Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HSST

Ngày 09/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Vũ Văn Trung

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Ánh Hồng, bà Hoàng Thị Huyền

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: bà Bùi Thị Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Cảnh T (tên gọi khác: không), sinh ngày 16/3/1997; HKTT: xóm Đ, xã L, tỉnh Phú Thọ. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Cảnh H, sinh năm 1972 (đã chết) và bà Đinh Thị Đ, sinh năm 1972; vợ: Nguyễn Thị Y (đã ly hôn), con chưa có. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

- Quyết định số 3146 ngày 20/11/2011 của UBND huyện L, tỉnh Hoà Bình. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Trường G chấp hành là 24 tháng, đã chấp hành xong ngày 10/10/2013.

- Ngày 12/9/2019, bị Công an phường A, quận N, thành phố Cần Thơ xử phạt vi hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng với số tiền 750.000đ, đã nộp phạt xong ngay 05/11/2019.

- Bản án số 40/2020/HS-ST, ngày 29/5/2020 của Toà án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Hiếp dâm”. Đã chấp hành xong ngày 05/3/2022 (đã chấp hành xong toàn bộ bản án).

- Ngày 22/10/2025 bị xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000₫ về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý theo Quyết định số 40/QĐ-XPHC, ngày 22/10/2025 của Công an xã L, tỉnh Phú Thọ, đã nộp phạt ngày 23/10/2025.

Bị tạm giữ từ ngày 24/4/2025, chuyển tạm giam từ ngày 02/5/2025 đến nay bị dẫn giải có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: chị Trần Thị D, sinh năm 1995; HKTT: tổ dân phố H, phường T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (nay là: tổ dân phố H, phường T, tỉnh Thanh Hóa). Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1990; HKTT: tổ dân phố T, phường T, quận N, Thành phố Hà Nội (nay là: tổ dân phố T, phường T, Thành Phố Hà Nội). Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

+ Bà Đinh Thị Đ, sinh năm 1972; HKTT: xóm Đ, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là: xóm Đ, xã L, tỉnh Phú Thọ). Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Trần Thị D là bạn của Nguyễn Cảnh T, ngày 18/4/2025 D đến nhà anh Nguyễn Cảnh V, để chơi với Nguyễn Cảnh T và ăn cơm trưa ở đó. Sau khi căn cơm xong, khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, D ra lấy xe mô tô nhãn hiệu Honda SH 125i màu đen, BKS 36C1-44277 của mình để đi về thì Nguyễn Cảnh T không cho về, T lấy chìa khoá xe cất đi, giữa T và D xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau nên D đã nhắn tin cho bà Đinh Thị Đ mẹ của T lên để lấy giúp chìa khoá. Khi bà Đ lên tới nơi thì thấy T và D có biểu hiện giằng co với nhau, do sợ đụng vào xe dẫn đến hư hỏng nên bà Đ dắt xe mô tô của D xuống quán nước của mình ở gốc đa của xóm Đ. Còn chị D đã đi báo tổ an ninh trật tự của xóm để giải quyết. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, bà Đ điện thoại hỏi T chìa khoá xe để đâu, do T không muốn chị D đi về nên T nói là chìa khoá xe để trên nhà anh V, bà Đ đi lên nhà anh V để lấy chìa khoá xe. Lúc này T đi xuống quán nước nơi để xe mô tô Honda SH 125i màu đen, BKS 36C1-44277, do bực tức D và cần tiền để chi tiêu cá nhân, lợi dụng lúc không có ai trông coi, quản lý T đã lấy xe mô tô của chị D đi ra Hà Nội. Đến chiều ngày 18/4/2025, T mang xe mô tô HONDA HS125i, BKS: 36C1-44277 đến nhà anh Nguyễn Văn D1, sinh năm 1990, HKTT: Tổ dân phố T, phường N, Thành phố Hà Nội (nay là tổ dân phố T, phường T, thành phố Hà Nội) cầm cố để vay số tiền 35.000.000đ.

Đến ngày 22/4/2025, trên đường về khu trọ tại TDP T, phường N, thành phố Hà Nội (nay là TDP T, phường T, Tp Hà Nội) chị D phát hiện xe mô tô của mình đang ở tại nhà anh Nguyễn Văn D1. Sau khi hỏi anh D1, chị D mới biết T vay số tiền 35.000.000đ của D1 và để lại xe mô tô làm tin. Chị D đã báo cho Công an phường T để giải quyết. Ngày 24/4/2025 Nguyễn Cảnh T đã đến cơ quan Công an đầu thú.

Kết luận định giá tài sản số 60/KL-HĐĐGTS ngày 29/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Phú Thọ kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i, màu sơn đen, số khung 9508L011091, số máy JF95E0022110, biển kiểm soát 36C1-442.77, tình trạng đã qua sử dụng, trị giá là 45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu) đồng.

Cáo trạng số 14/CT-VKSLS, ngày 18 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Cảnh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, tỉnh Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Cảnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Về hình phạt chính: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh T từ 24 (hai mươi bốn) tháng tù đến 30 (Ba mươi) tháng tù.

* Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Về trách nhiệm dân sự: người bị hại chị Trần Thị D đã được trả lại chiếc xe mô tô HONDA SH125i, số khung 9508L011091, số máy JF95E0022110, BKS 36C1-442.77, chị D không yêu cầu gì thêm nên không đề nghị xử lý.

Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Cảnh T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn D1 số tiền 35.000.000đ. Xác nhận bà Đinh Thị Đ là mẹ bị cáo đã thay bị cáo bồi thường cho anh D1 15.000.000đ (Mười lăm triệu) đồng, số tiền đã được nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo Biên lai số: 0001466, ngày 04/12/2025. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho anh D1 số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu) đồng.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Đinh Thị Đ không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu) đồng, đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ để bồi thường thay cho bị cáo, nên không đề cập xử lý.

Về vật chứng: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i, màu sơn đen, số khung 9508L011091, số máy JF95E0022110, biển kiểm soát 36C1-442.77, tình trạng đã qua sử dụng. Cơ quan Điều tra Công an tỉnh P đã trả lại cho chị Trần Thị D nên không đề cập xử lý.

* Về án phí: buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an tỉnh P; của Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, tỉnh Phú Thọ trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 16 giờ 00 phút, ngày 18/4/2025 tại xóm Đ, xã L, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là xóm Đ, xã L, tỉnh Phú Thọ) Nguyễn Cảnh T, đã có hành vi lén lút lấy trộm 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH 125i màu đen, BKS: 36C1-442.77 của chị Trần Thị D. Sau khi lấy được xe mô tô của chị D, T điều khiển ra Hà Nội đặt để làm tin vay số tiền 35.000.000₫ của anh Nguyễn Văn D1.

Kết luận định giá tài sản số 60/KL-HĐĐGTS ngày 29/4/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Phú Thọ kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i, màu sơn đen, số khung 9508L011091, số máy JF95E0022110, biển kiểm soát 36C1-442.77, tình trạng đã qua sử dụng, trị giá là 45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu) đồng.

Bị cáo Nguyễn Cảnh T là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ; hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự trị an địa phương.

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 13, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Cảnh T về tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

- Bị cáo là người có nhân thân xấu: năm 2011 bị UBND huyện L áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G với thời gian 24 tháng, theo Quyết định số 3146 ngày 20/11/2011, đã chấp hành xong ngày 10/10/2013.

Năm 2019 bị Công an phường A, quận N, thành phố Cần Thơ xử phạt hành chính 750.000₫ về hành vi gây rối trật tự công cộng. Đã nộp phạt xong ngày 05/11/2019.

Năm 2020 bị Toà án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Hiếp dâm” theo Bản án số 40/2020/HS-ST, ngày 29/5/2020, chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 05/3/2022.

Trong quá trình điều tra vụ án, bị cáo đã khai nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và bị Công an xã L xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý với số tiền 1.500.000đ theo Quyết định số 40/QĐ-XPHC, ngày 22/10/2025.

- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo đã tác động để bà Đinh Thị Đ - mẹ bị cáo, tự nguyện bồi thường, khắc phục một phần thiệt hại; bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ bản án số 40/2020/HS-ST, ngày 29/5/2020 của Toà án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ và thuộc trường hợp đương nhiên được xoá án tích. Theo hướng dẫn tại điểm a khoản 9 Điều 2 Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP, ngày 30 tháng 9 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi hành vi phạm tội bị phát giác bị cáo đã tự nguyện ra trình diện tại cơ quan Công an và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bản thân bị cáo đang phải điều trị bệnh Lao phổi tại Bệnh viên đa khoa H1, thuộc sở y tế tỉnh P, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về mức hình phạt:

Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, không chịu tu dưỡng bản thân trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội; bị cáo không có nghề nghiệp và nơi cư trú ổn định do vậy cần có mức án phù hợp tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người lao động tự do, không có nghề nghiệp thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cấp xử lý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn D1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu) đồng. Xét yêu cầu của anh D1 là có căn cứ nên cần chấp nhận. Xác nhận bà Đinh Thị Đ đã thay bị cáo bồi thường cho anh D1 15.000.000đ, số tiền được nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo biên lai số 0001466, ngày 04/12/2025; bị cáo còn phải bồi thường cho anh D1 số tiền 20.000.000₫.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Đ không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 15.000.000đ nên không đề cập xử lý.

[7]. Về vật chứng của vụ án:

01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i, màu sơn đen, số khung 9508L011091, số máy JF95E0022110, biển kiểm soát 36C1-442.77, tình trạng đã qua sử dụng. Cơ quan Điều tra Công an tỉnh P đã trả lại cho chị Trần Thị D nên không đề cập xử lý.

[8]. Về án phí: bị cáo Nguyễn Cảnh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

[9]. Đối với anh Nguyễn Văn D1 khi nhận cầm cố xe mô tô nhãn hiệu HONDA SH125i, màu sơn đen, số khung 9508L011091, số máy JF95E0022110, biển kiểm soát 36C1-442.77 để cho T vay số tiền 35.000.000₫ anh D1 không biết xe mô tô là do T trộm cắp mà có. Do vậy không có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với anh Nguyễn Văn D1 và được xác định là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 48 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 357, Điều 584, Điều 585 Bộ luật dân sự. Khoản 1 Điều 23 nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cảnh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Cảnh T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 24/4/2025).
  2. Về trách nhiệm dân sự: buộc bị cáo Nguyễn Cảnh T phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn D1 35.000.000đ (Ba mươi lăm triệu) đồng; xác nhận bà Đinh Thị Đ đã bồi thường thay cho bị cáo số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu) đồng, số tiền được nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ theo biên lai số 0001466, ngày 04/12/2025. Bị cáo còn phải bồi thường cho anh Nguyễn Văn D1 số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Cảnh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đ (Một triệu) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với người có mặt, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết đối với người vắng mặt./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Thọ;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 13 – Phú Thọ;
  • - CQĐT, THAHS;
  • - THADS tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Liên Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HSST ngày 09/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 27/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 13 - PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cảnh Th phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger