Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN EAKAR

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HNGĐ – ST

Ngày: 04/6/2024

V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhã Phương.
  • - Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Tuyết và ông Y Nik Êban
  • Thư ký phiên toà: Ông Phạm Xuân Quyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện EaKar.
  • Đại diên Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Tiến- Kiểm sát viên.

Ngày 04/6/2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 366/2023/TLST - HNGĐ, ngày 04 tháng 10 năm 2023; Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 04/4/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 22/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 04/5/2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1970. Vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyến vắng mặt.
  • HKTT: Thôn Đ, xã E, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
  • Nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã E, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
  • - Bị đơn: Ông Trần Minh T, sinh năm 1970. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
  • HKTT: Thôn Đ, xã E, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.
  • Nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã E, huyện EaKar, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn bà Trần Thị P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà P và ông Trần Minh T sau một thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 12/12/2001. Trong quá trình chung sống do cả hai bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vả, xúc phạm lẫn nhau. Cả hai đã cố gắng hòa giải nhưng không thành và đã không sống chung với nhau từ lâu. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được vì vậy bà P đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Trần Minh T.

Về con chung: Bà P và ông T có 04 con chung là Trần Thị T, sinh ngày 14/8/1993; Trần Thị Y, sinh ngày 10/01/1995; Trần Thị H1, sinh ngày 23/11/1996 và Trần Thị H2, sinh ngày 15/6/2004. Do các con chung đã thành niên, có thể tự lao động nuôi sống bản thân nên bà P không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ: Bà P không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Ea Kar đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Trần Minh T tham gia tố tụng, nhưng ông T không đến Tòa án làm việc, không trình bày ý kiến. Vì vậy, vụ án không thể mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Căn cứ vào Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Ea Kar đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trần Minh T vắng mặt lần thứ hai không lý do. Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tham gia phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã ban hành các quyết định, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho các đương sự đúng quy định. Thành phần Hội đồng xét xử đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật; Qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán đã thực hiện đúng theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P. Cho bà Trần Thị P được ly hôn với ông Trần Minh T.

Về con chung: Bà P và ông T có 04 con chung là Trần Thị T, sinh ngày 14/8/1993; Trần Thị Y, sinh ngày 10/01/1995; Trần Thị H1, sinh ngày 23/11/1996 và Trần Thị H2, sinh ngày 15/6/2004 đều đã thành niên, các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết.

Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết về án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà Trần Thị P có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện EaKar giải quyết việc hôn nhân đối với ông Trần Minh T, đơn khởi kiện của bà P được Tòa án nhân dân huyện EaKar xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn”, được quy định tại khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện EaKar.

[2] Về nội dung vụ án:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị P và ông Trần Minh T tự nguyện về sống chung, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Ea Kmút, huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 12/12/2001, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình sống chung hai vợ chồng sống hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vả, xúc phạm lẫn nhau, đồng thời cả hai đã sống ly thân từ đó đến nay. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà P đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Trần Minh T.
  • Qua xác minh tại chính quyền địa phương xác định bà P và ông T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vả, đã có tình trạng đánh nhau, nguyên nhân mâu thuẫn thì ban tự quản không rõ.
  • Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P, cho bà Trần Thị P được ly hôn với ông Trần Minh T.
  • Về con chung: Bà P và ông T có 04 con chung là Trần Thị T, sinh ngày 14/8/1993; Trần Thị Y, sinh ngày 10/01/1995; Trần Thị H1, sinh ngày 23/11/1996 và Trần Thị H2, sinh ngày 15/6/2004 đều đã thành niên, các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
  • Về tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không giải quyết.

[3]Về án phí: Bà Trần Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 203, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, và Điều 266 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014
  • Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị P.

  • [1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị P được ly hôn với ông Trần Minh T.
  • [2]. Về con chung: Bà P và ông T có 04 con chung là Trần Thị T, sinh ngày 14/8/1993; Trần Thị Y, sinh ngày 10/01/1995; Trần Thị H1, sinh ngày 23/11/1996 và Trần Thị H2, sinh ngày 15/6/2004 đều đã thành niên, các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
  • [3]. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • [4]. Về án phí: Bà Trần Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp do ông Phạm Văn Công nộp thay theo biên lai số AA/2023/0001129 ngày 04 tháng 10 năm 2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.
  • [5]. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./

Nơi nhân

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND huyện EaKar;
  • - Chi cục THADS huyện EaKar;
  • - UBND xã Ea Kmút, huyện EaKar;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Nhã Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HNGĐ – ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn

  • Số bản án: 27/2024/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EAKAR, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Thị P yêu cầu ly hôn với ông Trần Minh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger