vắng mặt.
- Anh Lê Đình K
Địa chỉ: khu phố X, thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào sáng ngày 14/02/2023, Quách Thị L, sinh năm 1981, trú tại thôn Đ, xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa là Công nhân Công ty G điều khiển xe mô tô BKS:36B3-246.08 đèo theo con trai anh Cao Văn N1 đi từ nhà đến nơi làm việc. Khi đi gần đến Cầu X thuộc đoạn đường liên thị trấn, khu phố X, thị trấn B, huyện N, do phía trước đầu cầu bên phải theo chiều di chuyển của L mặt đường có vết lún nên L đã điều khiển xe đi sang phần đường bên trái để tránh chỗ ổ gà. Sau khi tránh được ổ gà, L tiếp tục di chuyển xe ở phần đường bên trái chiều đi của mình. Khi đi đến ngã tư thì xảy ra va chạm với xe mô tô BKS:36B1-1089 do ông Trương Xuân H2, sinh năm 1954, trú tại khu phố X, thị trấn B điều khiển đang đi từ đường nhánh ra. Hậu quả: ông H2 bị thương phải điều trị tại nhiều bệnh viện, hiện vẫn đang hôn mê; chưa hồi phục ý thức.
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn là tại đoạn đường liên thị trấn thuộc khu phố X, thị trấn B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Phía Bắc là hướng đi xã H, huyện N. Phía N2 là hướng đi xã X, huyện N. Phía Đ và phía T1 là các đường nhánh đi vào khu dân cư của khu phố X, thị trấn B. Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn được rải nhựa bằng phẳng, đường hai chiều, có vạch kẻ đường màu vàng, nét đứt; đường hơi cua 20 độ về hướng T ở đầu đường H (hướng đi xã H). Lòng đường rộng 6,86m. Hai bên lề được rải nhựa, lề đường hướng Đông rộng 0,7m; lề đường hướng Tây rộng 1,27m.
Chọn cột điện ký hiệu 2.14 ở hướng Nam hiện trường làm mốc, chọn mép đường bên trái theo chiều đi từ xã X đi xã H làm mép chuẩn, ghi nhận các dấu vết tại hiện trường như sau:
(1) Tại vị trí cách cột điện ký hiệu 2.14 về hướng B 13,6m và cách mép chuẩn 2,3m là vị trí dựng điểm đầu vết cà kích thước (5,15x0,01)m. Điểm cuối vết (1) trùng với vị trí giá để chân trước bên phải của xe mô tô BKS:36B1-1089 trên mặt đường và cách mép chuẩn 0,95m.
(2) Tại vị trí cách điểm đầu vết (1) 4,5m về hướng B và cách mép chuẩn 1,01m là vị trí dựng trục trước xe mô tô BKS:36B1-1089. Xe nằm nghiêng bên phải trên mặt đường, đầu xe hướng Nam, đuôi xe hướng Bắc. Trục sau của xe (2) cách mép chuẩn 1,18 m và cách điểm đầu vết (1) 5,65m.
(3) Tại vị trí cách điểm đầu vết (1) 3,78m về hướng Bắc và cách mép chuẩn 2,19m là vị trí dựng trục trước xe mô tô BKS:36B3-246.08. Xe nằm nghiêng bên phải trên mặt đường, đầu xe hướng Tây, đuôi xe hướng Đông. Trục sau của xe (3) cách mép chuẩn 3,35m.
(4) Tại vị trí cách trục sau xe (2) 1,3m và cách mép chuẩn 0,7m là vị trí dựng tâm tổ hợp vết màu đỏ nghi máu kích thước (1,6x0,6)m.
* Kết quả giám định:
Tại Bản Kết luận giám định số 1174/KL-KTHS ngày 22/3/2023 kết luận:
- Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện: Mặt trước ngoài cánh yếm bên trái xe mô tô BKS:36B1-1089 (ảnh 5,6) với mặt và má trái lốp trước tương ứng hàng số 70/90-17 xe mô tô BKS:36B3-246.08.
- Tại thời điểm xảy ra va chạm hai phương tiện chuyển động ngược chiều.
- Vị trí xảy ra va chạm giữa hai phương tiện nằm trước đầu vết cà (1) thuộc phần đường bên phải hướng xã H đi xã X.
- Không đủ cơ sở xác định tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra va chạm.
Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trích xuất dữ liệu từ camera an ninh trật tự ký hiệu D37 của Công an thị trấn B ghi lại diễn biến vụ tai nạn. Tại bản Kết luận giám định số 2680/KL-KTHS ngày 19/7/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận:
Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong tệp video gửi giám định.
Hình ảnh video thể hiện:
Từ thời điểm 06:37:05 đến thời điểm 06:37:13 ngày 14-02-2023 (theo thời gian hiển thị trên màn hình) xuất hiện 01 (một) xe mô tô di chuyển tại phần đường bên trái hướng quan sát của camera, trên xe có 02 (hai) người. Người điều khiển xe mặt áo màu xanh đen, quần màu đen, đội mũ màu đỏ; người ngồi sau mặc áo màu trắng đen, quần màu xanh, đội mũ màu đen. Không xác định được hai người có đội mũ bảo hiểm hay không.
Không xác định được tốc độ của hai xe mô tô tại thời điểm xảy ra va chạm.
02 (hai) xe mô tô xảy ra va chạm tại vị trí được ký hiệu A.
Kết quả giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với Trương Xuân H2: Sau khi xảy ra tai nạn, ông Trương Xuân H2 bị thương, phải điều trị tại nhiều bệnh viện. Cơ quan CSĐT đã nhiều lần tiến hành xác minh nhưng ông H2 chưa hồi phục ý thức, hôn mê sâu, không đảm bảo cho việc đưa đi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 4563/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của V Bộ C kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông Trương Xuân H2 tại thời điểm giám định tối thiểu là 61%. Do tổn thương cơ thể của ông Trương Xuân H2 điều trị chưa ổn định nên chưa đánh giá đầy đủ các tổn thương và di chứng (nếu có) nên trong Kết luận của V Bộ C đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện N đưa ông H2 đi giám định thương tích bổ sung sau khi ông H2 điều trị ổn định, ra viện.
Tại Kết luận giám định lại lần thứ nhất tổn thương cơ thể trên người sống số 1287/KLTTCT-PYTH ngày 25/8/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trương Xuân H2 tại thời điểm giám định lại (lần thứ nhất) là: 99%.
Kết quả định giá tài sản: Tại Bản kết luận định giá tài sản số 09/HĐ-ĐGTS ngày 28/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản UBND huyện N kết luận:
Tổng giá trị thiệt hại tài sản của xe mô tô BKS:36B1-1089 (do ông H2 điều khiển) là: 910.000 đồng.
Tổng giá trị thiệt hại tài sản của xe mô tô BKS:36B3-246.08 (do Quách Thị L điều khiển) là: 3.135.000 đồng.
Tổng giá trị thiệt hại của tài sản thứ nhất và tài sản thứ hai: 4.045.000 đồng (bốn triệu không trăm bốn lăm nghìn đồng).
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ thu thập được, Công an huyện N, tỉnh Thanh Hóa đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Quách Thị L về hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
* Về vật chứng của vụ án:
+ Đối với chiếc xe mô tô BKS:36B1-1089 của ông Trương Xuân H2: Gia đình ông H2 đề nghị Cơ quan CSĐT tiếp tục tạm giữ, để Tòa án quyết định về việc bồi thường, xử lý xe mô tô. Do đó chiếc xe trên hiện đang bảo quản tại chở Tòa án xử lý.
+ Chiếc xe mô tô BKS:36B3-246.08 do Quách Thị L điều khiển: Quá trình xác minh xác định xe mô tô BKS:36B3-246.08 thuộc quyền sở hữu của anh Cao Văn T (chồng Quách Thị L). Anh thế mua chiếc xe trên từ nguồn tiền mẹ anh (bà Lê Thị T2) tặng cho riêng anh. Ngày 14/02/2023, được sự đồng ý của anh T, Quách Thị L lấy xe đi làm và gây tai nạn. Cơ quan CSĐT đã tiến hành trả lại xe mô tô và đăng ký xe cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Cao Văn T.
- 01 Giấy phép lái xe số AN622282 mang tên Quách Thị L; cấp ngày 31/5/2010, hiện đang được tạm giữ chờ Tòa án xử lý.
- 01 USB chứa dữ liệu điện tử về hình ảnh vụ tai nạn đang được tạm giữ chờ Tòa án xử lý.
* Về trách nhiệm dân sự:
Bị cáo Quách Thị L đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho đại diện gia đình bị hại tổng số tiền 250.000.000 đồng. Gia đình ông H2 không yêu cầu giải quyết phần dân sự. Người đại diện hợp pháp của bị hại đề nghị xem xét tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo.
Đối với phần thiệt hại chiếc xe mô tô BKS:36B3-246.08; chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe là anh Cao Văn T không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 25/CT- VKS-NT ngày 23/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố bị cáo Quách Thị L về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà Kiểm sát viên tham gia phiên toà giữ nguyên quan điểm đã truy tố về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo: Quách Thị L từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét.
Về vật chứng: Đề nghị trả ngay tại phiên tòa cho bị cáo 01 giấy phép lái xe ô tô mang tên Quách Thị L; trả lại cho gia đình ông Trương Xuân H2 chiếc xe mô tô BKS:36B1-1089; lưu kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu điện tử về hình ảnh vụ tai nạn.
Về án phí: Đề nghị miễn án phí HSST cho bị cáo.
Tại phiên toà:
Bị cáo Quách Thị L thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX: cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có nhân thân tốt; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên đề nghị xử mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát và cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự. Bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo; đồng thời miễn án phí cho bị cáo theo quy định tại điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326 /2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Phần tranh luận:
Không ai có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng:
Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo và xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều được coi là đúng pháp luật.
[2] Về sự vắng mặt của người đại dện hợp pháp của bị hại và người làm chứng, HĐXX xét thấy những người vắng mặt đều đã có lời khai trong hồ sơ vụ án. Lời khai của họ phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, HĐXX vẫn tiến hành xét xử theo quy định tại các Điều 292; 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[3] Tại phiên toà bị cáo Quách Thị L đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời trình bày của bị cáo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xác minh tại phiên toà. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định:
Vào sáng ngày 14/02/2023, Quách Thị L (có Giấy phép lái xe mô tô hạng A1), điều khiển xe mô tô BKS:36B3-246.08 tham gia giao thông. Khi đi gần đến Cầu X thuộc đoạn đường L, khu phố X, Thị trấn B, huyện N, L đã điều khiển xe di chuyển xe ở phần đường bên trái chiều đi của mình. Khi đi đến ngã tư giao nhau với đường L thì xảy ra va chạm với xe mô tô BKS:36B1-1089 do ông Trương Xuân H2 điều khiển đang đi từ đường nhánh ra. Hậu quả: ông H2 bị tổn hại 99% cơ thể và thiệt hại tài sản 4.045.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9 của Luật Giao thông Đường bộ. Như vậy nguyên nhân dẫn đến vụ tai nạn giao thông trên là do Quách Thị L có lỗi toàn bộ. Hành vi và hậu quả của Quách Thị L gây ra đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự là hoàn toàn chính xác. Điều 260 BLHS quy định:
“Điều 260 BLHS. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây hiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây,thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) .............;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
"
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo trên là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến sức khỏe và tài sản của người khác. Vì vậy cần xử lý nhanh chóng, kịp thời để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi của bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi gây hậu quả bị cáo đã tự giác bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, thể hiện: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, đây là lần đầu phạm tội; bị cáo luôn chấp hành đầy đủ các quy định, hương ước của thôn, xã. Ngoài ra, bản thân bị cáo là người dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; có nơi cư trú ổn định, rõ ràng.
[7] Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ điều kiện để giáo dục bị cáo mà không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có là lao động chính trong gia đình. Xét thấy nếu áp dụng hình phạt bổ sung “cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định” thì gia đình bị cáo sẽ lâm vào tình trạng khó khăn đặc biệt, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[9] Về phần dân sự: Bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận xong phần bồi thường thiệt hại. Bị cáo và các bên đương sự không yêu cầu giải quyết phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về vật chứng của vụ án:
- - Chiếc xe mô tô BKS:36B3-246.08 do Quách Thị L điều khiển là tài sản riêng của anh Cao Văn T, Cơ quan CSĐT đã trả lại cho anh Thế 1 phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Chiếc xe mô tô BKS:36B1-1089 là tài sản hợp pháp của ông Trương Xuân H2, cần trả lại cho gia đình ông H2 là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Đối với Giấy phép lái xe số AN622282 của Quách Thị L, không mang dấu vết tội phạm, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
- - Đối với 01 USB chứa dữ liệu điện tử về hình ảnh vụ tai nạn, cần lưu kèm theo hồ sơ vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 107 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[12] Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án; Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định tại các Điều 331; 333; 336; 337 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Quách Thị L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Quách Thị L 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Quách Thị L cho UBND xã X, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người đang chấp hành án treo chuyển đi nơi khác thì cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để Công an làm thủ tục cần thiết giao cho cơ quan, tổ chức nơi người đó chuyển đến tiếp tục giám sát, giáo dục và thông báo bằng văn bản cho Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.
Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 107 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên:
- - Trả lại cho ông Trương Xuân H2 chiếc xe mô tô BKS:36B1-1089, nhãn hiệu:YAMAHA; loại xe: Sirius; màu trắng đen; số máy: 5C63263774; số khung: RLCS5C6309Y263766.
- - Trả ngay tại phiên tòa cho Quách Thị L Giấy phép lái xe số AN622282 mang tên Quách Thị L.
- - Lưu kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa dữ liệu điện tử về hình ảnh vụ tai nạn.
Các vật chứng trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Thanh theo biên bản giao nhận vật chứng số 01/2024/TSTV ngày 23/10/2023 giữa Điều tra viên Công an huyện N và Đại diện Chi cục Thi hành án huyện Như Thanh.
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331; 333; 336; 337 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tuyên: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Thanh, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Đình Huy |
Bản án số 27/2023/HS-ST ngày 06/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 27/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Như Thanh, tỉnh Thanh Hóa
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quách Thị L vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, làm chết 1 người
