|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH TUYÊN QUANG Bản án số: 27/2024/HS-ST Ngày: 04 - 6 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Quang Luân
2. Ông Tống Xuân Quyết
- Thư ký phiên toà: Bà Vi Thị Luyến – Thư ký viên Toà án nhân dân huyện H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Phạm Trung Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm số hóa công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 23/2024/TLST-HS, ngày 08 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS, ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị G, sinh ngày 28/3/1988 tại huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi thường trú: Thôn E, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Nơi tạm trú: Thôn B, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Kinh doanh dịch vụ lưu trú; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1959 và bà: Nguyễn Thị K, sinh năm 1960; có chồng: Tạ Xuân H1, sinh năm 1992 và 02 con, lớn sinh năm 2008, nhỏ sinh năm 2019.
Tiền án: Không.
Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 164/QĐ-XPHC ngày 22/6/2023 của Công an huyện H xử phạt 6.250.000đ về hành vi sử dụng nhà ở do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc (chưa chấp hành nộp phạt).
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến ngày 07/02/2024. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Vũ Thị N, sinh năm 1983;
Địa chỉ: Thôn L, xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái.
+ Chị Si Thị D, sinh năm: 1979;
Địa chỉ: Tổ I, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.
+ Anh Đỗ Xuân H2, sinh năm: 1993;
Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
+ Anh Trần Văn N1, sinh năm: 1994;
Địa chỉ: Thôn M, xã M, huyện H, tỉnh Tuyên Quang.
(Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 4/2023, Nguyễn Thị G thuê nhà của bà Nguyễn Thị H3; sinh năm 1966, trú tại thôn B, xã Y, huyện H để kinh doanh lưu trú và lấy tên là Nhà nghỉ H5. Để phục vụ công việc kinh doanh và giúp việc nhà, G thuê Vũ Thị N, sinh năm 1983, trú tại thôn L, xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái làm nhân viên và trả lương theo tháng. Ngày 15/01/2024, Si Thị D, sinh năm 1979, trú tại tổ I, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang đến thuê phòng tại Nhà nghỉ H5. Do muốn có thu nhập nên N và D đề nghị G cho bán dâm tại Nhà nghỉ H5. G đồng ý và thỏa thuận với N, D nếu khách mua dâm qua đêm thì phải trả cho G số tiền 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng), nếu khách mua dâm không qua đêm thì trả cho G 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng). Tuy nhiên, trước ngày 17/01/2024, N và D chưa bán dâm lần nào tại Nhà nghỉ H5.
Khoảng 22 giờ ngày 17/01/2024, Đỗ Xuân H2, sinh năm 1993, trú tại thôn M và Trần Văn N1, sinh năm 1994, trú tại thôn M, cùng xã M, huyện H rủ nhau đến Nhà nghỉ H5 để mua dâm. Khi đến Nhà nghỉ H5, N1 hỏi G “Có nhân viên không?” (ý hỏi có gái bán dâm không), G trả lời “Còn 2 nhân viên đấy, để hỏi xem nhân viên có đi khách không”. N1 hỏi “Giá qua đêm như nào?”, G trả lời “Cái đấy giá cả tự bàn với nhân viên”. Sau đó G nhờ ông Hà Văn H4, sinh năm 1971, trú tại thôn H, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa đưa N1 và H2 lên phòng 204 và 205 của nhà nghỉ (ông H4 là nhân viên lễ tân đã nghỉ việc của nhà nghỉ H5, thời điểm này đến lấy thẻ Căn cước công dân để quên, không biết H2 và N1 đến mua dâm). Lúc này, Vũ Thị N và Si Thị D cũng nghe thấy Trần Văn N1 trao đổi với G nên Vũ Thị N đi vào phòng 204, D đi vào phòng 205. Tại phòng 204, H2 thỏa thuận với Vũ Thị N mua dâm qua đêm với giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), H2 trả tiền mặt cho Vũ Thị N. Tại phòng 205, Trần Văn N1 thỏa thuận với D mua dâm qua đêm với giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), Trần Văn N1 chuyển tiền từ tài khoản 8103205247750 mang tên Trần Văn N1 mở tại Ngân hàng N3 (A) đến tài khoản số [...] mang tên Si Thị D, mở tại Ngân hàng TMCP C (V).
Hồi 22 giờ 20 phút ngày 17/01/2024, khi H2 và Vũ Thị N đang chuẩn bị quan hệ tình dục, Trần Văn N1 và D đang quan hệ tình dục thì bị tổ công tác Công an huyện H kiểm tra, phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị G về hành vi Chứa mại dâm.
Tại bản cáo trạng số 25/CT-VKSHY, ngày 07/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị G về tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị G theo tội danh, điều luật đã nêu trong bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội “Chứa mại dâm”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án và được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến ngày 07/02/2024.
- - Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao cao su đã qua sử dụng, được xé rách làm 02 phần, trên vỏ bao cao su in hình hoa lá màu xanh, tím và cam; 01 bao cao su đã qua sử dụng, màu trắng đục; 03 bao cao su chưa qua sử dụng, có đặc điểm giống nhau, một mặt có dòng chữ “HA ULTRA THIN” và in hoa lá màu xanh, tím và cam; 01 bao cao su VIP Condom, chưa qua sử dụng, vỏ bao màu trắng vàng.
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 3.000.000đ (Ba triệu đồng) là tiền thu lời bất chính của Vũ Thị N và Si Thị D.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Thị G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, đồng thời tuyên quyền kháng cáo của bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị G tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố đối với bị cáo. Trình bày lời nói sau cùng, bị cáo biết mình đã sai, vi phạm pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm được trở về chăm sóc con cái, chăm lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị G đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ngoài lời khai nhận tội của bị
cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ; Lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở để kết luận:
Hồi 22 giờ 20 phút ngày 17/01/2024, tại phòng 204 và 205 nhà nghỉ H5, thuộc thôn B, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyển Quang, Nguyễn Thị G đã có hành vi cho Vũ Thị N, sinh năm 1983, trú tại thôn L, xã C, huyện Y, tỉnh Yên Bái bán dâm cho Đỗ Xuân H2, sinh năm 1993, trú tại thôn M, xã M, huyện H và cho Si Thị D, sinh năm 1979, trú tại tổ I, phường Đ, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang bán dâm cho Trần Văn N1, sinh năm 1994, trú tại thôn M, xã M, huyện H với giá 1.500.000đ/ người. Tổng số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Chứa mại dâm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về trật tự công cộng, xâm phạm đến thuần phong mỹ tục của dân tộc, đồng thời còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có tiền sự, ngày 22/6/2023 đã bị Công an huyện H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi dùng nhà ở do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc với số tiền là 6.250.000đ (chưa chấp hành nộp phạt) tại Quyết định số 164/QĐ-XPHC. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam tương xứng với hành vi, mức độ phạm tội để giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
Hội đồng xét xử xét thấy bản thân bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, trước khi mở phiên toà, bị cáo có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y với lý do con bị cáo còn nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
[4] Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Qúa trình điều tra, truy tố các Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm do luật định. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, giải quyết vụ án đúng theo trình tự, thủ tục được thể hiện thông qua việc ghi chép, lập biên bản các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, thực hiện việc xét hỏi, tranh tụng đúng quy định tại các Điều 289, 306, 315, 320, 321, 322 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[5] Về vật chứng:
- - Đối với 01 vỏ bao cao su đã qua sử dụng, được xé rách làm 02 phần, trên vỏ bao cao su in hình hoa lá màu xanh, tím và cam; 01 bao cao su đã qua sử dụng, màu trắng đục; 03 bao cao su chưa qua sử dụng, có đặc điểm giống nhau, một mặt có dòng chữ “HA ULTRA THIN” và in hoa lá màu xanh, tím và cam; 01 bao cao su VIP Condom, chưa qua sử dụng, vỏ bao màu trắng vàng. Đây là vật chứng của vụ án và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo quy định.
- - Đối với số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) thu giữ của Vũ Thị N và Si Thị D. Đây là tiền do N và D thực hiện hành vi vi phạm pháp luật mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định.
[6] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án.
- - Đối với hành vi mua dâm của Đỗ Xuân H2, Trần Văn N1 và hành vi bán dâm của Vũ Thị N, Si Thị D: Ngày 15/4/2024, Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang đã ban hành các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 88, 89, 90, 91 bằng hình thức Phạt tiền nên HĐXX không xem xét, giải quyết.
- - Đối với ông Hà Văn H4 không biết Nguyễn Thị G chứa mại dâm nên không xem xét xử lý.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh
Căn cứ vào khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự, tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội “Chứa mại dâm”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G 01 (Một) năm tù, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/01/2024 đến ngày 07/02/2024 là 21 (Hai mươi mốt) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (Mười một tháng) 09 (Chín) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ bao cao su đã qua sử dụng, được xé rách làm 02 phần, trên vỏ bao cao su in hình hoa lá màu xanh, tím và cam; 01 bao cao su đã qua sử dụng, màu trắng đục; 03 bao cao su chưa qua sử dụng, có đặc điểm giống nhau, một mặt có dòng chữ “HA ULTRA THIN” và in hoa lá màu xanh, tím và cam; 01 bao cao su VIP Condom, chưa qua sử dụng, vỏ bao màu trắng vàng.
- (Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Tuyên Quang với Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang, lập ngày 10/5/2024).
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) thu giữ của Vũ Thị N2 và Si Thị S hiện đang được tạm gửi tại tài khoản số 3949.0.1064845.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H tại Kho bạc nhà nước huyện H, tỉnh Tuyên Quang (theo Giấy ủy nhiệm chi ngày 09/5/2024).
4. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Thị G phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Minh Ngọc |
Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG về chứa mại dâm
- Số bản án: 27/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị G phạm tội Chứa mại dâm
