|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC *** |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 27/2024/DSST
Ngày: 04/6/2024
V/v: “Yêu cầu công nhận hiệu lực
của hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất, tranh chấp
quyền sử dụng đất”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Lưu Thùy Linh
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hoà
Bà Lê Thị Thận.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Tường Vi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Tâm – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 30/5 và 04/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm “Yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sử dụng đất” thụ lý số: 134/2023/DSST, ngày 17/7/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2024/QĐXXST - DS ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Mai Thị M, sinh năm 1965 ( có mặt)
- - Bị đơn: Ông Phạm Quốc P ( L), sinh năm 1970 ( có mặt)
- Bà Hoàng Thị Mỹ N, sinh năm ( có mặt)
Cùng cư trú tại: khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1/ Ông Lê Xuân H, sinh năm 1959 ( đề nghị xét xử vắng mặt)
- 2/ Bà Bùi Thị X, sinh năm 1965 ( vắng mặt)
- 3/ Anh Vũ Đức V, sinh năm 1982 ( có mặt)
- 4/ Chị Phan Thị T, sinh năm 1985 ( đề nghị xét xử vắng mặt)
- 5/ Ông Huỳnh Văn K, sinh năm 1964 ( đề nghị xét xử vắng mặt)
Cùng cư trú tại: khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/7/2023, đơn khởi kiện bổ sung ngày 15/01/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Mai Thị M trình bày:
Khoảng năm 2013 bà M có nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lê Xuân H, bà Bùi Thị X diện tích đất 792, 8m2 trong đó có 139,1m2 đất ODT; tọa lạc tại khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; thời điểm nhận chuyển nhượng đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( QSDĐ) đã giao tiền, nhận đất đầy đủ; đến ngày 26/01/2020 mới tiến hành viết giấy tay sang nhượng đất nhằm mục đích để ông H thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ; bà M với vợ chồng ông H, vợ chồng anh V, chị T đều thống nhất để cho vợ chồng ông H đứng tên, khi có nhu cầu tách giấy chứng nhận, sang tên thì các bên thực hiện sau; nguồn gốc đất này do anh T1 ( là em ruột của ông P) sang nhượng cho ông Đ, ông B, ông H1 20m mặt tiền, dài hết đất chỉ viết giấy tay, sau đó ông Đ, ông B, ông H1 sang nhượng lại cho ông H và ông C ( là bố ruột của anh V), cụ thể phần ông C là 10m mặt tiền phía giáp ranh với đất ông Huỳnh Văn K, vợ chồng ông H là 10m mặt tiền; sau đó ông H nhận chuyển nhượng từ ông T1 thêm 03m mặt tiền liền kề với phần đất ông H nhận chuyển nhượng của ông Đ, ông B, ông H1; do ông B, ông Đ, ông H1 chưa thực hiện việc đứng tên trong giấy chứng nhận QSDĐ nên ông H lại viết giấy nhận chuyển nhượng đất trực tiếp từ anh T1. Ngày 05/3/2021 ông Lê Xuân H cùng vợ là bà Bùi Thị X được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH 03335, với tổng diện tích đất là 1.167,3m2 ( trong đó có 200m2 đất ở tại đô thị ), thuộc thửa đất số 401, tờ bản đồ số 24; bao gồm cả phần đất của bà M và đất anh V, trong đó các bên thống nhất xác định phần đất anh V liền kề với đất nhà ông K là 10m mặt tiền có diện tích là 577,4m2 trong đó có 60,9m2 đất ODT; phần đất bà M là 12,86m mặt tiền, có diện tích là 792,8m2 trong đó có 139,1m2 đất ODT; qua sơ đồ đo đạc xem xét thẩm định tại chỗ về vị trí đất được cấp giấy chứng nhận QSDĐ không đúng theo vị trí hiện trạng đang sử dụng giữa các hộ, lệch vị trí phía tiếp giáp với ông K với diện tích là 313,4m2, cấp choàng qua phần đất của ông P là 346,2m2. Trong thời gian qua ông P, bà N đã lấn chiếm của bà M diện tích là 207,2m2 trong đó có 2,86m đất mặt tiền và dựng một phần căn nhà gỗ trên đất phần nhà gỗ lấn chiếm có diện tích là 2,2m2, bà M đã thương lượng yêu cầu ông P, bà N phải trả lại phần đất lấn chiếm là 207,2m2 đồng thời tháo dỡ, di dời phần tài sản trên đất nhưng ông P, bà N không đồng ý nên buộc lòng bà M phải làm đơn đến Ủy ban nhân dân thị trấn Đ để hoà giải nhưng không thành chuyển hồ sơ đến Toà án để giải quyết, cụ thể yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà M với vợ chồng ông H, bà X đối với diện tích là 792,8m2 trong đó có 139,1m2 đất ODT; có giấy chứng nhận QSDĐ cấp ngày 05/3/2021 cho ông Lê Xuân H cùng vợ là bà Bùi Thị X do Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH 03335; buộc vợ chồng ông P, bà N có nghĩa vụ giao trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 207,2m2 đồng thời tháo dỡ, di dời phần tài sản trên đất; đề nghị cơ quan có thẩm quyền xác định cấp lại vị trí đất cho đúng hiện trạng mà các bên đang sử dụng. Ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.
Bị đơn ông Phạm Quốc P, bà Hoàng Thị Mỹ N trình bày:
Vợ chồng ông P, bà N chỉ thừa nhận anh T1 em trai ông P có sang nhượng cho ông B, ông Đ, ông H1 là 20m mặt tiền, dài hết đất chỉ viết giấy tay, đất toạ lạc tại khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; cụ thể từ phần đất giáp ranh với đất ông K qua; T1 không sang nhượng cho bà M không biết bà M, không liên quan gì đến bà M; ông H cho rằng nhận chuyển nhượng từ ông T1 thêm 03m mặt tiền liền kề với phần đất ông H nhận chuyển nhượng của T1 là sai, không có việc sang nhượng đất 03m; năm 2021 ông Lê Xuân H cùng vợ là bà Bùi Thị X được cấp giấy chứng nhận QSDĐ vợ chồng ông P, bà N không biết, trong giấy chứng nhận thể hiện mặt tiền dài 22,86m vợ chồng ông P, bà N không đồng ý chỉ thừa nhận sang nhượng là 20m mặt tiền từ ranh nhà ông K qua. Nguồn gốc đất hiện nay vợ chồng ông P, bà N đang quản lý là do cha, mẹ ông P tự khai phá từ năm 1985, chưa có giấy chứng nhận QSDĐ, không có giấy phân chia đất trong gia đình, không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì về đất đang quản lý, sử dụng; năm 2021 sau khi bà M múc đất bằng phẳng thì ông P, bà N có dựng một căn nhà gỗ trên phần đất của gia đình; về giấy mua bán đất 03m giữa ông H và T1, do hiện nay T1 đã mất, không xác định được có phải chữ ký của T1 không nếu giám định được chữ ký trong giấy là chữ của T1 thì bà N, ông P mới đồng ý giao đất mặt tiền 2,86m cho bà M; với yêu cầu khởi kiện hiện nay của bà M yêu cầu vợ chồng ông P, bà N giao 2,86m đất mặt tiền và di dời nhà trên đất vợ chồng ông P, bà N không đồng ý, các yêu cầu khác ông P, bà N không có ý kiến gì. Ngoài ra, không có ý kiến gì thêm, vợ chồng ông P, bà N không phản tố nội dung gì; không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Huỳnh Văn K qua lời khai trình bày: Nguồn gốc diện tích đất của gia đình ông K tọa lạc tại khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, hiện chưa có giấy chứng nhận QSDĐ, là do gia đình ông K tự khai phá từ năm 1985 và sử dụng ổn định liên tục đến nay, không có tranh chấp gì, giữa các thửa đất hiện nay có ranh giới rõ ràng, thửa đất của ông K giáp với thửa đất nhà anh V, không có hàng rào nhưng bên đất nhà anh V lâu nay không canh tác gì trên đất, đất nhà ông K có trồng cây điều trên đất đã lâu; lâu nay giữa ông K với nhà anh V không ai tranh chấp gì về ranh đất. Nguồn gốc bên đất anh V, bà Minh thế n ông K không biết, diện tích cụ thể các hộ thế nào ông K cũng không rõ. Về sơ đồ đo đạc ông K đồng ý theo ranh sử dụng thực tế giữa các bên, ranh giữa đất của gia đình ông K với đất nhà anh V đã mua là từ điểm 8 đến 9, dài 57,47m, không có tranh chấp gì; về ranh mà sơ đồ lên theo giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp cho ông H là sai, không đúng theo thực tế sử dụng lâu nay; phía đuôi đất từ điểm 6 đến 8 là 10m là thuộc phần đất của nhà anh V không phải đất của ông K, lâu nay anh V sử dụng, ông K không có tranh chấp gì. Nay bà M tranh chấp với ông P thì 02 bên giải quyết với nhau theo quy định của pháp luật, ông K không có ý kiến gì; phần đất bà M giáp ranh với ông P, bà N ông K không biết. Ngoài ra, ông K không có ý kiến gì thêm, không có yêu cầu độc lập gì trong vụ án.
Vợ chồng ông Lê Xuân H, bà Bùi Thị X qua lời khai trình bày: Nguồn gốc diện tích đất 1.167,3m2; tọa lạc tại khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước, có giấy chứng nhận QSDĐ, đứng tên Lê Xuân H cùng vợ là bà Bùi Thị X; là do vợ chồng ông H và ông C ( ông C là bố ruột của anh V ) mua của ông Phạm Quốc T2 ( là em trai của ông Phạm Quốc P), có mặt tiền dài là 22, 86m, trong đó phần của vợ chồng ông H là 12,86 m, phần của ông C đã cho anh V là 10m, ông H nhận chuyển nhượng từ năm 2003, thời điểm sang nhượng đất chưa có giấy chứng nhận QSDĐ, đã giao tiền, giao đất đầy đủ từ thời điểm mua bán; đến năm 2021 vợ chồng ông H, bà X mới thực hiện các thủ tục làm giấy chứng nhận QSDĐ, vợ chồng ông H và anh V thỏa thuận vợ chồng ông H đứng tên sổ đất và đất hiện đang đứng tên vợ chồng ông H; tuy nhiên trước đó 2013 phần đất của vợ chồng ông H là 12,86m đã chuyển nhượng hết cho bà Mai Thị M, đã giao tiền, giao đất đầy đủ; tuy nhiên chưa là thủ tục sang tên giấy chứng nhận QSDĐ đất, năm 2021 bà M chỉ nhờ vợ chồng ông H đứng tên để được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, có chuyển đổi 200m2 đất thổ cư do bà M đóng tiền chi phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Phần anh V là 10m hiện cũng đang làm thủ tục tách sổ đứng tên anh V theo quy định. Hiện nay đều là đất trống, cả bà M và anh V chưa ai xây dựng công trình gì trên đất. Tuy nhiên, trong quá trình bà M quản lý, sử dụng thì bị vợ chồng ông P tranh chấp, lấn chiếm. Ông H khẳng định vợ chồng ông H có bán cho bà M 12.86m đất mặt tiền, chạy dài hết đất ra phía sau, trong đó có 200m2 đất thổ cư là của bà M. Diện tích bị lấn chiếm bao nhiêu ông H không biết, vì ông H đã giao đất cho bà M từ lâu nên ông H không để ý. Nay bà M yêu cầu ông H công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông H với bà M, ông H đồng ý nhưng với với diện tích ông H đã bán và đã làm sổ cụ thể mặt tiền là 12,86m, chiều dài là hết đất như sổ được cấp, không phải như bà M nêu trong đơn là 13m, dài 65m là chưa chính xác, trong đó có đất thổ cư là đúng. Đối với nội dung tranh chấp đất giữa ông P và bà Minh thế n thì tự hai bên giải quyết với nhau, ông H chỉ xác nhận sự việc giữa ông H và bà M, công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa vợ chồng ông H và bà M.
Vợ chồng anh Vũ Đức V, chị Phan Thị T trình bày: Năm 2003 ông C ( là bố ruột anh V ) và vợ chồng ông H có mua chung diện tích đất 1.167,3m2 tại khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước mặt tiền dài là 20m, mua của ông Đ, ông B, ông H1; nguồn gốc đất trước đó ông Đ, ông B và ông H1 mua của anh T2, thống nhất ông H và ông C làm giấy trực tiếp từ anh T2, thời điểm sang nhượng đất chưa có giấy chứng nhận QSDĐ, đã giao tiền, giao đất đầy đủ từ thời điểm mua bán; sau đó ông H mua thêm với anh T2 cụ thể thế nào anh V không rõ; đến năm 2021 vợ chồng ông H, bà X mới thực hiện các thủ tục làm giấy chứng nhận QSDĐ, vợ chồng ông H và anh V thỏa thuận vợ chồng ông H đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ; tuy nhiên trước đó 2013 phần đất của vợ chồng ông H đã chuyển nhượng hết cho bà Mai Thị M, đã giao tiền, giao đất đầy đủ nhưng chưa là thủ tục sang tên giấy chứng nhận QSDĐ đất, năm 2021 bà M chỉ nhờ vợ chồng ông H đứng tên để được cấp giấy chứng nhận QSDĐ, có chuyển đổi chung là 200m2 đất thổ cư, với tổng diện tích đất được cấp trong giấy chứng nhận QSDĐ hiện nay; anh V xác định phần đất của anh V là 10m mặt tiền diện tích là 577,4m2 trong đó có 60,9m2 đất thổ cư; phần đất của bà M là 792,8m2 trong đó có 139,1m2 đất thổ cư. Đối với các tranh chấp giữa bà M với ông P, bà N và giữa bà M với ông H, bà X anh V, chị T không có ý kiến gì; về vị trí đất anh V thừa nhận thống nhất theo ranh hiện nay đang sử dụng, cụ thể ranh đất giữa nhà anh V với ông K là từ các điểm 7 đến 8 và 8 đến 9 như sơ đồ đo vẽ thẩm định tại chỗ. Ngoài ra anh V không có ý kiến gì thêm, không nộp tài liệu, chứng cứ gì, không có yêu cầu độc lập trong vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, HĐXX thực hiện đúng các quy định về tố tụng.
Về nội dung căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà; căn cứ vào các Điều 168, 170 của Luật Đất đai năm 2013 và Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2015; đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa vợ chồng ông H, bà X với bà M đối với diện tích đất 792,8m2 trong đó có 139,1m2 đất thổ cư; buộc vợ chồng ông P, bà N trả lại cho bà M phần đất tranh chấp có diện tích là 207,2m2 và vợ chồng ông P, bà N có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời phần tài sản trên đất tranh chấp; đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh lại giấy chứng nhận QSDĐ số CH 03335 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 05/03/2021 đứng tên ông Lê Xuân H cùng vợ là bà Bùi Thị X.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
[1] Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị M về việc yêu cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa vợ chồng ông H, bà X với bà M đối với diện tích đất 792,8m2 trong đó có 139,1m2 đất thổ cư; buộc vợ chồng ông P, bà N trả lại cho bà M phần đất tranh chấp có diện tích là 207,2m2 và vợ chồng ông P, bà N có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời phần tài sản trên đất tranh chấp; đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận QSDĐ số CH 03335 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 05/03/2021 đứng tên ông Lê Xuân H cùng vợ là bà Bùi Thị X và cấp lại cho đúng với vị trí hiện trạng đang sử dụng hiện nay.
[1.1] Về yêu cầu công nhận hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa vợ chồng ông H, bà X với bà M đối với diện tích đất 792,8m2 trong đó có 139,1m2 đất thổ cư. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của vợ chồng ông H, bà X và bà M đều thừa nhận năm 2013 vợ chồng ông H có chuyển nhượng cho bà Mai Thị M diện tích đất 792,8m2 trong đó có 139,1m2 đất thổ cư, đã giao tiền, giao đất đầy đủ; tại thời điểm chuyển nhượng đất chưa có giấy chứng nhận QSDĐ, đến năm 2021 vợ chồng ông H, bà X và bà M thoả thuận với nội dung vợ chồng ông H, bà X thực hiện các thủ tục cấp giấy chứng nhận QSDĐ đất đứng tên vợ chồng ông H, bà X; ngày 05/03/2021 vợ chồng ông H, bà X được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận QSDĐ số CH 03335 đứng tên ông Lê Xuân H cùng vợ là bà Bùi Thị X. Tổng diện tích đất được cấp là 1.167,3m2 trong đó có 200m2 đất thổ cư; tọa lạc tại khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Tại phiên toà bà M và anh V thống nhất trong diện tích đất 1.167,3m2 phần của bà M có diện tích là 792,8m2 trong đó có 139,1m2 đất thổ cư chiều dài mặt tiền là 12,86m; phần của anh V là 10m mặt tiền diện tích là 577,4m2 trong đó có 60,9m2 đất thổ cư. Như vậy, Theo quy định tại Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về giao dịch dân sự vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức như sau: “ Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:
1.Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;
Diện tích đất chuyển nhượng là 792,8m2 trong đó có 139,1m2 đất thổ cư, theo quy định tại Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND tỉnh B quy định thì có đủ điều kiện để tách thửa.
Do đó, bà M yêu cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa vợ chồng ông Lê Xuân H, bà Bùi Thị X với bà Mai Thị M; đối với diện tích đất 792,8m2 trong đó có 139,1m2 đất thổ cư là có căn cứ chấp nhận.
[1.2] Về yêu cầu buộc vợ chồng ông P, bà N trả lại cho bà M phần đất tranh chấp có diện tích là 207,2m2 và vợ chồng ông P, bà N có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời phần tài sản trên đất tranh chấp. Lời khai bà M cho rằng nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lê Xuân H, bà Bùi Thị X diện tích đất 792, 8m2 trong đó có 139,1m2 đất ODT, có chiều dài mặt tiền là 12,86m; tọa lạc tại khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Lời khai vợ chồng ông P, bà N chỉ thừa nhận anh T2 em trai ông P có sang nhượng cho ông B, ông Đ, ông H1 là 20m mặt tiền, dài hết đất chỉ viết giấy tay, đất toạ lạc tại khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; cụ thể từ phần đất giáp ranh với đất ông K qua; T2 không sang nhượng cho ông H thêm 03m mặt tiền như ông H trình bày nên vợ chồng ông P, bà N không đồng ý với yêu cầu này của bà M. Lời khai ông H khẳng định ông có nhận chuyển nhượng của anh T2 thêm 03m đất mặt tiền liền kề với đất mà ông H đã nhận chuyển nhượng trước đó của ông T2, tài liệu chứng cứ chứng minh có “giấy sang nhượng đất” viết tay ghi ngày 21/9/2005, có ông Điểu M1 trưởng thôn là chứng; anh T2 hiện nay đã mất, lời khai của người làm chứng ông Điểu M1 trình bày có nội dung “ Lần đầu tiên ông H mua đất của ông T2 ( tên thường gọi khác là B1) vào thời gian nào tôi không biết không chứng kiến nhưng mua lần thứ 2 vào ngày 21/9/2005 thì tôi chứng kiến cụ thể gia đình anh T2 có nợ tiền của gia đình ông H là 5.000.000đ, không có tiền trả nên gia đình anh T2 sang lại cho gia đình ông H 03m đất mặt tiền liền kề với đất trước đây ông H đã mua, chiều dài bằng với thửa đất đã mua, đất tọa lạc tại khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; có viết giấy tay với nhau, do ông H viết, sau khi thỏa thuận làm giấy xong thì anh Phạm Quốc T2 ký và lăn tay vào giấy, ông H ký, tôi ký làm chứng, nay anh T2 đã mất, tôi khẳng định anh T2 có bán đất cho ông H là 03m liền kề đất đã mua, chữ ký trong giấy mua bán là của anh T2, giấy nộp
tại tòa án là đúng. Việc tôi ký và chứng kiến viết giấy mua bán đất này là tại nhà của H trong xã Đ, đất có sổ hay không tôi không biết, lý do tôi ký giấy là gia đình ông H tạm trú và sinh sống tại thôn E, xã Đ còn gia đình anh Phạm Quốc T2 cũng sinh sống tại thôn E, xã Đ, anh T2 lấy vợ là người đồng bào trong xã Đ, tôi là thôn T, xã Đ (trước đây là thôn H) nên hai bên có yêu cầu tôi chứng kiến và ký giấy làm chứng cho hai gia đình nên tôi thực hiện và có chứng kiến việc thỏa thuận thống nhất của hai gia đình và ký kết đi đến viết giấy mua bán đất”.
Như vậy, có căn cứ xác định được anh T2 có chuyển nhượng QSDĐ cho vợ chồng ông H hai lần, lần đầu là 10m mặt tiền, lần hai là 03m mặt tiền; khi thực hiện đăng ký để cấp giấy chứng nhận QSDĐ thể hiện vị trí đất mặt tiền là 22,86m; nay bà M yêu cầu ông P phải trả đủ diện tích đất đã lấn chiếm theo giấy chứng nhận QSDĐ là 22,86m mặt tiền (trong đó của bà M là 12,86m, anh V là 10m); phía ông P, bà N không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh diện tích 207,2m2 đất tranh chấp là thuộc quyền sử dụng của ông P, bà N; không có giấy chứng nhận QSDĐ, vợ chồng ông P, bà N cho rằng đất của cha, mẹ khai phá sau đó cho ông, bà nhưng ông P, bà M cũng không có giấy tờ gì để chứng minh về việc tặng cho đất hay gia đình ông P có sự phân chia phần đất này cho vợ chồng ông P, bà N; do đó căn cứ vào Điều 170 của Luật Đất đai năm 2013 có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của bà M.
[1.3] Về ý kiến của bà M đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh giấy chứng nhận QSDĐ số CH 03335 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 05/03/2021 đứng tên ông Lê Xuân H cùng vợ là bà Bùi Thị X và cấp lại cho đúng với vị trí hiện trạng đang sử dụng hiện nay. Qua lời khai của ông K, anh V, vợ chồng ông P, bà N đều khẳng định vị trí đất của anh V giáp ranh với ông K từ các điểm 7 đến 8 và 8 đến 9 theo sơ đồ đo đạc của Công ty 401 huyện B; qua biên bản xác minh tại phòng Tài nguyên môi trường huyện B ngày 19/4/2024, có nội dung việc các đương sự thống nhất vị trí được cấp giấy chứng nhận QSDĐ sai lệch so với vị trí các đương sự đang sử dụng thì được phép cấp đổi lại theo đúng hiện trạng mà các hộ đang sử dụng; như vậy qua sơ đồ đo đạc xác định được vị trí cấp không đúng phía giáp ranh với đất ông K có diện tích là 313,4m2, phía giáp ranh ông P cấp giấy chứng nhận QSDĐ choàng qua có diện tích là 346,2m2. Do đó cần đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp đổi lại giấy chứng nhận QSDĐ số CH 03335 đứng tên ông Lê Xuân H cùng vợ là bà Bùi Thị X với diện tích là 1.167,3m2 trong đó có 200m2 đất thổ cư; tọa lạc tại khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước cho đúng với vị trí, hiện trạng đất hiện nay bà M, anh V, ông K đang quản lý, sử dụng như sơ đồ đo đạc của Công ty 401 huyện B.
Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử.
[2] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên các bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ các Điều 168, 170, 195 của Luật Đất đai năm 2013.
- - Căn cứ Quyết định số 27/2020/QĐ-UBND tỉnh B.
- - Căn cứ Điều 129 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- - Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 147, Điều 157, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị M về việc yêu cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa vợ chồng ông Lê Xuân H, bà Bùi Thị X với bà Mai Thị M đối với diện tích đất 792,8m2 trong đó có 139,1m2 đất thổ cư; buộc vợ chồng ông Phạm Quốc P, bà Hoàng Thị Mỹ N trả lại cho bà Mai Thị M phần đất tranh chấp có diện tích là 207,2m2 từ điểm 1 đến điểm 2, điểm 3, điểm 4 theo sơ đồ đo đạc số 08002/2023 của Công ty TNHH - bản đồ và trắc địa công trình 401 huyện B ngày 02/8/2023 và vợ chồng ông P, bà N có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời phần tài sản trên đất tranh chấp; đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp đổi lại giấy chứng nhận QSDĐ số CH 03335 đứng tên ông Lê Xuân H cùng vợ là bà Bùi Thị X với diện tích là 1.167,3m2 trong đó có 200m2 đất thổ cư; tọa lạc tại khu Đ, thị trấn Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước đúng với vị trí, hiện trạng đất hiện nay bà M, anh V, ông K đang quản lý, sử dụng theo sơ đồ đo đạc số 08002/2023 của Công ty TNHH - bản đồ và trắc địa công trình 401 huyện B ngày 02/8/2023.
Các đương sự có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ theo quy định của pháp luật theo sơ đồ đo đạc số 08002/2023 của Công ty TNHH - bản đồ và trắc địa công trình 401 huyện B ngày 02/8/2023.
2. Về án phí và chi phí tố tụng khác: Buộc các bị đơn ông Phạm Quốc P, bà Hoàng Thị Mỹ N phải nộp số tiền án phí DSST là 600.000đ. Ông P, bà N có nghĩa vụ trả qua cho bà M 6.190.000đ chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp.
Hoàn trả lại cho bà Mai Thị M số tiền 600.000đ tạm ứng án phí mà bà M đã nộp, theo biên lai thu tiền số 0001135, ngày 17/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng.
3. Quyền kháng cáo bản án: Nguyên đơn; các bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa ( bị đơn phiên tuyên án tự ý bỏ về) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Thùy Linh |
Bản án số 27/2024/DSST ngày 04/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về yêu cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 27/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu công nhận hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tranh chấp quyền sử dụng đất
