Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN BIÊN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 27/2024/HS-ST

Ngày 03-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kim Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hữu Nghĩa;
  2. Bà Nguyễn Thị Thân.

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trung Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Lê Đăng Kha – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2024/TLHS-ST ngày 07 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Thị B, sinh năm 1983 tại Campuchia; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Trần Thị H; bị cáo có chồng tên Nguyễn Chí T1 (đã ly hôn) và 02 người con; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự, tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5627/QĐ-XPVPHC ngày 19/10/2023 của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Tây Ninh xử phạt Nguyễn Thị B số tiền 20.000.000 đồng về hành vi “buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu có số lượng từ 300 bao đến dưới 500 bao”, đã nộp phạt ngày 06/11/2023, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; nhân thân: Bản án Hình sự sơ thẩm số 47/2015/HSST ngày 28/8/2015 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B 30.000.000 đồng về tội “Buôn lậu”, đã chấp hành xong và được xóa án tích; tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng số 50/QĐ-XPHC ngày 22/01/2014 của Ủy ban nhân dân thị xã T xử phạt Nguyễn Thị B số tiền 25.000.000 đồng, đã nộp phạt và hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị tạm giữ ngày 01/12/2023 đến ngày 04/12/2023 chuyển tạm giam đến ngày 06/3/2024 được thay thế biện pháp bảo lĩnh, ngày 07/3/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.

2. Nguyễn Văn B1, sinh năm 1994 tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P và bà Đặng Kim L; có vợ tên Ngô Thị Diễm N và 02 người con; tiền án, tiền sự: không có; bị tạm giữ ngày 01/12/2023 đến ngày 04/12/2023 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị B: luật sư Nguyễn Thị M - Công ty L1 và cộng sự - thuộc Đoàn luật sư tỉnh T; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị B không có nghề nghiệp ổn định nên đã nảy sinh ý định mua thuốc lá điếu nhập lậu từ Campuchia đem về Việt Nam bán lại cho các tiệm tạp hóa trên địa bàn huyện T, mỗi cây thuốc lá khi mua về bán cho tiệm tạp hóa bị cáo B lời 5.000 đồng. Bé quen biết với một số người Campuchia nên họ giới thiệu người đàn ông tên B2 (không rõ họ tên, địa chỉ) bán thuốc lá điếu nhập lậu cho B.

Khoảng 03 giờ ngày 01/12/2023, Bé liên hệ qua điện thoại với B2 thỏa thuận mua 280 cây thuốc lá điếu nhập lậu (2.800 bao loại 20 điếu/bao), gồm 80 cây thuốc lá hiệu Jet và 200 cây thuốc lá hiệu Hero với giá tiền là 41.200.000 đồng (cụ thể 165.000 đồng/cây thuốc lá hiệu Jet và 140.000 đồng/cây thuốc lá hiệu Hero). Thống nhất địa điểm giao nhận tại đường nhựa gần kho Trâm K đi vào khoảng 01 km, thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Sau đó, B điều khiển xe mô tô hiệu Lead, biển số 54Y6-3240, chạy từ nhà đến địa điểm thỏa thuận gặp B2 nhận thuốc lá và trả tiền. Bé gọi điện thoại cho Nguyễn Văn B1 đến nhà B lấy xe mô tô hiệu Lead, biển số 70G1-447.03, chạy đến địa điểm nhận thuốc để cùng với B chở thuốc về và thỏa thuận trả tiền công cho B1 là 50.000 đồng, B1 biết Bé mua bán thuốc lá điếu nhập lậu và đồng ý vận chuyển thuốc lá về cùng B. Khi đến nơi, B1 chở 160 cây thuốc, B chở 120 cây thuốc chạy về nhà Bé. Khi B và B1 điều khiển xe chạy được khoảng 02 km đến tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh thì bị lực lượng Công an xã T kiểm tra bắt quả tang vào lúc 04 giờ cùng ngày. Thu giữ 800 bao thuốc lá hiệu Jet và 2000 bao thuốc lá hiệu Hero cùng nhiều tài sản khác.

Trong quá trình điều tra, Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn B1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.

* Kết quả giám định:

Tại Kết luận giám định số: 2018 ngày 29/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:

  • - Xe mô tô HONDA Lead, biển số 70G1-44703, số máy: JF45E0678774, số khung: RLHJF4514FY629072: số khung và số máy không bị đục xóa.
  • - Xe mô tô HONDA Lead, biển số 54Y6-3240: số khung và số máy bị đục xóa, không xác định được số nguyên thủy.
  • * Kết quả thu giữ vật chứng: 2.000 (hai nghìn) bao thuốc lá điếu hiệu Hero (loại 20 điếu/bao); 800 (tám trăm) bao thuốc lá điếu hiệu Jet (loại 20 điếu/bao); 01 (một) xe mô tô hiệu Lead, màu xanh, biển số 54Y6-3240, không có số khung, số máy, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô hiệu Lead, màu đen, biển số 70G1-44703, số khung RLHJF4514FY629072, số mấy JF45E-0678774, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, số sê ri 354275386485189, bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia TA-1400, màu đen, số Imei 1 359952646424175, đã qua sử dụng.
  • * Kết quả kê biên tài sản:
  • Nguyễn Thị B có đứng tên quyền sử dụng thửa đất số 180, tờ bản đồ số 32, diện tích 179m² tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh nhưng đang thế chấp tại Ngân hàng N1 Chi nhánh huyện T nên không tiến hành kê biên.
  • Nguyễn Văn B1 không có tài sản riêng có giá trị nên không tiến hành kê biên.

Bản cáo trạng số 18/CT-VKSTB ngày 07 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Thị B và Nguyễn Văn B1 về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị B và Nguyễn Văn B1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm” và đề nghị:

  • - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
  • - Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B1 từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
  • - Căn cứ khoản 4 Điều 190 của Bộ luật Hình sự: phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị B số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn B1.
  • * Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  • Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Người bào chữa cho bị báo Nguyễn Thị B: thống nhất với tội danh Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo B. Bị cáo B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Gia đình bị cáo B rất khó khăn, bị cáo và chồng đã ly hôn, bị cáo phải nuôi hai con nhỏ sinh năm 2018, 2019 và mẹ già hơn 80 tuổi. Bị cáo B không có nghề nghiệp, không có điều kiện lo cho gia đình nên bị cáo mới thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, mong Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt nhẹ nhất đối với bị cáo để bị cáo có điều kiện lo cho mẹ già, con nhỏ.

Lời nói sau cùng: bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn B1 xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Hành vi của các bị cáo thể hiện:

[2.1] Vào lúc 04 giờ 00 phút, ngày 01/12/2023, tại khu vực ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, Công an xã T bắt quả tang các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn B1 đang vận chuyển 2.800 bao thuốc lá điếu hiệu Hero và J từ khu vực biên giới về để bán lại kiếm lời. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn B1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.

[2.2] Bản cáo trạng số 18/CT-VKSTB ngày 07/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn B1 về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.

[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Các bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích vụ lợi, muốn có tiền tiêu xài nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa tội phạm.

Tính chất của đồng phạm, mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm:

Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc, cấu kết chặt chẽ. Bị cáo B giữ vai trò chính, là người trực tiếp mua thuốc lá để bán lại. Bị cáo B1 biết rõ mục đích bị cáo B mua thuốc lá điếu nhập lậu bán lại để kiếm lời và đồng ý giúp sức cho bị cáo B vận chuyển thuốc lá từ khu vực biên giới về để bán lại. Do đó, bị cáo B phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo B1.

[4] Khi quyết định hình phạt, cần xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn B1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Nhân thân: bị cáo Nguyễn Thị B đã bị kết án về tội “Buôn lậu” và xử phạt vi phạm hành chính về hành vi kinh doanh hàng cấm là thuốc lá điếu nhập lậu, do đó bị cáo Nguyễn Thị B có nhân thân xấu.

[5] Hình phạt áp dụng:

[5.1] Bị cáo Nguyễn Thị B đã từng bị kết án về tội “Buôn lậu” và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi buôn bán thuốc lá điếu. Xét thấy, hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Thị B và Nguyễn Văn B1 nhằm mục đích thu lợi bất chính, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, tuy nhiên số tiền thu lợi không lớn (bị cáo B lời 5.000 đồng/cây thuốc lá, bị cáo B1 tiền công 50.000 đồng/lần vận chuyển). Bị cáo Nguyễn Thị B có tài sản là Quyền sử dụng đất diện tích 179m², thửa đất số 180, tờ bản đồ số 32 tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo Nguyễn Văn B1 nộp cho Tòa án sổ tiết kiệm có kỳ hạn số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, Chi nhánh T2 – Phòng G; thể hiện các bị cáo B và B1 có khả năng tài chính đảm bảo cho việc thi hành án. Mặt khác, trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Thị B đã bị tạm giữ, tạm giam 03 tháng 05 ngày; bị cáo Nguyễn Văn B1 có nhân thân tốt nên Hội đồng xét xử nhận thấy áp dụng hình phạt tiền quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, cũng đảm bảo mục đích trừng trị về kinh tế qua đó giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Do đó, không chấp nhận đề nghị áp dụng hình phạt tù có thời hạn của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo.

[5.2] Bị cáo Nguyễn Văn B1 có nhân thân tốt, có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu với vai trò giúp sức không đáng kể. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự khi quyết định mức hình phạt đối với bị cáo B1.

[5.3] Hình phạt bổ sung: bị cáo Nguyễn Thị B và Nguyễn Văn B1 đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5.4] Tạm giữ sổ tiết kiệm có kỳ hạn số LA 5515765 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, Chi nhánh T2 – Phòng G, đứng tên Nguyễn Văn B1, số tiền giao dịch là 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng, phát hành vào ngày 02/5/2024. Chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo Nguyễn Văn B1.

Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để đảm bảo thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự;

Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.

[6] Đối với người tên “Bách” bán thuốc lá điếu cho Nguyễn Thị B do chưa xác định được nhân thân, địa chỉ nên chưa làm việc được, khi nào làm rõ có căn cứ sẽ xử lý sau.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - 2.000 (hai nghìn) bao thuốc lá điếu hiệu Hero (loại 20 điếu/bao); 800 (tám trăm) bao thuốc lá điếu hiệu Jet (loại 20 điếu/bao) là hàng cấm nên cần tịch thu tiêu hủy;
  • - Bị cáo Nguyễn Thị B bị tạm giữ: 01 (một) xe mô tô hiệu Lead, màu xanh, biển số 54Y6-3240, không có số khung, số máy, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô hiệu Lead, màu đen, biển số 70G1-44703, số khung RLHJF4514FY629072, số mấy JF45E-0678774, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, số sê ri 354275386485189, bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng. Bị cáo Nguyễn Văn B1 bị tạm giữ 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia TA-1400, màu đen, số Imei 1 359952646424175, đã qua sử dụng. Các bị cáo Nguyễn Thị B và Nguyễn Văn B1 dùng các tài sản nêu trên làm phương tiện để vận chuyển và liên lạc mua bán thuốc lá điếu nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[8] Về án phí: bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn B1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại các Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn B1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

1.1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B số tiền 120.000.000 (một trăm hai mươi triệu) đồng, sung vào ngân sách nhà nước.

1.2. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B1 số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, sung vào ngân sách nhà nước.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

01 (một) xe mô tô hiệu Lead, màu xanh, biển số 54Y6-3240, không có số khung, số máy, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô hiệu Lead, màu đen, biển số 70G1-44703, số khung RLHJF4514FY629072, số máy JF45E-0678774, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, số sê ri 354275386485189, bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Thị B. 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia TA-1400, màu đen, số Imei 1: 359952646424175, đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Văn B1.

Tịch thu tiêu hủy:

2.000 (hai nghìn) bao thuốc lá điếu hiệu Hero (loại 20 điếu/bao); 800 (tám trăm) bao thuốc lá điếu hiệu Jet (loại 20 điếu/bao).

(Vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/3/2024).

3. Tạm giữ sổ tiết kiệm có kỳ hạn số LA 5515765 tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q, Chi nhánh T2 – Phòng G, đứng tên Nguyễn Văn B1, số tiền giao dịch là 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng, phát hành vào ngày 02/5/2024. Chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án của bị cáo Nguyễn Văn B1.

Trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án thì Chấp hành viên xử lý tiền, tài sản đó để đảm bảo thi hành án theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự;

Trường hợp người phải thi hành án đã tự nguyện thi hành án xong thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định trả lại tiền, tài sản tạm giữ theo quy định tại đoạn 1 khoản 1 Điều 126 của Luật Thi hành án dân sự.

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc các bị cáo Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn B1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1);
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKDND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - Phòng KTNV và THA -TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Biên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Biên;
  • - Cơ quan THAHS;
  • - Phòng PV06-Công an Tây Ninh;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Tân Biên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ




Nguyễn Thị Kim Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về hình sự sơ thẩm (buôn bán hàng cấm)

  • Số bản án: 27/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Buôn bán hàng cấm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: truy tố xét xử về hành vi mua bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger