|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 27/2025/HS-ST
Ngày 27-6-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Minh Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Cử và bà Trần Thị Mão
- Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Việt Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thành Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Trương Văn D, sinh ngày 24 tháng 8 năm 2003 tại xã Đ, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm G, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn C và bà Phạm Thị T; vợ: Vũ Thị N, có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 16/4/2025 đến ngày 24/4/2025 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N đến nay (có mặt).
* Bị hại: anh Phạm Ngọc T1, sinh năm 2003; nơi cư trú: xóm G, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
Chị Nguyễn Thị Huyền T2, sinh năm 2004; nơi cư trú: xóm I, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
Ông Trương Văn C, sinh năm 1978; nơi cư trú: xóm G, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (có mặt).
* Người làm chứng: anh Phạm Đăng Tuấn S (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của anh S: bà Phạm Thị Q (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trương Văn D là người không có việc làm ổn định. Khoảng 9 giờ 30 phút ngày 15/4/2025, Trương Văn D gặp Phạm Đăng Tuấn S, sinh năm 2009, trú tại xóm P, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là em họ tại lễ hội đền T5 thuộc xóm Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, D rủ S về nhà D chơi và S đồng ý. Sau đó, D điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xanh bạc, biển kiểm soát 35F1-00447 (xe của ông Trương Văn C là bố đẻ D) chở S về nhà D, trên đường D bảo S vào nhà anh Phạm Ngọc T1, sinh năm 2003, trú tại xóm G, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình là bạn cùng xóm chơi. Đến 9 giờ 39 phút cùng ngày thì D và S đi xe máy vào nhà T1, D dựng xe ở sân trước hiên nhà rồi cả hai đi bộ vào nhà T1. D đi trước, S đi theo sau cách D khoảng 01 mét. Khi D, S đi vào nhà T1 thì cửa nhà T1 không khóa. D đi vào đến chỗ phòng ngủ của T1 cạnh cầu thang, giáp bếp và dùng tay kéo cửa phòng ngủ dạng cửa lùa ra (anh T1 không khóa mà khép để hở). D đi đến phòng ngủ của T1 thì thấy T1 đang nằm ngủ trong phòng, điện thoại sạc ở đầu giường còn S thì đứng sau lưng D. D nảy sinh ý định lấy trộm chiếc điện thoại của T1 để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân nên D không gọi T1 dậy mà quay ra bảo S "Thôi đi về T1 đang nằm ngủ rồi" rồi D chở S về nhà D. Khi về nhà D thì S lên giường đi ngủ. Ngay sau đó, D đi bộ một mình sang nhà T1 (do biêt nhà T1 có lắp camera ở khu vực sân trước cửa nhà), D đã đi qua vườn ngô bên cạnh nhà T1, trèo tường rào bên phải nhà T1 (nhìn theo hướng từ đường vào), đi vào lối cửa hông bên phụ không khóa đang mở rồi đi vào bếp. Sau đó, D đi vào phòng ngủ của T1 cạnh cầu thang, lúc này T1 vẫn đang nằm ngủ, D dùng tay phải cầm lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax vỏ màu vàng, loại 256GB, số IMEI1: 352846111190278, số IMEI2: 352846111057139 đeo ốp màu xanh dương, bên trong lắp sim Viettel số 0336.485.xxx của T1. Tay trái D rút dây sạc mà T1 đang để sạc ở đầu giường ra. Vì T1 vừa đi làm ca đêm về mệt đang ngủ nên không biết việc D vào lấy điện thoại. Sau khi lấy được điện thoại của T1 thì D cầm chiếc điện thoại trên tay, lại đi ra bằng đường khi trước đã đi vào nhà T1, rồi D đi bộ về nhà.
Đến khoảng 10 giờ 54 phút cùng ngày, khi D đang nằm trong phòng ngủ ở nhà thì thấy điện thoại của T1 có thông báo tin nhắn ngân hàng V với nội dung Công ty G thanh toán trả lương tháng 3 năm 2025 vào tài khoản cho anh T1 số tiền 9.295.529 đồng (Chín triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn năm trăm hai mươi chín đồng). Lúc này, D tiếp tục nảy sinh ý định trộm cắp tiền trong tài khoản ngân hàng của T1 để tiêu xài cá nhân. Do D chơi với T1 nên có lần D hỏi T1 mật khẩu ứng dụng thanh toán trực tuyến để thanh toán tiền nước uống nên D biết mật khẩu đăng nhập vào điện thoại di động của T1 là ngày tháng năm sinh của T1 "270203". Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, D mở mật khẩu máy điện thoại của T1, sau đó thêm nhận diện khuôn mặt "Face ID" là khuôn mặt của D vào điện thoại với mục đích để đăng nhập vào máy điện thoại và đăng nhập vào tài khoản ngân hàng của T1 đề chuyển tiền. Sau đó, D đăng nhập ứng dụng ngân hàng MB số tài khoản 0879007057 của T1, mật khẩu là "Ngocthang003@", mật khẩu chuyển tiền là "270203", còn ứng dụng ngân hàng V số tài khoản 108881567099 của T1 thì D không biết mật khẩu nên D đã vào ứng dụng ví điện tử Momo của T1 trên điện thoại đã liên kết với ngân hàng V, mật khẩu ví Momo của T1 đặt theo ngày tháng năm sinh là "270203" (D nhập thử mật khẩu ví điện tử Momo của T1 bằng ngày tháng năm sinh của T1 thì mở được tài khoản ví Momo). Bằng cách trên D đã thực hiện việc trộm cắp tiền trong tài khoản ngân hàng của anh T1 như sau: Khoảng 13 giờ 33 phút cùng ngày, D vào tài khoản MB của T1 chuyển 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) cho số tài khoản ngân hàng V1 số tài khoản 0787499356 của chị Nguyễn Thị Huyền T2 sinh năm 2004, trú tại xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (là bạn của D). Sau đó, D vào ví điện tử M của T1 thực hiện lệnh chuyển 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) từ tài khoản ngân hàng V của T1 vào tài khoản ví Momo, sau đó tiếp tục chuyển tiền từ ví điện tử M của T1 vào tài khoản ngân hàng V1 của chị Nguyễn Thị Huyền T2 số tiền 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng). D đã chủ động nhắn tin qua ứng dụng zalo cho chị T2 hỏi mượn số tài khoản ngân hàng của T2 để chuyện tiền nhờ vào tài khoản của T2, D không nói cho chị T2 biết nguồn gốc số tiền do D trộm cắp của anh T1. Sau đó, D nhờ T2 chuyển 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) vào số tài khoản OCB 0192100000000000 của D để tiêu xài cá nhân. Cụ thể, D chuyển 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) từ tài khoản OCB của D đến số tài khoản ngân hàng V số [...] mang tên "PHAN QUANG THANH", chuyển 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) từ tài khoản OCB của D đến tài khoản ngân hàng S1 số [...] mang tên "NGUYEN QUOC HUY", chuyển số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) từ tài khoản OCB của D đến tài khoản ngân hàng V2 số 1055505054 mang tên "NGUYEN THI HOANG LAN". Đến 14 giờ 55 phút cùng ngày D tiếp tục thực hiện lệnh chuyển tiền số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) từ tài khoản V của T1 sang ví Momo của T1, rồi chuyển tiếp số tiền này sang tài khoản MB của T1. Đến 14 giờ 57 phút cùng ngày D thực hiện lệnh chuyển tiền từ tài khoản MB của T1 số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) sang tài khoản ngân hàng A số 19812591 mang tên "TRAN THI DONG" để mua đồ dùng trên mạng. Đến 15 giờ 02 phút cùng ngày, D lại tiếp tục lệnh chuyển tiền từ tài khoản V của T1 số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu triệu đồng) sang ví Momo của T1, sau đó D lại tiếp tục thực hiện lệnh chuyển số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) từ ví Momo của T1 sang tài khoản ngân hàng V2 số 1020262048 mang tên "PHAN TRUONG KHANH DANG". Tất cả số tiền trên, D khai đã tiêu xài cá nhân hết và những người D chuyển tiền thanh toán tiền mua đồ, D khai đều không quen biết, chưa gặp bao giờ và không biết tên tuổi địa chỉ cụ thể của họ. Trong quá trình mua bán trên mạng D khai quên không để lại địa chỉ người nhận hàng nên sau khi thanh toán tiền, D chưa nhận được hàng đặt mua. Đối với chiếc điện thoại của T1, sau khi chiếm đoạt số tiền 6.200.000 đồng (Sáu triệu hai trăm nghìn đồng) trong tài khoản xong, để che giấu hành vi phạm tội nên D đã "reset" lại máy (xóa hết dữ liệu mục tin nhắn, mục cuộc gọi, mục ảnh, xóa cài đặt ứng dụng mạng xã hội zalo, Facebook, xoá cài đặt ứng dụng tài khoản ngân hàng M1, V), thay đổi mật khẩu mở điện thoại thành "000000", rồi mang cất giấu tại tủ quần áo trong phòng ngủ của D. Sau đó, D mang 01 chiếc sim viettel số 0336.485.xxx cùng chiếc ốp điện thoại màu xanh dương ra chân cầu vào núi con lợn rồi vứt bỏ xuống hồ Đ đèn thuộc thôn H, xã Đ, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Đến khoảng 16 giờ ngày 15/4/2025 anh T3 ngủ dậy thì không thấy chiếc điện thoại đâu. Đến sáng ngày 16/04/2025, anh T1 đi vớt lại sim điện thoại số 0336.485.xxx và đăng nhập vào ứng dụng thanh toán trực tuyến của ngân hàng M1 và V thì phát hiện tài khoản ngân hàng MB của anh T1 đã bị chuyển khoản mất số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đông) và tài khoản ngân hàng V của anh T1 đã bị chuyển khoản mất số tiền 4.200.000 đồng (Bốn triệu hai trăm nghìn đồng). Sau đó, đến 13 giờ ngày 16/04/2025 anh T1 đã đến trụ sở Công an xã Y trình báo sự việc bị mất tài sản và có nghi ngờ cho Trương Văn D, sinh năm 2003 trú cùng xóm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Căn cứ tài liệu xác minh, thu thập được, chiều ngày 16/4/2025 Công an xã Y triệu tập D đến trụ sở làm việc. Biết hành vi trộm cắp tài sản của mình đã bị phát hiện nên D đã đến trụ sở Công an xã Y đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Cùng ngày 16/4/2025 Công an xã Y đã chuyển nguồn tin về tội phạm trên đến Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N để thụ lý theo thẩm quyền.
Ngày 16/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trương Văn D tại xóm G, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Quá trình khám xét Cơ quan CSĐT công an tỉnh N đã thu giữ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu vàng loại 256GB, số IMEI1: 352846111190278, số IMEI2: 352846111057139, D để ở ngăn tủ quần áo bằng gỗ phía trong sát tường trong phòng ngủ của D.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 03/ĐGTS ngày 22/04/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Y kết luận: Tại thời điểm ngày 15/4/2025, giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax loại 256GB, màu vàng, đã qua sử dụng là 7.500.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 29/CT-VKSYM ngày 16 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trương Văn D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố được công bố tại Cáo trạng nêu trên. Sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trương Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn D từ 06 tháng đến 09 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 16/4/2025.
Xử lý vật chứng: áp dụng khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả lại cho anh Phạm Ngọc T1 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu vàng loại 256GB cũ, đã qua sử dụng, có số IMEI1: 352846111190278, số IMEI2: 352846111057139.
Về phần trách nhiệm dân sự: anh T1 không có yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Trương Văn D.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo D phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát và không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo thấy hối hận về hành vi của mình, bị cáo xin lỗi gia đình, xin lỗi bị hại, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi của người tiến hành tố tụng và Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- Về hành vi, tội danh của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng đã thu giữ, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đã có đủ cơ sở khẳng định: ngày 15/4/2025, Trương Văn D lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của Phạm Ngọc T1, sinh năm 2003 trú tại xóm G, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình đã 02 lần lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Phạm Ngọc T1 với tổng số tiền đã chiếm đoạt là 13.700.000 đồng, cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng 9 giờ 41 phút ngày 15/4/2025, Trương Văn D đã có hành vi lén lút lợi dụng sở hở khi anh T1 đang ngủ tại nhà, chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Promax, loại 256G có giá trị 7.500.000 đồng.
Lần 2: Khoảng 13 giờ 33 phút ngày 15/4/2025, tại nhà ở của Trương Văn D tại xóm G, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; D đã sử dụng điện thoại di động Iphone 11 Promax của anh T1 thực hiện các giao dịch chuyển khoản, chiếm đoạt tổng cộng 6.200.000 đồng trong các tài khoản ngân hàng MB và V của anh T1 thông qua hình thức chuyển khoản và ví điện tử M để sử dụng tiêu xài cá nhân.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức pháp luật và năng lực điều khiển hành vi, nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Phạm Ngọc T1 với tổng số tiền 13.700.000 đồng của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, tác động xấu đến trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi của bị cáo Trương Văn D đã phạm vào tội "Trộm cắp tài sản" quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
“Điều 173: Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:
...”
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình đã truy tố bị cáo Trương Văn D với tội danh và các điều luật đã viện dẫn như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
- Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo nhận thấy:
Nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo 02 lần thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự "Phạm tội từ 02 lần trở lên" quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã đến đầu thú, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện tác động gia đình khắc phục hậu quả trả lại số tiền 6.200.000 đồng đã chiếm đoạt, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại quy định tại điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thấy cần phải xử phạt bị cáo nghiêm minh trước pháp luật, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo đủ điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 chiếc ốp điện thoại màu xanh dương và 01 chiếc sim viettel số 0336.485.xxx của anh Phạm Ngọc T1, D khai vứt bỏ xuống hồ Đ đèn thuộc thôn H, xã Đ, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được. Do tài sản có giá trị thấp, anh T1 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu vàng loại 256GB cũ, đã qua sử dụng, có số IMEI1: 352846111190278, số IMEI2: 352846111057139 do Trương Văn D đã chiếm đoạt cần trả lại cho chủ sở hữu anh Phạm Ngọc T1 theo quy định khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra bị hại đã nhận lại toàn bộ số tiền 6.200.000 đồng bị cáo trộm cắp và không có yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về các tình tiết có liên quan đến vụ án:
Chị Nguyễn Thị Huyền T2 là bạn của bị cáo Trương Văn D, đã cung cấp cho bị cáo số tài khoản ngân hàng của mình đề chuyển tiền và sau đó chị T2 đã chuyển lại tiền cho bị cáo D, chị T2 không chiếm hưởng số tiền, cũng không được hưởng lợi từ số tiền bị cáo chuyển, không biết việc bị cáo trộm cắp tài sản. Do vậy, chị T2 không vi phạm pháp luật, không đồng phạm với bị cáo D về hành vi trộm cắp tài sản.
Đối với những chủ tài khoản ngân hàng mang tên: Trần Thị Đ sinh năm 1978, trú tại số nhà A Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; Phan Trương Khánh Đ1 sinh năm 2005, trú tại số nhà A ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Phan Quang T4 sinh năm 2001, trú tại số B N, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; Nguyễn Quốc H sinh năm 1994, trú tại Tổ dân phố N, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng; Nguyễn Thị Hoàng L sinh năm 2005, trú tại số D tỉnh lộ 15, Ấp A, xã T, huyện C, thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Trương Văn D khai không quen biết, không rõ tên tuổi, địa chỉ. Bị cáo đã xóa hết dữ liệu trên mục tin nhắn, mục cuộc gọi, ảnh, xóa cài đặt ứng dụng Zalo, Facebook, các cài đặt ứng dụng tài khoản ngân hàng M1, V. Quá trình ủy thác điều tra xác định các chủ tài khoản ngân hàng mang tên Phan Quang T4, Nguyễn Thị Hoàng L không có tại địa phương; các chủ tài khoản ngân hàng mang tên Trần Thị Đ, Phan Trương Khánh Đ1 và Nguyễn Quốc H đều vắng mặt tại nơi cư trú đã lâu, không rõ đi đâu, làm gì, không liên lạc được nên không thể triệu tập làm việc được. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N không có căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
- Luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về tội danh, điều khoản truy tố, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ, phù hợp với nội dung của vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí: bị cáo bị tuyên là có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Văn D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trương Văn D 06 (Sáu) tháng tù thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 16/4/2025.
2. Xử lý vật chứng:
Trả lại cho anh Phạm Ngọc T1 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu vàng loại 256GB cũ, đã qua sử dụng.
Chi tiết như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17/6/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.
3. Án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Trương Văn D phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Minh Hồng |
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn D - Trộm cắp tài sản
