|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2024/HNGĐ-PT Ngày: 03 - 8 - 2024 V/v ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn, đòi lại tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Các Thẩm phán:
Ông Đinh Chí Tâm.
Ông Phạm Minh Tùng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Nghĩa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh
Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Trần Thị Điểu-
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các gày 22 tháng 7 và ngày 03 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2024/TLPT-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn” và “tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 14/2024/QĐ-PT ngày 05 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng Y, sinh năm 1957; địa chỉ: Số B, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn V, Luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn Văn V thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ; có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Anh V1 (tên gọi khác Lê Anh D), sinh năm 1958; đăng ký thường trú: Số E, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; địa chỉ cư trú: Số D, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Chị Trương Mỹ P, sinh năm 1997; địa chỉ: 97a3, Trần Hoàng N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn “được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 16/7/2024”; có mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn:
- - Ông Tạ Quốc D1, Luật sư Công ty L3 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; có mặt.
- - Ông Lê Thành T, Luật sư Công ty L3 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Anh Lê Anh H, sinh năm 1978; có mặt.
- 3.2. Chị Lê Thị Hồng D2, sinh năm 1985;
- 3.3. Chị Bùi Diễm H1, sinh năm 1981;
- 3.4. Cháu Lê Hoàng Diễm N1, sinh năm 2008;
- Cùng địa chỉ: Số B, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.
Người đại diện hợp pháp của cháu Lê Hoàng Diễm N1: Anh Lê Anh H, sinh năm 1978 và chị Bùi Diễm H1, sinh năm 1981; địa chỉ: Số B, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo pháp luật của cháu Lê Hoàng Diễm N1; anh H có mặt.
Người đại diện hợp pháp của chị Lê Thị Hồng D2 và chị Bùi Diễm H1: Anh Lê Anh H, sinh năm 1978; địa chỉ: Số B, khóm B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, là người đại diện theo ủy quyền của chị Lê Thị Hồng D2 và chị Bùi Diễm H1; có mặt.
- Người kháng cáo: Ông Lê Anh V1, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng Y trình bày:
Về hôn nhân: Bà Y và ông Lê Anh V1 tổ chức lễ cưới vào năm 1977 và có đăng ký kết hôn vào ngày 20/4/1977. Nay bà Y yêu cầu được ly hôn ông V1.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Anh H, sinh năm 1978 và Lê Thị Hồng D2, sinh năm 1985. Do hai con chung đã trưởng thành nên bà Y không yêu cầu giải quyết.
Về chia tài sản: Quá trình sống chung, bà Y và ông V1 không có tài sản chung. Nhà máy X1 ăn hiện ông V1 đang quản lý được xây dựng trên đất của bà Y thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 12, tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là của anh Lê Anh H, là con của bà Y và ông V1, không phải là tài sản chung của ông V1 và bà Y nên ông V1 yêu cầu chia cho ông V1 nhà máy này, bà Y không ý kiến định đoạt.
Đối với thửa đất số 78, tờ bản đồ số 12, tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là của bà Y. Nguồn gốc đất, bà Y được hưởng thừa kế từ mẹ bà Y là cụ Nguyễn Thị L từ năm 2000 nên không phải là tài sản chung của vợ chồng. Bà Y thừa nhận khi vợ chồng sống chung thì ông V1 và Y có công sức cải tạo thửa đất này nhưng không nhiều vì đất này là đất ở nông thôn và đất trồng cây lâu năm, trong quá trình sử dụng đất cụ L đã cải tạo, san lắp tương đối hoàn chỉnh, bà Y và ông V1 sống chung có cải tạo thêm chút ít. Ông V1 yêu cầu chia công sức đóng góp cho ông V1 diện tích đất theo đo đạc thực tế là 464,7m² được thể hiện ở các mốc M9, M10, M11, M16, M15, về mốc M9 thuộc một phần của thửa đất số 78, tờ bản đồ số 12, tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp là không phù hợp, bà Y không đồng ý. Bà Y yêu cầu ông V1 giao trả diện tích đất theo đo đạc thực tế là 464,7m² được thể hiện ở các mốc M9, M10, M11, M16, M15, về mốc M9 thuộc một phần của thửa đất số 78 như nêu trên. Bà Y tự nguyện trả cho ông V1 công sức cải tạo đất số tiền 70.000.000 đồng.
Bị đơn Lê Anh V1 trình bày:
Về hôn nhân: Ông V1 và bà Y tổ chức lễ cưới vào năm 1977 và đăng ký kết hôn vào ngày 20/4/1977. Nay ông V1 đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Y.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Anh H và Lê Thị Hồng D2 như bà Y trình bày. Do hai con chung đã trưởng thành nên ông V1 không yêu cầu giải quyết.
Về chia tài sản: Trước đây ông V1 có đơn yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng là thửa đất số 78, tờ bản đồ số 12, diện tích 3.058,5m² (gồm 300m² đất ở, 2.758,5m² đất trồng cây lâu năm) tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp và nhà máy X1 ăn hiện ông V1 đang quản lý, nhà máy xây dựng trên thửa đất số 78, tờ bản đồ số 12. Ông V1 yêu cầu được chia diện tích đất 464,7m² thể hiện ở các mốc M9, M10, M11, M16, M15, về mốc M9 thuộc một phần của thửa đất số 78 và nhà máy X1 lúa trị giá 30.000.000 đồng. Nay ông V1 xác định thửa đất số 78 là tài sản riêng của bà Y được hưởng thừa kế từ mẹ bà Y, ông V1 không yêu cầu chia tài sản chung là thửa đất số 78 nêu trên. Tuy nhiên ông V1 thay đổi yêu cầu, ông V1 yêu cầu bà Y trả công sức đóng góp cho ông V1 là diện tích đất theo đo đạc thực tế là 464,7m² thể hiện ở các mốc M9, M10, M11, M16, M15, về mốc M9 thuộc một phần của thửa đất số đất 78 tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, ông V1 đồng trả giá trị đất cho bà Y theo giá của Hội đồng định giá huyện Lấp Vò là 135.000 đồng/m² và yêu cầu được sở hữu toàn bộ nhà máy X1 lúa trị giá 30.000.000 đồng, bởi vì từ năm 1995 khi ông V1 và bà Y về ở và sử dụng thửa đất này, ông V1 và bà Y có công sức đóng góp là cải tạo, san lắp mặt bằng đất nhưng việc ông V1, bà Y cải tạo và san lắp mặt bằng số tiền cụ thể ông V1 không tính được là bao nhiêu, hiện ông V1 không có nơi ở nào khác. Việc anh Lê Anh H cho rằng nhà máy X1 lúa là của anh H là không đúng, vì nhà máy là tài sản của ông V1 và bà Y, cơ sở để chứng minh là tại biên bản hòa giải ngày 26/8/2022 của Tòa án, bà Y thừa nhận là của ông V1 và bà Y và trước đây bà Y đã khởi kiện ông V1 tại Ban hòa giải ấp để đòi lại nhà máy.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Anh V1 trình bày:
Năm 1975, ông V1 và bà Y sống chung với nhau như vợ chồng. Đến năm 1995, ông V1 và bà Y về sống chung với bà L trên thửa đất số 78, thời điểm này ông V1 làm ruộng ở cầu C và Số 8, trồng bông, nuôi heo nái, thửa đất số 78 là vườn cây tạp, ao hồ, ông V1 thuê người đem đất từ dưới sông lên trang trãi, đốn cây tạp và trồng xoài. Sau khi bà L chết, vợ chồng tiếp tục canh tác trồng xoài đến khoảng năm 2005 thì đốn xoài trồng chuối, thời điểm này ông V1 và bà Y xây dựng 01 nhà máy xay lúa ăn, cây xây dựng nhà máy ông V1 đem từ nhà máy ở An Giang về, vợ chồng cùng sử dụng nhưng giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là bà Y đứng tên, đối với căn nhà tường là do bà Y và anh H xây dựng (sửa chữa từ nhà cũ khoảng năm 2007), tiền cất nhà là do nhà nước bồi thường đất, đến khoảng năm 2014 do làm ăn thua lỗ nên đóng của nhà máy, ông V1 thấy nhà máy bỏ không hoạt động nên tiếp tục sửa chữa để xay lúa ăn cho đến nay.
Thửa đất số 78 có nguồn gốc là của cụ L là mẹ bà Y. Sau khi cụ L chết, năm 2000 thì bà Y được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo thủ tục thừa kế, do đó đất này là tài sản của bà Y. Tuy nhiên trong quá trình sử dụng từ năm 1995 đến nay ông V1 có công sức đóng góp cải tạo đất, ông V1 không chứng minh được việc công sức đóng góp là bao nhiêu tiền, trên thực tế vợ chồng ông V1 và bà Y có cải tạo đất, việc này cũng được bà Y thừa nhận. Do đó, ông V1 yêu cầu được quyền sở hữu toàn bộ nhà máy X1 lúa trị giá 30.000.000 đồng và yêu cầu bà Y trả công sức đóng góp bằng hiện vật là diện tích đất theo đo đạc thực tế là 464,7m² được thể hiện ở các mốc M9, M10, M11, M16, M15, về mốc M9 thuộc một phần của thửa đất số 78 và đồng ý trả lại giá trị đất cho bà Y theo giá của Hội Đồng định giá là 135.000 đồng/m². Việc anh H cho rằng nhà máy X1 lúa là của anh H là không đúng, vì nhà máy là tài sản của ông V1 và bà Y, cơ sở để chứng minh là tại biên bản hòa giải ngày 26/8/2022 của Tòa án, bà Y thừa nhận là của ông V1 và bà Y và trước đây bà Y đã khởi kiện ông V1 tại Ban hòa giải ấp để đòi lại nhà máy.
Anh Lê Anh H trình bày:
Vào năm 2005, anh H có hùn vốn với anh Lê Văn M (Địa chỉ ở S) xây dựng một nhà máy xay lúa ăn, hiện ông V1 đang quản lý sử dụng, nhà máy được xây dựng trên thửa đất số 78 của bà Nguyễn Thị Hồng Y là mẹ anh H, vốn đầu tư xây dựng nhà máy B là 60.000.000 đồng, anh Hoàng h 30.000.000 đồng, anh M hùn 30.000.000 đồng. Do bà Y đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên khi làm giấy phép kinh doanh đã để bà Y đứng tên giấy phép kinh doanh, nhưng thực tế nhà máy là của anh H và anh M. Sau khi xây dựng nhà máy hoạt động đến khoảng năm 2008 thì anh M rút vốn không hùn nữa và yêu cầu anh H thối tiền lại, anh H đã thối tiền lại 30.000.000 đồng cho anh M, sau khi trả phần hùn lại cho anh M thì nhà máy do anh H quản lý sử dụng. Năm 2007, ông V1 và bà Y có mâu thuẫn với nhau nên ông V1 về An Giang sinh sống. Đến năm 2012, ông V1 quay về đoàn tụ với bà Y, do thấy ông V1 không có việc làm nên anh H cho ông V1 mượn lại nhà máy để làm ăn. Đến tháng 10/2021, nhà máy hoạt động không hiệu quả, bà Y làm đơn xin ngừng hoạt động, cũng vào tháng 10/2021 anh H đi đăng ký lại giấy phép kinh doanh và đứng tên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và nhà máy tiếp tục hoạt động cho đến nay. Từ khi cho ông V1 mượn nhà máy sử dụng, anh H không có yêu cầu ông V1 trả lại nhà máy. Nay bà Y và ông V1 ly hôn, anh H yêu cầu ông V1 trả lại toàn bộ nhà máy cho anh H.
Anh Lê Anh H đại diện cho chị Lê Thị Hồng D2, chị Bùi Diễm H1 trình bày:
Phần đất thuộc thửa số 78, tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp do bà Y đại diện hộ đứng tên là đất của bà Y. Đất này bà Y được thừa kế từ mẹ của bà Y là cụ Nguyễn Thị L nên là tài sản của cá nhân bà Y. Anh H, chị H1, chị D2 không yêu cầu gì đối với phần đất này, giao toàn quyền quyết định cho bà Y.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 8, khoản 1 Điều 9, Điều 55, 59 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 357, 468 của Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Về hôn nhân:
Công nhận thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Hồng Y với ông Lê Anh V1.
- Về tài sản chung:
2.1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Anh V1 về việc yêu cầu được chia công sức đóng góp diện tích theo đo đạc thực tế là 464,7m² loại đất trồng cây lâu năm được thể hiện ở các mốc M9, M10, M11, M16, M15 về M9 thuộc một phần của thửa đất số đất 78, tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại thị trấn huyện L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, do hộ bà Nguyễn Thị Hồng Y đứng tên quyền sử dụng đất.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Hồng Y là bà Nguyễn Thị Hồng Y có nghĩa vụ trả tiền công sức đóng góp cho ông Lê Anh V1 số tiền 70.000.000 đồng (Bảy chục triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyết định chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2.2. Chấp nhận yêu cầu và sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Hồng Y.
Ông Lê Anh V1 được quyền sở hữu toàn bộ hệ thống nhà máy xay lúa được xây dựng trên thửa đất số 78, tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (Trị giá 30.000.000 đồng).
Buộc ông Lê Anh V1 tháo dở, di dời toàn bộ hệ thống nhà máy X1 và toàn bộ công trình vật kiến trúc cây trồng có trên đất, trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng Y diện tích theo đo đạc thực tế là 464,7m² loại đất trồng cây lâu năm được thể hiện ở các mốc M9, M10, M11, M16, M15 về M9 thuộc một phần của thửa đất số 78, tờ bản đồ số 12, đất tọa lạc tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, do hộ bà Nguyễn Thị Hồng Y đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
(Có biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò và sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp số 09/SĐ. ĐĐ/CNVP.ĐKĐĐ huyện L, ngày 09/01/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L kèm theo).
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lê Anh H về việc yêu cầu ông Lê Anh V1 trả lại toàn bộ hệ thống nhà máy xay lúa, nhà máy được xây dựng trên thửa đất số 78, tờ bản đồ số 12 của hộ bà Nguyễn Thị Hồng Y.
- Về án phí:
Ông Lê Anh V1 và bà Nguyễn Thị Hồng Y được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm và án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Anh Lê Anh H phải chịu 1.500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 750.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm anh Lê Anh H đã nộp theo biên lai số 0003674 ngày 06/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lấp Vò. Anh Lê Anh H còn phải nộp thêm là 750.000 đồng.
- Về chí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: Ông Lê Anh V1 phải chịu 8.253.000 đồng. Số tiền này ông Lê Anh V1 đã tạm nộp và đã chi xong.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/3/2024 ông Lê Anh V1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng cho ông V1 được hưởng công sức đóng góp là diện tích đất 464,7m² và trả giá trị theo giá Hội đồng định giá.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn Nguyễn Thị Hồng Y không rút đơn khởi kiện, không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông Lê Anh V1, bà Y đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm. Lý do thửa đất số 78 của bà Y tăng diện tích là vì trước đây việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mẹ bà Y, bà Y không có đo đạc thực tế. Vào năm 2019, bà Y và bà X có tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất, qua đo đạc thực tế diện tích đất bà Y đang sử dụng nhiều hơn trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà Y được cấp nên sau khi giải quyết xong vụ án với bà X thì bà Y xin cấp đổi thành thửa số 78, diện tích 3058,5m². Bà yến không đồng ý diện tích đất tăng thêm 458,5m² là tài sản chung do vợ chồng tạo ra vì phần đất này do bà Y được hưởng thừa kế từ bà L, vợ chồng bà Y chỉ có công sức thuê người san sửa đất.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Anh V1 trình bày ông V1 không rút đơn khởi kiện, không rút kháng cáo. Nhưng ông V1 xác định diện tích đất tăng thêm 458,5m², đo đạc thực tế là 464,7m² là tài sản chung của vợ chồng ông V1 nên ông V1 yêu cầu chia đôi tài sản và yêu cầu nhận hiện vật. Đối với diện tích đất 2.600m² còn lại là tài sản riêng của bà Y, ông V1 đồng ý nhận công sức đóng góp số tiền 70.000.000 đồng do bà Y hoàn trả. Lý do vào năm 2002 ông V1 có xây dựng hàng rào lưới B40 bao quanh đất với các hộ xung quanh nên làm tăng diện tích đất ở thửa 114c, do đó khi cấp đổi thửa 114c thành thửa 78 đã tăng diện tích đất lên 458,5m², đồng thời trong quá trình sử dụng đất ông V1 và bà Y có cải tạo đất.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là Luật sư Tạ Quốc D1 trình bày, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông Lê Anh V1, sửa bản án sơ thẩm, quyết định phần đất tăng thêm diện tích 458,5m², đo đạc thực tế là 464,7m² thuộc một phần của thửa đất số 78 là tài sản chung của vợ chồng ông V1 và bà Y, đề nghị chia đôi tài sản, chia cho ông V1 được nhận hiện vật, ông V1 đồng ý trả giá trị tài sản cho bà Y, ông V1 đồng ý nhận công sức đóng góp số tiền 70.000.000 đồng do bà Y hoàn trả.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Anh V1 không bổ sung ý kiến.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày tranh luận, đối đáp, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông V1, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bởi lẽ, đất tranh chấp là của cụ L, năm 1999 cụ L chết, năm 2000 bà Y được thừa kế diện tích đất 5.900m² của cụ L, bà Y đã tặng cho con phần đất lúa, còn lại 2.600m² gồm 300m² đất ở nông thôn và 2.300m² đất trồng cây lâu năm. Về thửa đất số 78 tranh chấp được chuyển từ cụ L sang cho bà Y, về vị trí đất không thay đổi, vợ chồng bà Y và ông V1 không mở rộng hay tạo ra thêm. Phần đất này thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất thổ và đất trồng cây lâu năm, cụ L đã cải tạo và trồng cây, quá trình sử dụng đất chỉ trang trãi cho bằng phẳng. Việc ông V1 trình bày năm 2002 ông V1 xây dựng hàng rào lưới B40 bao quanh đất là không có, vì nếu có làm hàng rào thì đã không có sự việc tranh chấp ranh đất giữa bà Y và bà X, mà khoảng năm 2010 anh H con của bà Y là người làm hàng rào ở các cạnh còn lại của thửa đất.
Bà Nguyễn Thị Hồng Y không bổ sung ý kiến.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là Luật sư Lê Thành T đối đáp: Trường hợp Tòa án xác định phần đất tăng thêm diện tích 458,5m², đo đạc thực tế là 464,7m² thuộc một phần của thửa đất số 78 không là tài sản chung của vợ chồng ông V1 thì nên chấp nhận cho ông V1 được sử dụng đất tranh chấp để ông V1 có điều kiện về chỗ ở và điều kiện sinh sống. Đất của bà Y có diện tích 2.600m², nhưng khi cấp đổi thành thửa 78 có diện tích 3.058,5m², Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ do đâu và tăng diện tích sau năm 2000. Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật. Vị trí tổng không thay đổi nhưng diện tích có thay đổi, có tăng diện tích đất, diện tích đất tăng thêm chưa xác định. Hàng rào xây dựng năm 2002 người làm chứng có khai nên người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Y cho rằng đất của bà L là không phù hợp.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý phúc thẩm và xét xử. Đơn kháng cáo của ông Lê Anh V1 nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ.
Về nội dung: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Anh V1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của ông Lê Anh V1 nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ.
[2] Xét kháng cáo của ông Lê Anh V1, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[2.1] Khi ly hôn, Ông Lê Anh V1 và bà Nguyễn Thị Hồng Y thống nhất thửa đất số 78, tờ bản đồ số 12, diện tích 3058,5m²; mục đích sử dụng: Đất ở 300m², Đất trồng cây lâu năm 2758,5m², tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Nguyễn Thị Hồng Y ngày 13/12/2021 là tài sản riêng của bà Y vì bà Y được hưởng thừa kế tài sản từ cụ Nguyễn Thị L là mẹ của bà Y vào năm 2000. Nhưng ông V1 yêu cầu bà Y trả công sức đóng góp bằng hiện vật là diện tích đất 464,7m2, trong phạm vi các mốc M9, M10, M11, M16, M15, trở về mốc M9, loại đất trồng cây lâu năm, thuộc một phần của thửa đất số 78 nêu trên, ông V1 đồng ý trả giá trị đất cho bà Y theo giá của Hội đồng định giá huyện L là 135.000 đồng/m². Bà Y không đồng ý trả công sức đóng góp là diện tích đất 464,7m² theo yêu cầu của ông V1, bà Y tự nguyện trả cho ông V1 công sức cải tạo đất số tiền 70.000.000 đồng.
[2.2] Về nguồn gốc thửa 78, ông V1 và bà Y thống nhất là của cụ L. Năm 1999 cụ L chết, năm 2000 bà Y làm thủ tục thừa kế tài sản của cụ L và ngày 20/4/2000 hộ bà Y được Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Đồng Tháp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 114c, tờ bản đồ 5a, diện tích 2.600m² gồm 300m² (ONT) và 2.300m² (CLN). Bà Y xin cấp đổi quyền sử dụng đất thửa số 114c và ngày 13/12/2021 bà Y được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 78 đang tranh chấp.
[2.3] Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của minh, ông V1 trình bày vào năm 1995, vợ chồng ông V1, bà Y về sống chung với mẹ của bà Y là cụ L và vợ chồng ông V1 đã trực tiếp sử dụng đất thửa 78. Quá trình sử dụng đất, vào năm 1997 ông V1 thuê ông L1, ông T, ông S lấy đất từ con sông lên đắp mương lạng, cải tạo vườn tạp, di dời gốc tre và đây là những người làm chứng cho ông V1 có công sức đóng góp bồi đắp thửa số 78 và năm 2002 ông V1 có xây dựng hàng rào lưới B40 quanh đất. Lời trình bày của ông V1 được bà Y thừa nhận và cũng phù hợp với lời khai của ông S, ông T. Ông T khai trước đây, không nhớ thời gian cụ thể ông T có 02 lần vác đất từ mé sông lên đắp con mương lạng ngay nhà máy xay xát của vợ chồng ông V1 hiện nay, mỗi lần làm thuê từ 3 – 4 ngày, tiền công có khi ông V1 trả, đôi khi bà Y cũng có trả. Ông S khai, khi ông V1 về huyện L ở nhà cụ L thì có thuê ông S cải tạo vườn tạp, bứng gốc tre vài lần, mỗi lần từ 5- 10 ngày. Nhưng bà Y cho rằng nguồn tiền trả chi phí san lấp, cải tạo đất là do bà Y và cụ L chi trả, hàng rào lưới B40 quanh đất do bà Y trả. Đối với ông L1 đã khai, ông L1 làm chứng cho ông V1 về việc ông V1 có công sức đóng góp về phần đất ruộng, phần đất cây lâu năm đang tranh chấp thì ông L1 không biết. Trong khi đó phần đất ông V1 đang tranh chấp mục đích sử dụng là đất trồng cây lâu năm, không phải đất lúa.
[2.4] Mặt khác, thửa đất số 78 khi cụ L kê khai đăng ký cấp quyền sử dụng đất là đất thổ (T) và đất trồng cây lâu năm (CLN), ông V1 về sống chung với bà Y tại nhà ở của cụ L vào năm 1995 đã được cụ L cho sử dụng diện tích trồng cây lâu năm, ông V1 và bà Y đã trồng xoài, sau đó có trồng một số loại cây khác để tạo ra thu nhập nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình ông V1, bà Y. Việc được sử dụng đất, cải tạo đất của ông V1 và bà Y nhằm làm tăng năng suất, sản lượng cây trồng và cải thiện kinh tế gia đình ông V1 thời điểm đó, không làm tăng giá trị đất. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông V1 yêu cầu bà Y trả công sức đóng góp của ông V1 vào tài sản riêng của bà Y là quyền sử dụng đất diện tích 464,7m² thuộc một phần của thửa đất số 78 do bà Y đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ.
[2.5] Tuy nhiên bà Y cũng thừa nhận trong quá trình sử dụng đất thửa số 78, ông V1 có cùng bà Y cải tạo đất, san lấp đất nên bà Y đồng ý trả công sức đóng góp cho ông V1 số tiền 70.000.000 đồng. Xét thấy việc bà Y đồng ý trả công sức đóng góp cho ông V1 số tiền 70.000.000 đồng là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật nên Tòa cấp cấp sơ thẩm chấp nhận sự tự nguyện của bà Y là có cơ sở.
[2.6] Do thửa đất số 78 là tài sản riêng của bà Y nên bà Y yêu cầu ông V1 giao trả diện tích đất 464,7m² thuộc một phần của thửa số 78 nêu trên là có căn cứ.
[2.7] Sau khi xét xử sơ thẩm, ông V1 kháng cáo yêu cầu cho ông V1 được hưởng công sức đóng góp là diện tích đất 464,7m² và trả giá trị đất cho bà Y theo giá của Hội đồng định giá đã kết luận về giá và có cung cấp bản trình bày ý kiến của người làm chứng Nguyễn Thanh L2, Tạ Thị K, Nguyễn Hữu T1, Trần Văn S1 là những người biết về nguồn gốc đất, được ông V1 thuê san lấp đất, cải tạo đất. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông V1 trình bày diện tích đất 464,7m² mà ông V1 yêu cầu được hưởng công sức đóng góp là tài sản chung của vợ chồng ông V1, bà Y, do vợ chồng ông V1 san lấp, cải tạo mới có được, diện tích đất 2.600m² còn lại mới là tài sản riêng của bà Y. Do đó ông V1 yêu cầu chia đôi tài sản chung là quyền sử dụng đất diện tích 464,7m² thuộc một phần của thửa đất số 78, ông V1 yêu cầu được nhận đất, đồng ý hoàn trả cho bà Y giá trị đất là 135.000 đồng/1m², diện tích đất 2.600m² còn lại ông V1 đồng ý nhận công sức đóng góp do bà Y tự nguyện hoàn trả số tiền 70.000.000 đồng.
[2.8] Bà Y không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông V1, không đồng ý diện tích đất 464,7m² là tài sản chung của vợ chồng, mà cho rằng diện tích đất tăng thêm là do thời điểm cụ L kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khi bà Y lập thủ tục thừa kế di sản của cụ L để lại không có đo đạc thực tế. Đến năm 2019 giữa bà Y và X phát sinh tranh chấp ranh giới đất, qua đo đạc thực tế thửa đất số 114c, diện tích 2.600m² của bà Y tăng diện tích so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp. Sau khi Tòa án xác định ranh giới đất xong, bà Y xin cấp đổi thửa đất số 114c thành thửa đất số 78, diện tích 3.058,5m² nhưng về ranh giới đất không thay đổi. Vợ chồng bà Y, ông V1 không có mở rộng đất, không tạo ra thêm đất nên diện tích đất 464,7m² không là tài sản chung của vợ chồng như người đại diện theo ủy quyền của ông V1 trình bày, bà Y không đồng ý chia tài sản theo yêu cầu cua ông V1.
[2.9] Xét thấy tại Tòa án cấp sơ thẩm, ông V1 và người đại diện theo ủy quyền của ông V1 đã trình bày, xác định thửa đất số 78 là tài sản riêng của bà Y. Ông V1 chỉ yêu cầu bà Y trả công sức đóng góp vào việc cải tạo đất, xây dựng hàng rào quanh thửa 78 là quyền sử dụng đất diện tích 464,7m², ông V1 đồng ý trả giá trị đất cho bà Y và yêu cầu của ông V1 không được Tòa án chấp nhận. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông V1 trình bày, xác định diện tích đất 464,7m² là tài sản chung của vợ chồng ông V1 nhưng chỉ trình bày mà không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Trong khi đó lời trình bày này không phù hợp với đơn khởi kiện của ông V1 và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của ông V1 tại Tòa án cấp sơ thẩm, không được bà Y thừa nhận nên không có cơ sở để xem xét. Mặt khác việc ông V1 yêu cầu chia đôi quyền sử dụng đất chưa được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết, bà Y cũng không đồng ý chia đôi tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 464,7m² theo yêu cầu của ông V1 nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.
[2.10] Mặc dù ông V1 kháng cáo có cung cấp người làm chứng chứng minh việc cải tạo và san lấp đất tranh chấp, nhưng chi phí thực tế cho việc cải tạo đất, san lấp đất theo lời trình bày của ông T, ông S1 không lớn và bà Y đã tự nguyện trả công sức đóng góp cho ông V1 số tiền 70.000.000 đồng, không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông V1 nên kháng cáo của ông V1 yêu cầu cho ông V1 được hưởng công sức đóng góp là diện tích đất 464,7m² và trả giá trị theo giá Hội đồng định giá không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[3] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn do phù hợp như đã nhận định trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[4] Xét đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn do chưa phù hợp như đã nhận định trên nên không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[5] Những ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Anh V1 do phù hợp như đã nhận định trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 147, Điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Anh V1.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 10/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Anh V1 về việc yêu cầu được chia công sức đóng góp diện tích đất 464,7m² trong phạm vi các mốc M9, M10, M11, M16, M15, trở về mốc M9 thuộc một phần của thửa đất số 78, tờ bản đồ số 12, mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, tại thị trấn huyện L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ bà Nguyễn Thị Hồng Y ngày 13/12/2021.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Hồng Y đồng ý trả công sức đóng góp cho ông Lê Anh V1 số tiền 70.000.000 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyết định chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Hồng Y.
Buộc ông Lê Anh V1 tháo dở, di dời toàn bộ hệ thống nhà máy X1 và toàn bộ công trình vật kiến trúc cây trồng có trên đất trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng Y diện tích đất 464,7m² trong phạm vi các mốc M9, M10, M11, M16, M15, trở về mốc M9 thuộc một phần của thửa đất số 78, tờ bản đồ số 12, mục đích sử dụng: Đất trồng cây lâu năm, tại thị trấn huyện L, huyện L, tỉnh Đồng Tháp, do hộ bà Nguyễn Thị Hồng Y đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
(kèm theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 23/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò và sơ đồ đo đạc hiện trạng đất tranh chấp số 09/SĐ. ĐĐ/CNVP.ĐKĐĐ huyện L, ngày 09/01/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L).
- Về án phí sơ thẩm: Ông Lê Anh V1 và bà Nguyễn Thị Hồng Y là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá: Ông Lê Anh V1 phải chịu 8.253.000 đồng. Số tiền này ông Lê Anh V1 đã tạm ứng và đã chi xong.
- Về án phí phúc thẩm: Ông Lê Anh V1 là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị theo quy định của pháp luật.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Thúy Hằng |
Bản án số 27/2024/HNGĐ-PT ngày 03/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn, đòi lại tài sản
- Số bản án: 27/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp chia tài sản khi ly hôn, đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Ly hôn, tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn” và “tranh chấp về quyền đòi lại tài sản”.
