Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIO LINH

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số:27/2024/HS-ST

Ngày 03/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà:ông Tạ Thanh Tuấn;
ông Lê Đình Luận;
Các hội thẩm nhân dân:bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thanh Tùng – Thư ký TAND huyện Gio Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Sỹ - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Gio Linh mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 29/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2023, đối với bị cáo:

Bùi Văn P

(tên gọi khác: M), sinh ngày 15/8/1991 tại tỉnh Quảng Trị; nơi ĐKNKTT: khu phố E, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; chỗ ở: thôn X, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: phụ xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H và bà Trần Thị T; vợ: Đinh Thị T1 (đã ly hôn năm 2022); con: 02 người (nhỏ sinh năm 2013, lớn sinh năm 2018);

Tiền án: có 02 tiền án;

  • - Ngày 10/12/2020, bị Tòa án nhân dân (TAND) huyện V, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm tại Bản án hình sự số 27/2020/HSST xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 23/4/2021, chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích.
  • - Ngày 20/12/2022, bị TAND thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm tại Bản án hình sự số 126/2022/HSST xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 31/8/2023, chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • - Ngày 07/9/2007, bị Công an phường C, thị xã Đ (nay thành phố Đ), tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 50.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 27/9/2007.
  • - Ngày 18/02/2008, bị Công an phường C, thị xã Đ (nay thành phố Đ), tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính 100.000 đồng về hành vi đốt các loại pháo trái pháp luật.
  • - Ngày 14/8/2009, bị TAND thị xã Đông Hà (nay thành phố Đ), tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm tại Bản án hình sự số 60/2009/HSST xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 14/4/2010 chấp hành xong, đã được xóa án tích.
  • - Ngày 15/12/2016, bị TAND thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm tại Bản án hình sự số 80/2016/HSST xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 24/3/2017 chấp hành xong, đã được xóa án tích.
  • - Ngày 15/02/2022, bị Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt hành chính 3.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong ngày 05/4/2022.
  • - Ngày 11/4/2024, bị Công an phường A1, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • - Ngày 10/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị khởi tố vụ án, bị can đối với Bùi Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt Tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Q từ ngày 12/3/2024 cho đến nay; có mặt.

* Người bị hại: bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị; có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Bùi Ngọc A, sinh năm 1967; trú tại: Thôn X, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

Ông Trương S, sinh năm 1956; trú tại: Khu phố H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

* Người làm chứng:

Bà Trần Thị T, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

Ông Bùi Văn H, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn X, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 25/02/2024, bà Nguyễn Thị T2 (sinh năm 1975, trú tại thôn X, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị) điều khiển xe mô tô hiệu Daehan, biển kiểm soát (BKS) 74F2-2059 của mình đi đến nhà vợ chồng anh Bùi Đình H1 (sinh năm 1961), chị Trần Thị T (sinh năm 1967, cùng trú tại thôn X, xã T, huyện G). Khi đến thì tắt máy (không rút chìa khóa ra khỏi ổ khóa xe) dừng ở mép đường bên phải, gần cổng phía bên phải ngôi nhà, đi bộ vào trong sân gặp và nói chuyện với chị T, thì thấy Bùi Văn P (con trai anh H1, chị T) đi bộ từ trong nhà ra cổng, rồi ngồi lên xe mô tô của chị T2 khởi động máy, điều khiển xe bỏ chạy. Chị T2 hô hoán, đuổi theo nhưng không kịp. Khoảng 14 giờ cùng ngày, P đem xe mô tô chiếm đoạt được, bán cho ông Trương S (sinh năm 1956, trú tại khu phố H, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, làm nghề buôn bán phế liệu) với giá 700.000 đồng. Số tiền này, P đã tiêu xài cá nhân hết.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 08/KL-ĐGTS ngày 12/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện G, kết luận: “Xe mô tô hiệu Daehan, số loại II, màu sơn nâu, BKS 74F2-2059 tại thời điểm ngày 25/02/2024 trị giá 1.000.000 đồng”.

Bản cáo trạng số 29/CT-VKS-GL ngày 24/5/2024 của VKSND huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Bùi Văn P về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 172 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

* Về trách nhiệm hình sự:

  • - Tuyên bố: bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”.
  • - Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 172; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn P từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/3/2024.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường 1.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị T2, bị hại đã nhận đủ, không yêu cầu gì thêm nên không đề nghị HĐXX xem xét.

* Về xử lý vật chứng: Sau khi mua xe từ bị cáo, ông S tháo rời, bán phế liệu, các bên không có yêu cầu gì thêm nên không đề nghị HĐXX xem xét..

* Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, tỉnh Quảng Trị, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; người bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: tại phiên toà hôm nay, bị hại vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập tham gia phiên toà nhưng tất cả các người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên toà; tuy nhiên, quá trình điều tra đã thu thập đầy đủ lời khai và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì; việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến kết quả xét xử vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 293 BLTTHS Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.

[3] Nội dung vụ án và xác định tội danh:

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 25/02/2024, bà Nguyễn Thị T2 điều khiển xe mô tô hiệu Daehan, biển kiểm soát (BKS) 74F2-2059 của mình đi đến nhà vợ chồng ông Bùi Đình H1 và bà Trần Thị T tại thôn X, xã T, huyện G và để chiếc xe mô tô ở mép đường bên phải, gần cổng phía bên phải ngôi nhà cách chổ bà T2 đứng khoản 15m, ổ khóa cắm sẵn chìa khóa. Khi bà T2 đang đứng nói chuyện với bà T, Bùi Văn P đứng ở trong nhà thấy bà T2 để xe mô tô sơ hở, bản thân do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. P đi bộ từ trong nhà ra cổng, rồi ngồi lên xe mô tô của bà T2 khởi động máy, điều khiển xe bỏ chạy. Bà T2 hô hoán, đuổi theo nhưng không kịp. Khoảng 14 giờ cùng ngày, P đem xe mô tô chiếm đoạt được, bán cho ông Trương Sum t tại khu phố H, phường E, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị với giá 700.000 đồng, số tiền này P đã tiêu xài cá nhân hết. Tài sản có giá trị tại thời điểm bị cáo chiếm đoạt là 1.000.000 đồng.

Mặc dù tài sản bị cáo chiếm trị giá dưới 2.000.000đ tuy nhiên bị cáo có 02 tiền án bị xét xử tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nên hành vi trên của bị cáo đã cấu thành tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 172 của Bộ luật hình sự.

Bản cáo trạng số 29/CT-VKS-GL ngày 24/5/2024 của VKSND huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Bùi Văn P về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 172 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo Bùi Văn P là người có nhân thân xấu: Ngày 14/8/2009, bị TAND thị xã Đông Hà (nay thành phố Đ), tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm tại Bản án hình sự số 60/2009/HSST xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 14/4/2010 chấp hành xong, đã được xóa án tích, ngày 15/12/2016, bị TAND thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm tại Bản án hình sự số 80/2016/HSST xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 24/3/2017 chấp hành xong, đã được xóa án tích. Bị cáo đã từng nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi trộm cắp tài sản, đốt các loại pháo trái pháp luật, tàng trữ trái phép chất ma túy, sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 10/5/2024, bị cáo bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị khởi tố vụ án, bị can đối với Bùi Văn P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo đang có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản: Ngày 10/12/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm tại Bản án hình sự số 27/2020/HSST xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 23/4/2021, chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích; ngày 20/12/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm tại Bản án hình sự số 126/2022/HSST xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 31/8/2023, chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích.

Lẽ ra, sau khi chấp hành xong các hình phạt bị cáo phải lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện để trở thành công dân tốt. Ngược lại, với lối sống buông thả, muốn hưởng thụ, sau khi chấp hành xong hình phạt về địa phương sinh sống, vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân mà bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới. Qua đó, thể hiện sự coi thường pháp luật; không ăn năn, hối cải của bị cáo.

Hành vi nêu trên của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự, trị an trên địa bàn; gây hoang mang lo lắng cho bà con nhân dân. Vì vậy, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5.1] Tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5.2] Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo; đã bồi thường đầy đủ thiệt hại theo yêu cầu của bị hại; bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

[6] Về hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần chấp nhận ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự xử phạt bị cáo trong khoảng từ 09 tháng đến 12 tháng tù là đủ tác dụng cải tạo, giáo dục trực tiếp đối với bị cáo đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 172 BLHS thì thấy rằng, bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Các vấn đề liên quan:

Trong vụ án này, ông Trương S đã mua xe mô tô của bị cáo chiếm đoạt với giá 700.000 đồng nhưng không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường 1.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị T2, bị hại đã nhận đủ, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng: Sau khi mua xe từ bị cáo, ông S tháo rời, bán phế liệu, các bên không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

[11] Áp dụng biện pháp ngăn chặn: Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử ban hành quyết định tạm giam mới đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 172; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về tội danh: tuyên bố bị cáo Bùi Văn P phạm tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản".
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt bị cáo Bùi Văn P 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/3/2024.

  3. Về án phí: bị cáo Bùi Văn P phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo đối với bản án:

    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết; riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - VKSND huyện Gio Linh;
  • - Công an huyện Gio Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Gio Linh;
  • - Bị cáo; bị hại; người CQLNVLQ;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Lưu HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tạ Thanh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ về vụ án hình sự về tội "công nhiên chiếm đoạt tài sản"

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Công nhiên chiếm đoạt tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIO LINH, TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Ph Công nhiên chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger