Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẦU GIẤY

THÀNH PHỐ HÀ NỘI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 27 /2025/HSST

Ngày: 24 tháng 02 năm 2025.

Trộm cắp tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Bà Đỗ Ngọc Thùy.
Các hội thẩm nhân dân:Ông Trần Trọng Dĩu
Ông Đỗ Quang Khánh
- Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Minh Quân – Thư ký viên.
- Đại diện VKSND quận Cầu Giấy tham gia phiên tòa:Bà Lê Huyền Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại Toà án nhân dân thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 13/2025/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2025/QĐXX-HSST ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Văn T; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2001, tại Hà Nội; Nơi thường trú: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Lê Văn T1, sinh năm 1975; Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1979; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án chưa được xóa án tích: Bản án số 190/2023/HSST ngày 21/11/2023, Tòa án nhân dân quận Tây Hồ xử 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ra trại ngày 21/01/2024; Bị cáo đầu thú ngày 31/10/2024. Tạm giữ ngày 01/11/2024. Hiện đang bị tạm giam Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần.

Bị hại: Chị Hán Thị N1, sinh năm 1979.

Nơi thường trú: Khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

Nơi ở hiện tại: Số A Chùa H, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn T và Nguyễn Tiến Đ (Sinh năm 2007, HKTT: Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội) là bạn bè cùng quê. Khoảng 13 giờ ngày 16/6/2024, Đ mượn xe máy Honda Wave Anpha (Không có biển kiểm soát) của anh Nguyễn Văn H (Sinh năm 2007, Thôn X, xã K, huyện S, thành phố Hà Nội) đi chơi. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Đ điều khiển chiếc xe trên đến nhà T tại thôn X, K, S, Hà Nội, rủ T đi trộm cắp tài sản. T đồng ý. Khoảng 23 giờ, T điều khiển xe máy chở Đ ngồi sau mang theo 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng có chữ ATC loại 12- 10 đi đến ngõ A đường X, Cầu G, Hà Nội. T và Đ nhìn thấy cuối ngõ chiếc xe máy Honda Wave A biển kiểm soát 19P1-404.72 của chị Hán Thị N1 (Sinh năm 1979, nơi thường trú: xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ) đang dựng, không có người trông giữ. T chở Đ đi mua dao lam để cắt dây điện xe máy. Mua được dao lam, cả hai quay lại. Lúc này, T đỗ xe máy cách chiếc xe máy của chị N1 khoảng 05 m để cảnh giới. Đ xuống xe đi bộ đến vị trí chiếc xe máy, dùng dao lam cắt dây và đấu điện để xe nổ thì bị anh Nguyễn Đình H1 (Sinh năm 1983, trú tại: Số B ngõ F T, phường D, quận C, thành phố Hà Nội) phát hiện, bắt quả tang. Thấy Đ bị bắt, T điều khiển xe chạy thoát về nhà anh H1, trả lại xe và bỏ trốn sang Bắc Ninh.

Tang vật vụ án thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Tiến Đ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave A màu xanh BKS 19P1-404.72, số khung: RLHJA3933 RY 001156, số máy: JA 70E0251748; 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng có chữ ATC loại 12-10; 01 giắc nối màu đen có một sợi dây điện bọc ngoài màu đỏ bị đứt rời; 01 hộp dao lam bên trong có 07 lưỡi dao.

Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận C số 224/KL- HÐÐGTS ngày 17/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận C kết luận: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave A màu xanh BKS 19P1-404.72, số khung: RLHJA3933 RY 001156, số máy: JA 70E0251748 (Đã qua sử dụng từ tháng 02/2024) trị giá: 19.670.000 đồng. (Mười chín triệu sáu trăm bảy mươi ngàn đồng) (BL 117-118).

Ngày 16/8/2024, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 200/2024/HSST, Nguyễn Tiến Đ đã bị Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy tuyên phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản. Ngoài ra, Tòa án còn tuyên tiêu hủy 01 cờ lê bằng kim loại màu trắng có chữ ATC loại 12-10, 01 giắc nối màu đen có một sợi dây điện bọc ngoài màu đỏ bị đứt rời, 01 hộp dao lam bên trong có 07 lưỡi dao. Đối với chiếc xe máy Honda Wave A màu xanh BKS 19P1-404.72, Cơ quan điều tra đã thu giữ và trả lại cho chị Hán Thị N1. Chị N1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu đề nghị gì.

Ngày 31/10/2024, Lê Văn T đến Công an phường D đầu thú.

Tại Cơ quan điều tra, ban đầu Lê Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình thể hiện qua Biên bản tiếp nhận người đầu thú, Đơn xin đầu thú, các bản kiểm điểm và những lời khai ban đầu khi cơ quan điều tra tiến hành ghi lời khai. Sau đó, T thay đổi lời khai, không thừa nhận hành vi trộm cắp cùng với Nguyễn Tiến Đ.

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy đã truy tố bị cáo Lê Văn Trọng phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai như nội dung cáo trạng đã truy tố và thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình cùng Nguyễn Tiến Đ. Bị hại chị Hán Thị N1 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, không có yêu cầu gì và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện VKSND quận Cầu Giấy thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các vấn đề khác, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Về dân sự: Bị hại chị Hán Thị N1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường, nên đề nghị HĐXX không xét.

Bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xác định có tội, bị cáo rất ăn năn về hành vi của mình, đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, qua xét hỏi và tranh luận, bị cáo Lê Văn T đều khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu thu thập được, Hội đồng xét xử kết luận:

Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 16/6/2024, tại cuối ngõ A đường X, phường D, quận C, thành phố Hà Nội, Lê Văn T đã thực hiện hành vi đứng cảnh giới cho Nguyễn Tiến Đ lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy Honda Wave A màu xanh, biển kiểm soát 19P1-404.72 trị giá 19.670.000 đồng (Mười chín triệu, sáu trăm bảy mươi nghìn đồng) của chị Hán Thị N1. Nguyễn Tiến Đ đã bị Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy xử 6 tháng tù nhưng cho hưởng án treo tại Bản án hình sự sơ thẩm số 200/2024/HSST ngày 16/8/2024.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Văn Trọng phạm T2 “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự như lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cầu Giấy là đúng người, đúng tội.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây mất trật tự trị an và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có năng lực hành vi hình sự đầy đủ, nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo và Đ bàn bạc đi trộm cắp và bị cáo thực hiện nhiệm vụ cảnh giới để Đ lén lút trộm cắp chiếc xe máy không người trông giữ của bị hại. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải có hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục với bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo 01 tiền án chưa được xóa án tích: Ngày 21/11/2023, Tòa án nhân quận T xử 6 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 21/01/2024, lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như trong quá trình điều tra, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải; Bị cáo đầu thú; Tài sản trộm cắp đã thu hồi trả cho bị hại; Bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nhưng bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích cũng về tội trộm cắp tài sản, chứng tỏ bị cáo đã được cơ quan pháp luật cải tạo, giáo dục nhưng không phục thiện, coi thường pháp luật, thể hiện nhân thân bị cáo xấu nên cần áp dụng mức hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo. Tuy nhiên, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ để giảm một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[5] Biện pháp tư pháp:

  • - Về vật chứng: Không có nên không xét.
  • - Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì khác nên không xét.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Văn Trọng phạm T2 “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự;

    Xử phạt:

    - Bị cáo Lê Văn T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/11/2024.

  3. Biện pháp tư pháp: Không xét.
  4. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

    Bị cáo Lê Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại Hán Thị N1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND quận Cầu Giấy;
  • - Công an quận Cầu Giấy;
  • - CC Thi hành án DS quận Cầu Giấy;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP/TA

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Ngọc Thùy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HSST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 27/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger