TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HSST Ngày : 24/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Huỳnh Hoàng Phương;
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Trần Ngọc Oanh;
2/ Bà Nguyễn Thị Lành;
Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành Vinh là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Xuân Nhẫm là Kiểm sát viên;
Hôm nay, ngày 24 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 296/2024/HSST ngày 20 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: TRẦN QUỐC T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Không có nơi đăng ký thường trú; Chỗ ở: Không có nơi ở nhất định; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Trần Quốc V, sinh năm 1958 và bà Tiền Thị C, sinh năm 1968; Vợ, con: Chưa có;
Nhân thân:
- - Ngày 27/9/2004 bị Công an phường B, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh lập hồ sơ đưa vào Trung tâm Bảo trợ xã hội Chánh Phú H thuộc Sở Lao động Thương binh xã hội Thành phố H theo kế hoạch của UBND Thành phố H về quản lý người lang thang;
- - Ngày 01/11/2007 bị Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/4/2008;
- - Ngày 29/12/2017, bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 23 tháng, chấp hành xong ngày 22/9/2019;
- * Tiền án: Ngày 29/8/2014 bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/12/2016, chưa thi hành án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung;
- * Tiền sự: Ngày 22/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 tháng, chấp hành xong ngày 08/07/2022;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2024;
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 18/4/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T kết hợp Công an phường T, quận T kiểm tra hành chính Trần Thị Kim P điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Wave biển số: 61H2-8569 chở Trần Quốc T ngồi sau tại trước số A L, phường T, quận T. Qua kiểm tra, thu giữ trong túi nhỏ bên tay trái áo khoác T đang mặc có một (01) gói nylon được hàn kín, bên trong chứa tinh thể không màu nghi vấn là ma túy nên tiến hành thu giữ và đưa P, T về Công an phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh làm việc.
Tại Cơ quan điều tra Trần Quốc T khai nhận: Nguồn gốc số ma túy trên T mua của người đàn ông (không rõ lai lịch) tên là L với giá 200.000 đồng vào ngày 15/4/2024 tại bên hông nhà số A H, Phường A, Quận H. Mục đích T mua ma túy về để sử dụng, bản thân sử dụng ma túy được khoảng 01 năm, đây là lần thứ ba T mua ma túy của L. Khoảng 12 giờ ngày 18/4/2024 T đến phòng trọ số 12 nhà số A L, phường T, quận T của chị Nguyễn Thị Tuyết P1 để sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng xong, T bỏ gói ma túy còn lại vào trong túi áo nhỏ bên tay trái của áo khoác T mặc đồng thời giấu bộ sử dụng ma túy dưới chân ghế trong phòng trọ của P1. Sau đó T liên lạc cho em của T là chị Trần Thị Kim P đến chở T về, việc T tàng trữ trái phép chất ma túy không nói cho chị P biết. Sau đó, chị P điều khiển xe gắn máy biển số 61H2-8569 chở T về thì bị bắt giữ cùng tang vật.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Quốc T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Theo bản Kết luận giám định số 4932/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an Thành phố H: Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1793 gram, loại Methamphetamine (bút lục số 53);
* Vật chứng:
- - Một (01) gói niêm phong sau giảm định số (1513/24) có chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh T1; Cán bộ Nguyễn Hải T2;
- - Một (01) áo khoác dài tay màu đen, bên tay áo trái có 01 túi nhỏ, là trang phục T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội;
- - Một (01) điện thoại di động hiệu Oppo số Imei 1: 869347032546710; số Imei 2: 869347032546702;
- - Một (01) điện thoại di động hiệu Masstel số Imei 1: 358044846090385; số Imei 2: 358044846090393;
- Là các điện thoại T sử dụng để liên lạc cá nhân;
Hiện các đồ vật tài sản trên đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1191/LNK-ĐCSMT ngày 04/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSQTP ngày 18/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Quốc T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Quốc T theo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, đồng thời đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật;
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo rất hối hận về việc làm của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa sai, làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 18/4/2024, Trần Quốc T có hành vi tàng trữ trái phép 0,1793 gram ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine tại trước số A L, phường T, quận T thì bị bắt giữ cùng tang vật, hành vi của bị cáo đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được theo quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, Cáo trạng số 11/CT-VKSQTP ngày 18/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Ngoài ra còn làm gia tăng các tệ nạn xã hội và là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng và sự phát triển lành mạnh của giống nòi. Bản thân bị cáo nhận thức được ma túy tổng hợp là chất gây nghiện nguy hiểm, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng bị Nhà nước nghiêm cấm và bị trừng trị nghiêm khắc nhưng bị cáo vẫn cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của bị cáo;
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án tương xứng mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa chung trong xã hội.
Đối với đối tượng tên L bán ma túy cho T, do không biết rõ nhân thân lai lịch nên chưa làm việc được. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh, truy tìm khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Đối với chị Trần Thị Kim P không biết việc T tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đủ cơ sở để xử lý đối với chị P về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: : Ngày 29/8/2014 bị Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/12/2016, chưa thi hành án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này được xác định là “tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và trước phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[4] Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy một (01) gói niêm phong sau giảm định số (1513/24) có chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh T1 và cán bộ Nguyễn Hải T2; một (01) áo khoác dài tay màu đen, bên tay áo trái có một túi nhỏ;
- Trả cho bị cáo một (01) điện thoại di động hiệu Oppo số Imei 1: 869347032546710; số Imei 2: 869347032546702 và một (01) điện thoại di động hiệu Masstel số Imei 1: 358044846090385; số Imei 2: 358044846090393;
(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 1191/PNK-ĐCSMT ngày 04/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh).
[5] Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, khó có khả năng thi hành nên miễn cho bị cáo;
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
* Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt:
Trần Quốc T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/4/2024;
* Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106; Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a Khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tịch thu tiêu hủy một (01) gói niêm phong sau giảm định số (1513/24) có chữ ký của giám định viên Huỳnh Thanh T1 và cán bộ Nguyễn Hải T2; một (01) áo khoác dài tay màu đen, bên tay áo trái có một túi nhỏ;
Trả cho bị cáo một (01) điện thoại di động hiệu Oppo số Imei 1: 869347032546710; số Imei 2: 869347032546702 và một (01) điện thoại di động hiệu Masstel số Imei 1: 358044846090385; số Imei 2: 358044846090393;
(Tình trạng vật chứng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 1191/PNK-ĐCSMT ngày 04/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định pháp luật.
Hội đồng xét xử quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo việc thi hành án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Huỳnh Hoàng Phương |
Bản án số 27/2025/HSST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 27/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
