Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TUYÊN QUANG


Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày 06 - 6 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Hồng Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Lê Tâm và bà Trịnh Thị Kim Thanh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2024/TLST - HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXST - HS ngày 14 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Công Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 13/9/1990 tại tỉnh Tuyên Quang;

Nơi ĐKNKTT: Tổ 3, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang;

Chỗ ở: Tổ 4, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Lê Minh P; Vợ: Nguyễn Thị Thu H (đã ly hôn); Con: Có 01 con.

Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân:

- Ngày 21/11/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 550.000 đồng) tại Bản án số 219/2007/HS-ST;

- Ngày 24/6/2008, bị Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 65.500.000 đồng). Tổng hợp với 06 tháng tù của Bản án số 219/2007/HSST, chấp hành hình phạt chung là 30 tháng tù tại Bản án số 125/2008/HS-ST;

- Ngày 13/8/2008, bị Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (trị giá tài sản 1.500.000 đồng). Tổng hợp

2

hình phạt của Bản án số 125/2008/HS-ST, chấp hành hình phạt chung là 38 tháng tù tại Bản án số 268/2008/HS-ST;

- Ngày 27/3/2012, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang xử phạt 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản và 02 năm 03 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt chung là 04 năm 03 tháng tù (đã áp dụng tình tiết tái phạm) tại Bản án số 27/2012/HS-ST;

- Ngày 23/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn xử phạt 02 năm tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Tổng hợp với Bản án số 27/2012/HSST, buộc chấp hành hình phạt chung là 06 năm 03 tháng tù (đã áp dụng tình tiết tái phạm) tại Bản án số 75/2013/HS-ST. Ngày 20/02/2018, chấp hành xong hình phạt tù và các hình phạt bổ sung.

- Ngày 09/5/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (đã xác định khung tăng nặng là tái phạm nguy hiểm) tại Bản án số 52/2019/HSST. Ngày 30/4/2021, chấp hành xong hình phạt tù và các hình phạt bổ sung của bản án.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/7/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn N (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20/7/1995 tại tỉnh Tuyên Quang;

Nơi cư trú: Tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Lê Minh P; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.

3. Họ và tên: Trần Như Q (tên gọi khác: Không), sinh ngày 20/02/2001 tại tỉnh Tuyên Quang;

Nơi ĐKHKTT: Thôn Q, xã M, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang;

Tạm trú: Tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) lớp 12/12; dân tộc: Cao lan; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; con ông Trần Văn T và bà Nguyễn Thị L1; Chồng, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T, có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Công Đ: Ông Hoàng Minh T1 - Luật sư, Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T;

Địa chỉ: Số nhà B, đường L, tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

3

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N: Bà Trần Thị Kim O - Luật sư, Văn phòng L3 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T;

Địa chỉ: Số nhà E, phố T, tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

* Người bào chữa cho bị cáo Trần Như Q: Ông Nông Văn V - Luật sư, Công ty TNHH MTV Q1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T;

Địa chỉ: Khu dân cư L, tổ A, phường P, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

* Người làm chứng:

- Anh Phạm Hồng H1;

Địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Vắng mặt.

- Chị Lê Thị Bích H2;

Địa chỉ: Tổ I, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Vắng mặt.

- Chị Lê Thị H3;

Địa chỉ: Tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; Vắng mặt.


NỘI DUNG VỤ ÁN:


Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có công việc làm ổn định, từ tháng 6/2023 đến ngày 12/7/2023, Nguyễn Công Đ, là người nghiện chất ma túy tổng hợp và em trai là Nguyễn Văn N đã bàn bạc, thống nhất tìm mua chất ma túy các loại về bán cho những người có nhu cầu sử dụng để kiếm lời. Đ trực tiếp tìm mua ma túy, sau đó chia ra đưa cho N một phần cất giấu để bán, còn Đ cất giấu một phần vừa để bán và sử dụng cho bản thân. Khi có người hỏi mua ma túy, Đ sẽ trao đổi về số lượng ma tuý và giá bán với người mua, rồi chuyển thông tin để N đi giao ma tuý (việc giao dịch mua bán ma túy chủ yếu qua nhắn tin); những người mua ma tuý chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng do Đ cung cấp (thường là tài khoản do Đ mua lại có số 0834505485 mang tên Bàn Quyết T2 mở tại M2), hoặc tài khoản số 0845667895 của N mở tại M2 (khi nhận được tiền bán ma tuý, N chuyển hết cho Đ); hằng tháng Đ trả tiền công bán ma tuý cho N. Ngoài ra, giúp sức cho N thực hiện việc bán ma tuý trái phép còn có Trần Như Q, là người yêu và đang chung sống với N. Cụ thể:

- Khoảng tháng 6/2023, Đ đã liên lạc với một người phụ nữ qua ứng dụng Telegram (không biết tên, địa chỉ ở đâu) và hỏi mua ma túy tổng hợp loại ma tuý “Ke”, ma tuý “Kẹo”; người phụ nữ này đồng ý bán ma tuý và bảo Đ đi đến một địa điểm thuộc địa bàn quận T, thành phố Hà Nội (không xác định được vị trí cụ thể) để giao dịch mua bán. Sau đó, Đ một mình bắt xe khách đi từ nhà đến điểm hẹn (không nhớ ngày) và trao đổi mua của người phụ nữ trên được 50 viên ma túy “Kẹo”, khoảng 10 gam ma túy “Ke” với tổng số tiền là 30.000.000 đồng; Đ mang số ma tuý này về nhà và chia ra làm 02 phần, một phần Đ cất giấu, một phần Đ đưa cho N cất giấu với mục đích để bán kiếm lời. Từ tháng 6/2023 đến ngày 08/7/2023, Đ và N đã bán các loại ma túy trên cho một số người trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang có nhu cầu hỏi mua (Đ và N khai hầu hết không biết, không nhớ người mua ma tuý), trong

4

đó quá trình điều tra chỉ xác định được việc Đ và N đã bán ma túy cho 02 người là Lê Thị Bích H2 sinh năm 1981 (trú tại Tổ I, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang) và Phạm Hồng H1 sinh năm 1984 (đăng ký NKTT tại Tổ I, phường P, thành phố T; nơi ở Tổ A, phường T, thành phố T):

+ Khoảng 21 giờ ngày 30/6/2023, Đ đang ở nhà thì Lê Thị Bích H2 gọi điện từ số 0825.749.557 đến số 0988.797.690 của Đ hỏi mua nửa chỉ ma túy “Ke”; Đ đồng ý bán ma tuý và báo giá cho H2 là 500.000 đồng. Sau đó, Đ nhắn tin qua ứng dụng M bảo N đi giao ma túy cho H2 và gửi số điện thoại của H2, thông báo số lượng ma túy bán cho H2 là nửa chỉ ma tuý “Ke”, N nhắn tin trả lời Đ là “uh”. Khoảng 30 phút sau N lấy số lượng ma túy trên trong số ma tuý mà N đang cất giấu, rồi đem đến khu vực cầu T thuộc Xóm A, xã T, huyện Y và để vào một vị trí (đến nay N không nhớ), rồi N gọi điện thông báo cho H2 đến lấy ma túy; sau khi lấy được số ma tuý này, H2 đã đem về sử dụng hết cho nhu cầu bản thân. Khoảng hai ngày sau, H2 trực tiếp gặp và trả cho Đ 500.000 đồng tiền mua ma túy trên.

+ Khoảng 21 giờ ngày 08/7/2023, Đ đang ở nhà thì Phạm Hồng H1 gọi điện bằng số máy 0345.766.414 đến số máy 0879.947.777 của Đ hỏi mua nửa chỉ ma túy “Ke” và 03 viên ma tuý “Kẹo”, Đ đồng ý bán ma tuý và báo giá cho H1 tổng số tiền là 2.300.000 đồng. Đ bảo H1 phải chuyển trước số tiền này vào tài khoản số 0834505485 mang tên Bàn Quyết T2; H1 đã sử dụng tài khoản số 0345.766.414 của mình mở tại M2 chuyển số tiền trên cho Đ để mua ma túy như thoả thuận. Nhận được tiền, Đ nhắn tin qua ứng dụng M bảo N đi giao ma túy cho H1 (Đ gửi kèm theo số điện thoại của H1 và số lượng ma túy giao cho H1), N trả lời tin nhắn là “Ok”. Khoảng 30 phút sau, N lấy nửa chỉ ma tuý “Ke”, 03 viên ma tuý “Kẹo” trong số ma tuý mà N đang cất giấu mang đến địa điểm thuộc khu vực phường T, thành phố T và để số ma tuý này tại địa điểm trên (hiện N không xác định được vị trí đã để ma tuý), rồi N thông báo cho Đ biết để thông báo cho H1 đến lấy ma túy như thỏa thuận. Sau khi lấy được số ma tuý trên, H1 đã đem về sử dụng hết cho bản thân.

Mặc dù Đ và N đã bán số ma tuý mà Đ mua của người phụ nữ ở quận T, thành phố Hà Nội trong tháng 6/2023 cho nhiều người, nhưng ngoài việc bán ma tuý cho H2 và H1 như nêu trên, Đ và N đều khai không nhớ, không biết những người đã mua ma tuý là ai, ở đâu. Đ khai nhận tổng số tiền bán ma túy được khoảng từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng (không xác định được trong tài khoản giao dịch nào là liên quan đến việc mua bán ma tuý); trong đó Đ đã trả tiền công bán ma tuý cho N khoảng từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, trả tiền thuê nhà cho N khoảng 5.000.000 đồng bằng tiền mặt (N thừa nhận nội dung này là đúng), số tiền còn lại Đ tiếp tục sử dụng mua ma túy để bán kiếm lời và sử dụng cho bản thân. Trong giai đoạn này, Trần Như Q (bạn gái của N) khai biết việc N bán ma túy và đã nhiều lần khuyên ngăn, nhưng N không nghe; sau đó Q có tham gia cùng N đi giao ma túy một số lần, nhưng không phải là giao cho H2 và H1 (cả N và Q đều khai không nhớ giao ma túy thời gian nào, cho ai, ở đâu).

- Khoảng 04 giờ ngày 12/7/2023, Đ điều khiển xe ô tô nhãn hiệu VINFAST, biển số 22A-195.60 mượn của N, chở vợ là Nguyễn Thị Thu H, cùng chị Lê Thị H3 và con chị H3 (cùng trú tại Tổ E, phường T, thành phố T) đi lễ tại tỉnh Thanh Hóa

5

(chiếc xe ô tô này N đang thế chấp vay tiền tại L4 Chi nhánh T3). Đi lễ xong, khoảng 12 giờ cùng ngày Đ điều khiển xe ô tô chở mọi người đi về, khi đi đến thành phố Hà Nội, Đ này sinh ý định tiếp tục mua ma túy về bán kiếm lời và sử dụng cá nhân; Đ sử dụng điện thoại của mình nhãn hiệu Iphone 7S Plus, số máy 0879.947.777 nhắn tin cho người phụ nữ mà lần trước đã bán ma tuý cho Đ ở khu vực quận T để hỏi mua 150 viên ma túy “Kẹo” và 50 gam ma túy “Ke”, người phụ nữ này đồng ý bán số ma tuý trên và báo giá cho Đ số tiền là 56.000.000 đồng. Đ nhắn tin thoả thuận với người phụ nữ sẽ chuyển trả trước 32.000.000 đồng, nợ lại 24.000.000 đồng trả sau; người phụ nữ đồng ý và hẹn gặp Đ ở khu vực nút giao T, thuộc quận T, thành phố Hà Nội để giao ma túy (Đ không nhớ địa chỉ cụ thể). Sau đó, khoảng 15 giờ cùng ngày Đ điều khiển xe ô tô đi đến điểm hẹn, đến nơi Đ đi vào một Quán có dịch vụ chuyển tiền và chuyển số tiền 32.000.000 đồng vào tài khoản do người phụ nữ bán ma tuý cung cấp (Đ chỉ nhớ tài khoản mở tại M2, không nhớ tên người sử dụng và số tài khoản); sau đó người phụ nữ nhắn bảo Đ đi bộ vào một ngõ gần đấy để lấy ma tuý, Đ đi theo chỉ dẫn và lấy được 01 túi nilon màu bạc, hàn kín, hút chân không để ở dưới một gốc cây; Đ cầm túi nilon đi vào khu vực vắng người để kiểm tra thấy bên trong túi có nhiều túi nilon nhỏ chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy “Ke” và nhiều viên ma túy “Kẹo” màu xanh, ngoài ra còn có 01 viên nén màu tím và ½ viên nén màu xanh là ma túy “Kẹo”. Đ lấy 01 viên ma túy màu tím và ½ viên màu xanh cho vào một túi nilon nhỏ màu trắng có đường viền màu đỏ và lấy một túi nilon nhỏ ma túy “Ke” cất vào túi quần đang mặc trên người với mục đích để sử dụng. Số ma túy còn lại, Đức g lại như cũ cầm ra xe ô tô, rồi điều khiển xe đi về (mọi người trên xe đều không biết việc Đ mua bán ma túy, không biết gói nilon Đ vừa để trên xe là gói ma tuý). Do Đ và H có việc riêng, nên khi di chuyển được một lúc thì Đ bảo chị H3 và con chị H3 bắt xe ô tô khách về nhà trước, sau đó Đ lấy chiếc khăn màu vàng thường dùng lau xe ô tô và cuốn kín túi nilon ma túy vừa mua được (mục đích không để chị H3 nhìn thấy bên trong), rồi đưa cho chị H3 và nói “Chị cứ cầm gói này về nhà cho em, tý em bảo thằng N xuống lấy”, chị H3 đồng ý rồi cùng con mình xuống xe để bắt xe ô tô khác đi về Tuyên Quang. Giải quyết công việc xong, Đ và H đi về Tuyên Quang; khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ đang điều khiển xe ô tô đi đến đoạn đường thuộc Tổ A, phường N, thành phố T thì bị Tổ công tác của Cơ quan CSĐT Công an thành phố T kiểm tra, phát hiện Đ tàng trữ trái phép chất ma túy trên người (01 viên nén màu tím; ½ viên nén màu xanh; 01 túi nhỏ chất tinh thể màu trắng); Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đ, đưa Đ cùng tang vật về cơ quan chức năng để làm rõ.

Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, khi chị H3 về đến nhà thì N gọi điện và chị H3 bảo N đến nhà mình lấy gói đồ do Đ gửi (chị H3 không biết đây là gói đồ gì). Một lúc sau, N điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại SH125I, biển số 22B2-836.61 (N mượn chiếc xe này của vợ Đ là Nguyễn Thị Thu H từ trước) chở theo Q đến nhà chị H3 để lấy gói ma túy. Khi đến nhà chị H3, Q đứng ở ngoài đợi, còn N đi vào trong nhà và được chị H3 đưa cho 01 tui nilon màu vàng rồi nói “của Đ đưa”; N cầm lấy túi nilon (không mở ra xem) rồi đi ra cửa đưa cho Q cầm và N điều khiển xe mô tô chở Q đi về Nhà trọ tại Tổ D, phường T, thành phố T (Q khai khi cầm túi nilon N đưa, Q biết bên trong là ma túy, nhưng không biết số lượng bao nhiêu, loại ma tuý

6

gì). Khi về đến Nhà trọ, Q cầm túi nilon chứa ma túy đi lên phòng ngủ trên tầng 2 và để trên mặt bàn máy tính, rồi Q nằm xuống đệm sử dụng điện thoại di động. Một lúc sau N đi lên phòng ngủ, lấy túi ma túy Q để ở trên bàn máy tính, thay túi nilon màu vàng và đựng bên ngoài bằng túi nilon màu trắng có chữ màu xanh, rồi N cất giấu túi ma túy vào khe tủ quần áo.

Khoảng 21 giờ cùng ngày, có một người đàn ông sử dụng số máy 0862.700.707 gọi điện cho N nói nhà ở thị trấn T, huyện H, muốn mua 05 viên ma túy “Kẹo” và 02 chỉ ma túy “Ke”, N đồng ý bán ma túy và thoả thuận giá bán. Sau đó, N lấy túi ma túy cất giấu ở khe tủ trong phòng ngủ và lấy ra số lượng ma túy như đã thỏa thuận mua bán với người đàn ông trên, rồi cất giấu vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, ngoài ra N còn để trên mặt bàn máy tính trong phòng ngủ một ít ma túy “Kẹo”; số ma túy còn lại N tiếp tục cất giấu vào khe tủ như cũ. N cầm bao thuốc lá có chứa ma túy, đi đến gần chỗ Q đang nằm và nói “Đi”, vừa nói N vừa đưa bao thuốc lá cho Q giữ (Q biết là N đi giao ma túy, trong bao thuốc có chứa ma túy, nhưng không rõ số lượng ma tuý là bao nhiêu); Q cầm bao thuốc N đưa, đi ra ngồi lên sau xe mô tô do N điều khiển đi theo hướng lên huyện H. Khi đi đến khu vực K Quốc lộ B (Tuyên Quang - Hà Giang), Q thấy lạnh nên bảo N quay về Nhà trọ để lấy áo khoác mặc, trên đường quay về thì N nhận được thông tin từ người nam giới mua ma tuý là muốn mua thêm 03 viên ma túy “Kẹo”, N thỏa thuận bán số ma tuý trên với số tiền là 7.900.000 đồng (gồm tiền bán ma túy hộ cho Đ là 7.400.000 đồng, tiền công của Nghĩa là 500.000 đồng) và N cung cấp số tài khoản ngân hàng của mình cho người đàn ông này để chuyển; người đàn ông mua ma tuý đã sử dụng tài khoản số 1068.767.18401 mang tên Phương Vũ Quý D mở tại M2 chuyển tiền vào tài khoản số 0845.667.895 của N. Khi N và Q quay về đến Nhà trọ để lấy áo, N báo Q đi lên phòng ngủ tầng 2 lấy áo và lấy thêm 03 viên ma túy “Kẹo” để trên bàn máy tính; Q lấy và cho 03 viên ma tuý “Kẹo” vào trong túi nilon trong vỏ bao thuốc lá, rồi cất giấu vào túi áo khoác mặc trên người, sau đó Q cùng N tiếp tục đi giao ma túy cho người đàn ông ở thị trấn T, huyện H. Hồi 22 giờ 25 phút ngày 12/7/2023, khi N và Q đi đến Km 177+800 Quốc lộ B (Tuyên Quang - Hà Giang), thuộc tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H thì bị Tổ công tác của Cơ quan CSĐT Công an huyện H phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ của N 08 viên ma túy “Kẹo” và số chất tinh thể màu trắng được cất giấu trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long; Tổ công tác đưa N, Q và tang vật về cơ quan chức năng để làm rõ.

Ngày 14/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện H tiến hành khám xét chỗ thuê trọ của N và Q tại số nhà C, Tổ D, phường T, thành phố T, thu giữ tại khe tủ trong phòng ngủ tầng 2: 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa 01 túi ni lon màu trắng, bên trong có 130 viên nén màu xanh; 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 23 túi nilon màu trắng đều có chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, bên trong có 11 túi nilon màu trắng đều có chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, bên có chứa tinh thể màu trắng. 12 túi nilon màu trắng, bên trong đều có chứa tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, bên có chứa tinh thể màu trắng. 01 cân tiểu ly màu xám, bạc (để trên bàn vi tính). Ngày 15/7/2023, Cơ quan điều tra đã ra

7

Lệnh giữ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Như Q về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, để điều tra làm rõ.

* Xét nghiệm tìm chất ma tuý:

- Ngày 12/7/2023, tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Nguyễn Công Đ, kết quả (+) Dương tính, có chất ma túy trong cơ thể (Ngày 25/8/2023, Trưởng Phòng CSĐT tội phạm về ma túy, Công an tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 32/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Công Đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức Cảnh cáo).

- Ngày 13/7/2023, tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Nguyễn Văn N, Trần Như Q, kết quả đều (-) Âm tính, không có chất ma túy trong cơ thể.

* Kết luận giám định:

- Tại Kết luận giám định số 965/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của Phòng K, Công an tỉnh T, kết luận: Chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Công Đ gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 1,368 gam; 01 viên nén màu tím thu giữ của Nguyễn Công Đ gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine và loại MDMA, khối lượng 0,307 gam; 01 nửa viên nén màu xanh thu giữ của Nguyễn Công Đ gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine và loại MDMA, khối lượng 0,133 gam.

- Tại Kết luận giám định số 966/KL-KTHS ngày 17/7/2023 của Phòng K, Công an tỉnh T, kết luận: 08 viên nén màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn N gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine và loại MDMA, khối lượng 2,752 gam; chất tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn N gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 2,271 gam.

- Tại Kết luận giám định số 970/KL-KTHS ngày 18/7/2023 của Phòng K, Công an tỉnh T, kết luận: Tang vật phát hiện thu giữ khi khám xét chỗ ở của Trần Như Q ngày 14/7/2023, gồm:

+ 130 viên nén màu xanh lá cây gửi giám định tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine và loại MDMA, khối lượng 44,491 gam.

+ Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon kích thước (8,5x13,2)cm gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 26,450 gam.

+ Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon kích thước (8,5x12,6)cm gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 12,652 gam.

+ Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon kích thước (4x5,8)cm gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 4,330 gam.

+ Chất tinh thể màu trắng trong 12 túi nilon màu trắng, trên mép có viền màu xanh gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 6,929 gam.

+ Chất tinh thể màu trắng trong túi nilon kích thước (2,5x2,8)cm gửi giám định là chất ma túy, loại Ketamine, khối lượng 1,140 gam.

Bản Cáo trạng số 23/CT-VKS-P1 ngày 03 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Nguyễn Công Đ về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội

8

Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Truy tố bị cáo Nguyễn Văn N, Trần Như Q về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần tranh luận, Kiểm sát viên trình bày luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công Đ phạm hai tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Văn NTrần Như Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

- Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 (đối với tội Mua bán trái phép chất ma tuý) và Điều 55 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Công Đ từ 17 năm đến 18 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy; từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội, buộc bị cáo phải chịu hình phạt từ 18 năm 06 tháng đến 20 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 12/7/2023.

- Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52 (đối với bị cáo Nguyễn Văn N); điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 16 năm đến 17 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 13/7/2023.

Xử phạt bị cáo Trần Như Q từ 15 năm đến 16 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam 15/7/2023.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đề nghị tịch thu tiêu hủy các chất ma túy, công cụ phạm tội đã thu giữ được niêm phong theo quy định; đề nghị tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước điện thoại của các bị cáo do đã dùng vào việc phạm tội;

- Tịch thu của bị cáo Nguyễn Công Đ số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi năm triệu đồng) tiền thu lời bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu của bị cáo Nguyễn Văn N số tiền 32.900.000 đồng (Ba mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng) tiền thu lời bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước. Tiếp tục phong tỏa số tiền 9.070.466 đồng (Chín triệu không trăm bảy mươi nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng) trong tài khoản số 0845667895 mang tên Nguyễn Văn N mở tại Ngân hàng M3 Chi nhánh T3 theo Lệnh phong toả số 05/LPT-CSMT ngày 24/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định án phí, xử lý vật chứng và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Công ĐTrần Như Q trình bày luận cứ: Nhất trí về tội danh, điều luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Kiểm sát viên đã đề nghị áp dụng cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo

9

mức án thấp hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn N: Nhất trí về tội danh, điều luật và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Kiểm sát viên đã đề nghị áp dụng cho bị cáo.

Các bị cáo nhất trí với bài bào chữa của luật sư, không bổ sung thêm ý kiến gì khác. Kết thúc phần tranh luận, các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:


Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản khám xét khẩn cấp; biên bản xác định hiện trường, vật chứng thu giữ; kết luận giám định chất ma túy và sao kê giao dịch cuộc gọi cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

- Từ tháng 6/2023 đến ngày 08/7/2023, Nguyễn Công Đ sinh năm 1990 (Đăng ký HKTT tại Tổ C; chỗ ở Tổ D, phường M, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang) và em trai là Nguyễn Văn N sinh năm 1995 (trú tại Tổ E, phường T, thành phố T) đã có hành vi bán trái phép các chất ma túy, loại Ketamine, M1, MDMA cho nhiều người nghiện trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, nhưng quá trình điều tra chỉ xác định được 02 người mua ma tuý là Lê Thị Bích H2 (trú tại Tổ I, phường M, thành phố T) và Phạm Hồng H1 (Đăng ký HKTT tại Tổ I, phường P; nơi ở Tổ A, phường T, thành phố T), còn lại phần lớn không xác định được những người đã mua ma tuý là ai (N đồng phạm với vai trò giúp sức bán ma túy cho Đ để hưởng tiền công). Số tiền Đ thu được từ việc bán ma túy trái phép từ 70.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng, trong đó Đ trả công cho N từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng, cụ thể:

+ Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 30/6/2023, tại khu vực cầu T thuộc Xóm A, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang, Đ và N đã có hành vi bán trái phép nửa chỉ ma túy “Ke”, loại Ketamine, với giá 500.000 đồng cho Lê Thị Bích H2. Sau đó, H2 đã sử dụng hết số ma túy này cho bản thân.

+ Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 08/7/2023, tại khu vực phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Đ và N đã có hành vi bán trái phép 03 viên ma túy “Kẹo”, loại MDMA và nửa chỉ ma túy “Ke”, loại Ketamine, với giá 2.300.000 đồng cho Phạm Hồng H1. Sau đó, H1 đã sử dụng hết số ma túy này cho bản thân.

- Khoảng 21 giờ ngày 12/7/2023, NTrần Như Q sinh năm 2001 (Đăng ký HKTT tại Thôn Q, xã M, huyện Y; tạm trú và chỗ ở Tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang) đã có hành vi bán 08 viên ma túy “Kẹo”, loại MDMA + Methamphetamine, khối lượng là 2,752 gam và 2,271 gam ma tuý “Ke”, loại Ketamnie cho một người đàn ông ở thị trấn T, huyện H, tỉnh Tuyên Quang, với giá 7.900.000 đồng (Không xác định được người mua ma tuý là ai). Khoảng 22 giờ 25

10

phút cùng ngày, khi N và Q trên đường đem số ma túy trên giao cho người đàn ông này (đoạn Km 177+800 Quốc lộ B, thuộc Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện H) thì bị phát hiện, thu giữ (nguồn gốc số ma túy trên là của Nguyễn Công Đ mua tại thành phố Hà Nội ngày 12/7/2023 của một người phụ nữ không quen biết, gửi về cho N để bán kiếm lời).

Hồi 15 giờ 50 phút ngày 14/7/2023, tại số nhà C, Tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Công Đ, Nguyễn Văn N, Trần Như Q đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy gồm: 44,491 gam ma túy, loại MDMA và Methamphetamine; 47,171 gam ma túy, loại Ketamine; 4,330 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để bán kiếm lời, nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện thu giữ (Q đồng phạm giúp sức cho N, thấy N bán ma túy nhiều lần, biết là ma túy nhưng vẫn giúp cầm hộ số lượng ma túy trên về cho N để N bán kiếm lời và ngày 12/7/2023 đã cùng N đi bán ma túy). Nguồn gốc số ma túy trên là do Nguyễn Công Đ mua tại thành phố Hà Nội ngày 12/7/2023 của một người phụ nữ không quen biết, với giá 56.000.000 đồng, mục đích đem về cho N cất giấu, bán kiếm lời. Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, chất ma túy loại MDMA và Methamphetamine khi bắt quả tang và khi khám xét nơi ở trọ của Q và N có khối lượng là 51,573 gam = 51,573%; khối lượng ma túy loại Ketamine là 49,442 gam = 16,48%. Tổng 02 chất ma túy là 101,015 gam = 68,053% (dưới 100%), thuộc trường hợp truy tố theo điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Hồi 18 giờ 30 phút ngày 12/7/2023, tại Tổ A, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Công Đ đã có hành vi tàng trữ 1,368 gam ma túy loại Ketamine và 0,440 gam ma túy loại MDMA và Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, khối lượng ma túy loại Ketamine là 1,368 gam = 1,368%; khối lượng MDMA và Methamphetamine là 0,440 gam = 0,440%. Tổng 02 chất ma túy là 1,808 gam = 1,808% (dưới 100%), thuộc trường hợp truy tố theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo Nguyễn Công Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; truy tố bị cáo Nguyễn Văn NTrần Như Q về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Bản thân các bị cáo nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi mua bán và tàng trữ trái phép ma túy của mình nhưng vẫn cố ý phạm tội. Bị cáo Nguyễn Công Đ là người nghiện ma tuý, đã nhiều lần bị Toà án xét xử về nhiều loại tội phạm nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội mà còn tiếp tục có hành vi mua bán, tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng.

Hành vi của các bị cáo là nguyên nhân chủ yếu làm phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội và lây nhiễm HIV/AIDS. Hậu quả, tác hại do tệ nạn ma tuý gây ra không

11

những ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, sức khỏe của bản thân gia đình các bị cáo mà còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn của xã hội; làm huỷ hoại sức khoẻ dẫn đến mất khả năng lao động, suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình. Hành vi đó đi ngược lại với chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, làm mất an ninh chính trị tại địa phương. Vì vậy, cần áp dụng một mức hình phạt tù thật nghiêm khắc, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm trừng trị, cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời để phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[2] Đánh giá tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giản đơn nên không được coi là phạm tội có tổ chức. Vai trò của các bị cáo thể hiện như sau:

Bị cáo Nguyễn Công Đ là người trực tiếp đi mua ma túy, trực tiếp chia nhỏ ma túy và đưa cho N, là em trai ruột một phần để bán, còn lại Đ sẽ cất giấu mục đích để bán và sử dụng cho bản thân. Khi có thông tin người mua thì N sẽ mang đi bán, và hàng tháng Đ đều trả tiền công cho N. Do đó, xác định bị cáo Nguyễn Công Đ có vai trò cao nhất trong vụ án.

Bị cáo Nguyễn Văn N, là em trai của Đ, biết Đ là người nghiện ma túy nhưng không khuyên can mà trực tiếp đi bán ma túy cho Đ để lấy tiền công, do đó xác định bị cáo có vai trò thứ 2 trong vụ án.

Bị cáo Trần Như Q là bạn gái của N, biết việc N đi bán ma túy hộ Đ để lấy tiền công nhưng vẫn thực hiện cùng N. Bị cáo tham gia bán ma túy cùng N 01 lần và giúp N cầm 101,015 gam ma tuý về nhà trọ tại tổ D, phường T để N cất giấu ma tuý, bị cáo không được hưởng lợi gì từ việc bán ma túy nên xác định bị cáo có vai trò thấp nhất trong vụ án.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Nguyễn Công ĐNguyễn Văn N có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên. Bị cáo Trần Như Q không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho các bị cáo.

[4] Đối với luận cứ bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo, trên cơ sở nội dung tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử sẽ xem xét quyết định hình phạt cho phù hợp với tính chất phạm tội của các bị cáo. Về mức án Viện kiểm sát đề nghị, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có tài sản, không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt là phạt tiền đối với cả hai bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

- Đối với chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo Nguyễn Văn NNguyễn Công Đ. Xét thấy liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước.

12

- Đối với chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo Trần Như Q, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

- Đối với số vật chứng là các chất ma túy, cân tiểu ly đã thu giữ của các bị cáo cần tịch thu tiêu huỷ.

- Đối với số tiền 80.000.000 đồng mà bị cáo Nguyễn Công Đ khai do bán ma tuý mà có, trong đó Đ đã trả công cho bị cáo Nguyễn Văn N 25.000.000 đồng, còn 55.000.000 đồng hưởng lợi cho bản thân. Xét đây là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu của hai bị cáo để sung quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 9.070.466 đồng (Chín triệu không trăm bảy mươi nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng) trong tài khoản số 0845667895 mang tên Nguyễn Văn N mở tại M3 Chi nhánh T3, trong đó có 7.900.000 đồng là tiền mà bị cáo Nguyễn Văn N đã bán ma tuý vào ngày 12/7/2023 cần tịch thu sung quỹ Nhà nước, số tiền còn lại trong tài khoản cần trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

[7] Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Công Đ ở khu vực quận T, thành phố Hà Nội: Đ khai không quen biết, không có số điện thoại, không biết địa chỉ của người phụ nữ này. Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp điều tra nhưng không xác định được lai lịch, thông tin về người phụ nữ trên nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

- Đối với người đàn ông sử dụng số điện thoại 0862.700.xxx liên lạc mua ma túy của bị cáo Nguyễn Văn N ngày 12/7/2023: N khai không quen biết, không biết tên, không biết địa chỉ cụ thể của người này. Quá trình điều tra xác định thông tin đăng ký số thuê bao trên là Phương Vũ Quý D (trú tại Tổ A, phường T, thành phố T), nhưng D không thừa nhận có đăng ký và sử dụng số thuê bao này; D khai có một lần sử dụng tài khoản ngân hàng của mình chuyển hộ số tiền 7.900.000 đồng cho một người đàn ông ở huyện H, để D nhận lại tiền mặt (không nhớ số tài khoản, tên người nhận tiền, không biết người này chuyển tiền với mục đích gì), nên không đủ căn cứ xem xét xử lý đối với D.

- Đối với việc chị Lê Thị H3 đi cùng xe với bị cáo Nguyễn Công Đ và được Đ nhờ cầm chiếc túi nilon có chứa ma túy từ thành phố Hà Nội về thành phố T giao cho bị cáo Nguyễn Văn N: Mẹ con chị H3 chỉ đi lễ cùng với vợ chồng Đ ngày 12/7/2023, không biết việc Đ mua bán ma túy tại thành phố Hà Nội, không biết chiếc túi nilon Đ nhờ cầm về cho N bên trong có chứa ma túy (Đ và N không trao đổi gì liên quan đến ma túy với chị H3), nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm đối với chị H3.

- Đối với chị Nguyễn Thị Thu H (vợ của Đ): Quá trình chung sống với Đ, H không tham gia bàn bạc, không biết việc Đ có hoạt động mua bán trái phép chất ma túy; ngày 12/7/2023, đi cùng xe với Đ nhưng chị H không biết việc Đ mua ma túy tại thành phố Hà Nội. Việc cho N mượn xe mô tô, chị H không biết N sử dụng để đi bán ma túy trái phép, do đó không có căn cứ xem xét trách nhiệm đối với chị H.

- Đối với việc bị cáo Nguyễn Văn N cho Đ mượn xe ô tô: Khi cho Đ mượn xe ô tô, N chỉ biết Đ mượn xe để sử dụng đi lễ ở tỉnh Thanh Hóa, không biết việc Đ sử

13

dụng xe ô tô mượn của N để đi mua ma túy ở thành phố Hà Nội và tàng trữ trái phép chất ma túy, nên không xem xét xử lý đối với N về việc cho Đ mượn xe ô tô.

- Đối với Bàn Quyết T2 sinh năm 1973 (trú tại xã C, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang) là người cho bị cáo Đ sử dụng thông tin cá nhân đăng ký, sử dụng tài khoản số 0834505485 mở tại M2: Quá trình điều tra, đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi cư trú, nhưng T2 không có mặt tại địa phương, nên không đủ căn cứ để điều tra, xác minh và xem xét trách nhiệm.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Thị Bích H2Phạm Hồng H1: Trong các ngày 06 và 17/9/2023, Trưởng phòng CSĐT tội phạm về ma túy Công an tỉnh T đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 43, số D xử phạt vi phạm hành chính đối với H2, H1 bằng hình thức Cảnh cáo.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:


- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Công Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Trần Như Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

1. Về hình phạt:

1.1. Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm i khoản 1 Điều 249; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 (đối với tội Mua bán trái phép chất ma tuý) và Điều 55 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Công Đ 18 (Mười tám) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 02 (Hai) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành chung hình phạt là 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 12/7/2023.

1.2. Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 13/7/2023.

14

1.3. Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Như Q 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam 15/7/2023.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) Bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước bì ghi dòng chữ “CÔNG AN TỈNH TUYÊN QUANG - PHÒNG K - ĐỘI GIÁM ĐỊNH. Tang vật vụ: Nguyễn Văn N giám định ngày 13/7/2023”, mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của các thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng K - Công an tỉnh T; 01 (Một) Bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước bì ghi dòng chữ “CÔNG AN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG; Cân tiểu ly thu giữ khi khám xét chỗ ở của Trần Như Q ngày 14/7/2023”. Mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Trần Như Q và 05 hình dấu của Công an phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; 01 (Một) Bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước bì ghi dòng chữ “CÔNG AN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG; 02 (hai) thẻ nhớ lưu dữ liệu camera của số nhà C, tổ D, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang”. Mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của Trần Như Q và 05 hình dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang; 01 (Một) túi niêm phong còn nguyên vẹn, được dán kín, mã số PS1 2006068. Mặt trước bì ghi dòng chữ: “Tên vụ: TRẦN NHƯ QUỲNH. Giám định ngày 14/7/2023”. Mặt trước túi có chữ ký xác nhận của các thành phần tham gia niêm phong. Mép trên của túi được dán kín bằng băng dính nilon màu đỏ, có 02 hình dấu của Phòng K, Công an tỉnh T. Dưới đáy túi được dán kín các mép và có 03 hình dấu của Phòng K, Công an tỉnh T và 01 bì giấy niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước ghi: "Tang vật vụ Nguyễn Công Đ, giám định ngày 12/7/2023" mặt sau tại mép dán của phong bì niêm phong có chữ của đương sự Nguyễn Công Đ cùng thành phần tham gia giám định và 05 hình dấu của Phòng K Công an tỉnh T.

- Tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus, loại màn hình cảm ứng, mặt lưng màu vàng, IMEL: 35 5732075610260, bên trong lắp 01 sim Viettel trên sim có dãy số 8984 04800 03804 điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng điện thoại; 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7S Plus, loại màn hình cảm ứng, mặt lưng màu vàng hồng, IMEL: 35 656808 551065 5, bên trong lắp 01 sim Itel trên sim có dãy số 8984 08100 08729826665 điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng điện thoại (Điện thoại di động của Nguyễn Công Đ) và 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu APPLE, loại máy IPHONE 11, điện thoại màu tím, số IMEI 352682652083329, trong điện thoại có gắn 01 (một) sim, trên bề mặt sim ghi số: 8984048000912711443, điện thoại cũ đã qua sử dụng (Điện thoại di động của Nguyễn Văn N).

- Trả lại cho bị cáo Trần Như Q 01 (Một) điện thoại nhãn hiệu APPLE, loại máy IPHONE 14 PROMAX, điện thoại màu đen, số IMEI 350636270127373, trong điện thoại có gắn 01 (một) sim, trên bề mặt sim ghi số: 89840200011102048053,

15

mặt sau phía dưới camera bị nứt vỡ, điện thoại cũ đã qua sử dụng nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tuyên Quang lập ngày 17/5/2024).

- Tịch thu của bị cáo Nguyễn Công Đ số tiền 55.000.000 đồng (Năm mươi năm triệu đồng) tiền thu lời bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Tịch thu của bị cáo Nguyễn Văn N số tiền 32.900.000 đồng (Ba mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng) tiền thu lời bất chính để sung vào ngân sách Nhà nước. Tiếp tục phong tỏa số tiền 9.070.466 đồng (Chín triệu không trăm bảy mươi nghìn bốn trăm sáu mươi sáu đồng) trong tài khoản số 0845667895 mang tên Nguyễn Văn N mở tại Ngân hàng M3 Chi nhánh T3 theo Lệnh phong toả số 05/LPT-CSMT ngày 24/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Công Đ, Nguyễn Văn NTrần Như Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/6/2024)./.


THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Hoàng Lê Tâm – Trịnh Thị Kim Thanh Ma Hồng Thắng

16

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Cục THADS tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an tỉnh (CQCSĐT + Phòng hồ sơ);
  • - Trại tạm giam Công tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - Các bị cáo;
  • - Văn phòng TAND tỉnh;
  • - Lưu HS + Toà án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Ma Hồng Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Công Đ + đp phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger