TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/KDTM-ST Ngày 23-6-2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trịnh Văn Lực
2. Ông Nguyễn Văn Hoàn
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 11/2025/TLST-KDTM ngày 14/02/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-KDTM ngày 13/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP P; Trụ sở chính: Tòa nhà T, số A T, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Vũ Văn Q, sinh năm; 1983; địa chỉ: Tòa nhà T, số A T, phường T, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh- là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 4101/2025/UQ-OCB ngày 20/01/2025). Có mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH T1; Trụ sở: 120 đường D Khu tái định cư, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị Thu N, sinh năm 1985; địa chỉ: 8 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh- là người đại diện theo ủy quyền (Văn ban ủy quyền ngày 06/3/2025). Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Bá C, sinh năm 1982 và bà Hoàng Thị V, sinh năm 1980; Cùng thường trú: 44/4A đường A, tổ E, Khu phố H, Phường E, quận G, Thành phố H. Cùng địa chỉ liên hệ: Số B đường T, Khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 20/01/2025 và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Ngân hàng TMCP P (gọi tắt là T1) với Công ty TNHH T1 (gọi tắt là Công ty T1) đã thỏa thuận ký kết Hợp đồng tín dụng số ST24014735/2024/HĐTD-OCB-DN ngày 02/05/2024 và Khế ước nhận nợ số ST24014735.01/2024/KUNN-OCB-DN ngày 28/05/2024 theo đó: số tiền vay: 6.000.000.000 đồng; Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ hoạt động kinh doanh bán buôn máy móc, thiết bị điện; Thời hạn vay: 09 tháng; Lãi suất vay trong hạn: 9,95%/năm, lãi suất được điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần; Lãi suất quá hạn: Bằng 150% lãi suất vay trong hạn; Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm.
Để đảm bảo cho khoản vay nêu, OCB và ông Nguyễn Bá C, bà Hoàng Thị V đã ký kết Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số ST24014735/2024/BĐ ngày 25/05/2024, số công chứng 2482 tại Văn phòng C1, tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất thuộc thửa đất số: 1007, tờ bản đồ số: 37, tọa lạc phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 127468, số vào sổ cấp GCN: CH 07269 do U, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/10/2014.
OCB đã giải ngân cho Công ty T1 đầy đủ số tiền vay 6.000.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ số ST24014735.01/2024/KUNN-OCB-DN ngày 28/05/2024. Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, Công ty T1 Thành chỉ mới thanh toán được 197.700.184 đồng tiền lãi, trong đó bao gồm: tiền lãi trong hạn 197.508.851 đồng, tiền lãi chậm trả 191.333 đồng. Công ty T1 Thành bắt đầu vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 25/10/2024 đến nay. Vì vậy, OCB khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc Công ty T1 thanh toán một lần toàn bộ cho Ngân hàng TMCP P tổng số nợ của hợp đồng tín dụng số ST24014735/2024/HĐTD-OCB-DN ngày 02/05/2024 và khế ước nhận nợ số ST24014735.01/2024/KUNN-OCB-DN ngày 28/05/2024 tạm tính đến ngày 23/6/2025 là 6.557.241.370 đồng; trong đó: Nợ gốc 6.000.000.000 đồng, lãi trong hạn 256.945.943 đồng, lãi quá hạn 287.815.068 đồng, phạt chậm trả lãi 12.480.359 đồng và tiền lãi, phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng/khế ước nhận nợ đã ký kết từ ngày 24/6/2025 cho đến khi Công ty T1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ vay cho OCB.
- Nếu Công ty T1 T không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng TMCP P được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số ST24014735/2024/BĐ ngày 25/05/2024 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
* Đối với bị đơn bị đơn Công ty T1: Trong quá trình tố tụng, bị đơn Công ty T1 đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập tham gia xem xét, thẩm định tại chỗ, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng người đại diện hợp pháp của Công ty T1 vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai, chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/4/2025 và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Bá C trình bày:
Trước đây ông Nguyễn Bá C có thỏa thuận với công ty T1 T do bà Lê Thị Thu N làm giám đốc về việc đưa tài sản của ông Nguyễn Bá C vào Công ty T1 để góp vốn làm ăn. Lúc đó, bà N có cam kết với ông Nguyễn Bá C đưa tài sản vào thế chấp cho OCB, 6 tháng sẽ rút tài sản ra trả lại cho ông C. Từ tháng thứ 4 kể từ sau khi ký hợp đồng thế chấp, công ty vi phạm nghĩa vụ thanh toán với T1 thì ông Nguyễn Bá C đã nhiều lần gặp bà N và OCB yêu cầu thanh toán nợ cho OCB để ông C rút tài sản ra. Công ty T1 hiện nay đã thay đổi người đại diện theo pháp luật, bà N không còn là người đại diện theo pháp luật của Công ty T1 T nữa, ông C không biết người đại diện theo pháp luật mới của Công ty T1 là ai. Ông C xác nhận vợ chồng ông Nguyễn Bá C có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số ST24014735/2024/BĐ ngày 25/05/2024, số công chứng 2482 tại Văn phòng C1, theo đó vợ chồng ông Nguyễn Bá C có thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất tọa lạc tại thửa đất số 1007, tờ bản đồ số 37, tọa lạc phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 127468, số vào sổ GCN: CH 07269 do Ủy ban nhân dân Quận U, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/10/2014, để bảo lãnh khoản vay cho Công ty T1. Nay Công ty T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì ông C yêu cầu Công ty T1 phải trả nợ cho OCB đúng cam kết để giải chấp tài sản cho vợ chồng ông C, nếu không trả nợ thì ông C đồng ý để Ngân hàng phát mãi tài sản và ông C sẽ gửi đơn yêu cầu Công an hoặc Tòa án giải quyết để đòi lại quyền lợi cho vợ chồng ông.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn Công ty TNHH T1 Thành đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định.
Về nội dung vụ án, xét thấy nguyên đơn và bị đơn có quan hệ hợp đồng tín dụng và nguyên đơn đã giải ngân số tiền vay 6.000.000.000 đồng. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả nợ và yêu cầu được phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Bị đơn Công ty T1 đã được tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa vào ngày 11/6/2025 và ngày 23/6/2025 nhưng người đại diện hợp pháp của bị đơn vắng mặt hai lần liên tiếp không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Giữa OCB và Công ty T1 có ký Hợp đồng tín dụng số ST24014735/2024/HĐTD-OCB-DN ngày 02/05/2024. Thực hiện theo hợp đồng, T1 đã giải ngân cho Công ty T1 số tiền vay 6.000.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ số ST24014735.01/2024/KUNN-OCB-DN ngày 28/05/2024. Xét Hợp đồng tín dụng đã ký giữa OCB với Công ty T1 T là đúng quy định nên phát sinh hiệu lực. Công ty T1 đã
nhận được số tiền vay theo hợp đồng nên có trách nhiệm trả tiền vay theo thoả thuận tại Điều 7 của Hợp đồng tín dụng.
- Theo trình bày của T1 trong quá trình tố tụng và tại phiên toà thì Công ty T1 chỉ mới thanh toán được cho OCB số tiền 197.700.184 đồng, trong đó bao gồm: Nợ gốc 0 đồng, nợ lãi 197.508.851 đồng, lãi phạt 191.333 đồng. Công ty T1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và bắt đầu phát sinh nợ quá hạn tại OCB kể từ ngày 28/02/2025. Còn nợ lại số tiền tạm tính đến ngày 23/6/2025 là 6.557.241.370 đồng; trong đó: Nợ gốc 6.000.000.000 đồng, lãi trong hạn 256.945.943 đồng, lãi quá hạn 287.815.068 đồng, phạt chậm trả lãi 12.480.359 đồng. Trong suốt quá trình tố tụng, bị đơn không có ý kiến hay cung cấp tài liệu chứng cứ để phản bác phần trình bày cũng như chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty T1 phải trả số tiền nợ còn thiếu tạm tính đến ngày 23/6/2025 là 6.557.241.370 đồng; trong đó: Nợ gốc 6.000.000.000 đồng, lãi trong hạn 256.945.943 đồng, lãi quá hạn 287.815.068 đồng, phạt chậm trả lãi 12.480.359 đồng.
- Về xử lý tài sản thế chấp: Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số ST24014735/2024/BĐ ngày 25/05/2024 giữa ông Nguyễn Bá Cường, bà Hoàng Thị V1 OCB – Chi nhánh Tân Bình để bảo đảm cho khoản vay của Công ty T1 – Chi nhánh Thành phố H. Tài sản thế chấp là thửa đất số 1007, tờ bản đồ số 37 diện tích 284,3m² đất trồng cây hàng năm khác, tọa lạc phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 127468, số vào sổ cấp GCN: CH 07269 do U, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/10/2014, cập nhật biến động cho ông Nguyễn Bá C ngày 22/09/2016. Hợp đồng thế chấp đã được ký kết giữa những người có thẩm quyền, không vi phạm điều cấm của Luật, không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực, bắt buộc các bên phải tôn trọng thực hiện. Tại Điều 299 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm: “Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Trong trường hợp này Công ty T1 T là bên có nghĩa vụ nhưng không thực hiện đúng nghĩa vụ nên OCB là bên nhận thế chấp yêu cầu được phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ chấp nhận.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: OCB đã nộp tạm ứng tại Tòa án nên Công ty T1 có trách nhiệm thanh toán lại cho OCB.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty T1 phải chịu án phí có giá ngạch được tính trên tổng số tiền phải trả cho OCB theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 100, 103 Luật các tổ chức tín dụng; các Điều 299 và 323 Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 92, 144, 147, 158, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP P đối với Công ty TNHH T1.
- Buộc Công ty TNHH T1 phải trả cho Ngân hàng TMCP P số tiền còn nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số ST24014735/2024/HĐTD-OCB-DN ngày 02/05/2024 và Khế ước nhận nợ số ST24014735.01/2024/KUNN-OCB-DN ngày 28/05/2024, tính đến ngày 23/6/2025 là 6.557.241.370 đồng; trong đó: Nợ gốc 6.000.000.000 đồng, lãi trong hạn 256.945.943 đồng, lãi quá hạn 287.815.068 đồng, phạt chậm trả lãi 12.480.359 đồng.
- Tiền lãi được tiếp tục tính từ ngày 24/6/2025 cho đến khi Công ty TNHH T1 trả xong khoản nợ theo mức lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng số ST24014735/2024/HĐTD-OCB-DN ngày 02/05/2024 và Khế ước nhận nợ số ST24014735.01/2024/KUNN-OCB-DN ngày 28/05/2024.
- Trường hợp Công ty TNHH T1 T không có khả năng thanh toán khoản nợ trên thì Ngân hàng TMCP P được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là:
- Thửa đất số 1007, tờ bản đồ số 37 diện tích 284,3m² đất trồng cây hàng năm khác, tọa lạc phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BV 127468, số vào sổ cấp GCN: CH 07269 do U, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/10/2014, cập nhật biến động cho ông Nguyễn Bá C ngày 22/09/2016 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số ST24014735/2024/BĐ ngày 25/05/2024
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Công ty TNHH T1 Thành phải chịu 2.000.000 (hai triệu) đồng và có trách nhiệm thanh toán lại cho Ngân hàng TMCP P.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH T1 Thành phải nộp 114.557.000 (một trăm mười bốn triệu năm trăm năm mươi bảy nghìn) đồng. Trả lại cho Ngân hàng TMCP P 57.088.508 (năm mươi bảy triệu không trăm tám mươi tám nghìn năm trăm lẻ tám) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0007709 ngày 12/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Thanh |
7
Bản án số 27/2025/KDTM-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 27/2025/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NH TMCP P kiện Công ty TNHH T1 về tranh chấp hợp đồng tín dụng
