|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 27/2024/HNGĐ-ST Ngày: 05 - 6 - 2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Minh Châu;
- Ông Phạm Thiện Bửu;
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 05 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 50/2024/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê Thị L, sinh năm 1993 (Vắng mặt có đơn);
Địa chỉ cư trú: Tổ F, khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
- Bị đơn: Nguyễn Văn T, sinh năm 1988 (Vắng mặt có đơn);
Địa chỉ cư trú: Khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 02 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lê Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Sau một thời gian tìm hiểu, chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T được hai bên gia đình tiến hành tổ chức cưới vào năm 2017, mà chưa đăng ký kết hôn, cho đến nay cũng không làm thủ tục đăng ký kết hôn. Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T chung sống rất hạnh phúc nhưng thời gian sau, giữa chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn vì anh Nguyễn Văn T không lo làm ăn mà bê tha, chỉ lo ăn nhậu, không chăm lo cho gia đình, chị đã khuyên can, hàn gắn nhiều lần nhưng không được, nên chị và anh Nguyễn Văn T đã sống ly thân với nhau khoảng 03 năm nay. Nhận thấy không thể duy trì quan hệ hôn nhân được nữa, mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được, nên chị xin ly hôn với anh Nguyễn Văn T.
Về con chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T tự nguyện thỏa thuận: Chị Lê Thị L được nuôi dưỡng 02 người con chung tên Lê Thị Kim T1, sinh ngày 20/7/2018 và Lê Thị Khả H, sinh ngày 12/11/2019 (các con đang sống cùng chị Lê Thị L); về cấp dưỡng: Chị Lê Thị L không yêu cầu anh Nguyễn Văn T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con; chị Lê Thị L cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Nguyễn Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai đề ngày 16 tháng 4 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Văn T trình bày:
Về hôn nhân:Thống nhất với tất cả lời trình bày và yêu cầu của chị Lê Thị L. Năm 2017, anh đám cưới với chị Lê Thị L; anh và chị Lê Thị L không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, anh và chị Lê Thị L chung sống hạnh phúc, sau này bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hàn gắn được, mỗi người có suy nghĩ, lối sống khác nhau nên không hòa hợp, thường xuyên tranh cãi, nên tình cảm dần không còn, anh và chị Lê Thị L có hàn gắn, nhưng không được nên đã sống ly thân với nhau. Nay nhận thấy không thể duy trì quan hệ hôn nhân được nữa, tuy có hàn gắn nhưng không được, mâu thuẫn trầm trọng nên anh thống nhất ly hôn với chị Lê Thị L.
Về con chung: Anh Nguyễn Văn T và chị Lê Thị L tự nguyện thỏa thuận: Chị Lê Thị L được nuôi dưỡng 02 người con chung tên Lê Thị Kim T1, sinh ngày 20/7/2018 và Lê Thị Khả H, sinh ngày 12/11/2019 (các con đang sống cùng chị Lê Thị L); về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Văn T không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con; chị Lê Thị L cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Nguyễn Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T khẳng định không yêu cầu, cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm, yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn là chị Lê Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với bị đơn là anh Nguyễn Văn T. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là ly hôn, tranh chấp về nuôi con được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là anh Nguyễn Văn T có địa chỉ cư trú tại khóm C, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về sự vắng mặt của đương sự: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
[4] Về hôn nhân: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng được quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[5] Tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Quyền, nghĩa vụ đối với con, tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên được giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này”.
[6] Đối chiếu với quy định trên, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị L với anh Nguyễn Văn T.
[7] Về nuôi con chung: Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T tự nguyện thỏa thuận: Chị Lê Thị L được nuôi dưỡng 02 người con chung tên Lê Thị Kim T1, sinh ngày 20/7/2018 và Lê Thị Khả H, sinh ngày 12/11/2019 (Hiện các con đang sống cùng chị Lê Thị L).
[8] Về cấp dưỡng: Chị Lê Thị L không yêu cầu anh Nguyễn Văn T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, nên không xem xét, giải quyết.
[9] Chị Lê Thị L cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Nguyễn Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.
[10] Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét, giải quyết.
[11] Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét, giải quyết.
[12] Về án phí: Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Vậy, chị Lê Thị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng; anh Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14, khoản 1 Điều 51, Điều 53, Điều 81, Điều 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Lê Thị L với anh Nguyễn Văn T.
Về nuôi con chung: Chị Lê Thị L được tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung tên Lê Thị Kim T1, sinh ngày 20/7/2018 và Lê Thị Khả H, sinh ngày 12/11/2019 (Cháu Lê Thị Kim T1 và cháu Lê Thị Khả H đang sống chung với chị Lê Thị L).
Về cấp dưỡng: Chị Lê Thị L không yêu cầu anh Nguyễn Văn T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Chị Lê Thị L cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh Nguyễn Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Chị Lê Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số: 0005055 ngày 03 tháng 4 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp; chị Lê Thị L đã nộp đủ án phí.
Anh Nguyễn Văn T không phải chịu án phí.
Chị Lê Thị L và anh Nguyễn Văn T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Trung |
Bản án số 27/2024/HNGĐ-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 27/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒNG NGỰ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa Lê Thị L với Nguyễn Văn T
