Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày: 27/5/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Công Danh và ông Võ Chùm .

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đáng và ông Lê Thị Ngọc Hân – Đều là Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 27 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 26/2025/TLST-HS ngày 11/4/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hữu T (Tên gọi khác: Tý T1), sinh ngày 05 tháng 5 năm 1992; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; con ông Nguyễn Thành S, sinh năm 1960 và bà Trần Thị L, sinh năm 1963; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 09/10/2024 đến ngày 03/01/2025; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  2. Nguyễn Đức T2, sinh ngày 06 tháng 7 năm 1983; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; con ông Nguyễn D (chết) và bà Phùng Thị Q, sinh năm 1935; có vợ Nguyễn Thị Kim T3, sinh năm 1987 và 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  3. Nguyễn Thành T4 (Tên gọi khác: Tý T5), sinh ngày 30 tháng 3 năm 1992; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; con ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1957 và bà Trần Thị Y, sinh năm 1961; có vợ Huỳnh Thị Thanh T7, sinh năm 1994 (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 09/10/2024 đến ngày 03/01/2025; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  4. Trịnh Thạch S1 (Tên gọi khác: Tý A), sinh ngày 09 tháng 8 năm 1988; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố C, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; con ông Trịnh T8, sinh năm 1962 (tại phiên tòa bị cáo khai ông Tân sinh năm 1960) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1960 (tại phiên tòa bị cáo khai bà H sinh năm 1962); có vợ tên Bùi Thị Huỳnh T9, sinh năm 1992 và 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 01/10/2024 đến ngày 10/10/2024; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  5. Phan Thanh H1 (Tên gọi khác: Sở), sinh ngày 25 tháng 7 năm 1991; tại tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Công nhân (tại phiên tòa bị cáo khai hiện nay làm nông); trình độ văn hóa (học vấn): 8/12 (tại phiên tòa bị cáo khai trình độ văn hóa (học vấn): 9/12); con ông Phan Thành Q1, sinh năm 1954 và bà Trương Thị Tuyết M, sinh năm 1957; có vợ Đặng Thị Mỹ N, sinh năm 1991 và 02 con, sinh năm 2010 và 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  6. Nguyễn L1, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1995; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; con ông Nguyễn T10, sinh năm 1968 và bà Lê Thị Q2, sinh năm 1970; có vợ Nguyễn Thị Kim T11, sinh năm 1997 và 01 con, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  7. Đỗ Huy H2 (Tên gọi khác: T, T), sinh ngày 08 tháng 02 năm 1999; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12 (tại phiên tòa bị cáo khai trình độ văn hóa (học vấn): 9/12); con ông Đỗ S2, sinh năm 1968 và bà Đỗ Thị H3, sinh năm 1968; có vợ Phạm Lê Trúc T12, sinh năm 2000 và 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 08/4/2016 bị Toà án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên xử phạt 04 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  8. Phạm Văn T13 (Tên gọi khác: S3), sinh ngày 20 tháng 5 năm 1989; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 3/12; con ông Phạm B, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1966; có vợ Nguyễn Thị Thu T14, sinh năm 1992 và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2013, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 24/11/2022 bị Công an huyện T, tỉnh Phú Yên xử phạt 10.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích, tàng trữ công cụ hỗ trợ”, nộp phạt ngày 07/10/2024; nhân thân: Ngày 15/6/2015 bị Toà án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm về tội “Đánh bạc”, đã chấp hành xong; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  9. Trịnh Văn H5 (Tên gọi khác: Cậu H6), sinh ngày 20 tháng 10 năm 1980; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; con ông Trịnh D1 (tên gọi khác Trịnh D2) (chết) và bà Dương Thị H7 (chết); có vợ Hồ Thị Phương L2, sinh năm 1996 (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/01/2025 bị Công an huyện T, tỉnh Phú Yên khởi tố bị can về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; tạm giữ từ ngày 01/10/2024 đến ngày 10/10/2024; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  10. Phan Minh L3 (Tên gọi khác: X), sinh ngày 19 tháng 9 năm 1993; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn H, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; con ông Phan Minh T15, sinh năm 1970 và bà Lê Thị D3 (chết) (tại phiên tòa bị cáo khai bà Lê Thị D3 hiện nay còn sống); có vợ Nguyễn Thị Thanh D4, sinh năm 1991 (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: - Ngày 21/01/2021 bị Toà án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên xử phạt 01 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong ngày 09/01/2022; - Ngày 26/8/2018 bị Công an huyện T, tỉnh Phú Yên xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”, nộp phạt ngày 22/10/2019; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  11. Võ Đình K, sinh ngày 01 tháng 4 năm 1988; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn X, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Thợ sửa điện lạnh (tại phiên tòa bị cáo khai hiện nay làm nông); trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; con ông Võ Đình P (chết) và bà Huỳnh Thị L4, sinh năm 1949; có vợ tên Lê Thị Lam T16, sinh năm 1988 và 02 con, lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: - Ngày 05/02/2010 bị Công an huyện T, tỉnh Phú Yên xử phạt 350.000 đồng về hành vi “Đánh người khác gây thương tích”, nộp phạt ngày 05/02/2010; - Ngày 08/11/2012 bị Công an huyện T, tỉnh Phú Yên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Dùng hung khí để đi đánh nhau, gây rối an ninh trật tự”; - Ngày 13/3/2013 bị Ủy ban nhân dân xã H, huyện T áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã về hành vi “Trộm cắp tài sản”; - Ngày 03/01/2020 bị Công an thị xã Đ, tỉnh Phú Yên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt ngày 07/01/2020; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  12. Nguyễn Thành V (Tên gọi khác: S4), sinh ngày 01 tháng 4 năm 1984; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; con ông Nguyễn Thành T4 (chết) và Nguyễn Thị G, sinh năm 1934 (tại phiên tòa bị cáo khai bà G sinh năm 1941); có vợ Võ Thị Thùy N1, sinh năm 1987 và 02 con, lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2021 (tại phiên tòa bị cáo khai con nhỏ sinh năm 2022); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/11/2016 bị Công an huyện T, tỉnh Phú Yên xử phạt 1.000.000 đồng và phạt bổ sung số tiền 330.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt ngày 05/12/2016; tạm giữ từ ngày 01/10/2024 đến ngày 10/10/2024; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  13. Đặng Thị Mỹ N, sinh ngày 14 tháng 10 năm 1991; tại tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Khu V, phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nữ; nghề nghiệp: Nội trợ (tại phiên tòa bị cáo khai hiện nay làm nông); trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; con ông Đặng Xuân H8, sinh năm 1955 và bà Đoàn Thị S5, sinh năm 1958; có chồng Phan Thanh H1, sinh năm 1991 và 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 01/10/2024 đến ngày 10/10/2024; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  14. Lê Đặng T17 (Tên gọi khác: S6), sinh ngày 28 tháng 5 năm 1995; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; con ông Lê Đặng N2, sinh năm 1966 và bà Lê Thị Kim T18, sinh năm 1970; có vợ Nguyễn Thị Cẩm L5, sinh năm 2000 và 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  15. Hà Quốc S7, sinh ngày 08 tháng 10 năm 1993; tại tỉnh Phú Yên. Nơi đăng ký thường trú: Thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; chỗ ở hiện nay: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Thợ điện lạnh; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; con ông Hà Tấn S8, sinh năm 1963 và bà Võ Thị Kim L6, sinh năm 1965; có vợ Trương Thị Thu H9, sinh năm 1994 và 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2020 (tại phiên tòa bị cáo khai con nhỏ sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.
  16. Huỳnh Công Đ, sinh ngày 22 tháng 5 năm 2000; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn D, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Thợ sắt; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; con ông Huỳnh Văn H10, sinh năm 1977 và bà Trần Thị N3, sinh năm 1972; có vợ Lê Lệ S9, sinh năm 2001 và 01 con, sinh năm 2020 (tại phiên tòa bị cáo khai có 01 con sinh năm 2022); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Võ Thanh L7, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Thôn D, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  2. Nguyễn Văn T19, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn P, huyện P, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  3. Trịnh Văn B1, sinh năm 1977. Nơi cư trú: Khu phố L, thị trấn C, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  4. Nguyễn Thanh H11, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Xóm B, thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi; vắng mặt.
  5. Lê Lệ S9, sinh năm 2001. Nơi cư trú: Thôn D, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  6. Huỳnh Tấn T20, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Thôn P, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  7. Nguyễn Ngọc Q3, sinh năm 1993. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  8. Nguyễn Ngọc Quỳnh N4, sinh năm 2006. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  9. Nguyễn Minh Q4, sinh năm 2008. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  10. - Người đại diên hợp pháp của Nguyễn Minh Q4: Nguyễn Thị Kim T3, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  11. Nguyễn Thị Kim T3, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Để thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc dưới hình thức xóc bầu cua ăn thua bằng tiền, ngày 30/9/2024 Nguyễn Hữu T gặp Nguyễn Đức T2 thuê địa điểm là nhà tạm, nhà đang xây dựng của T2 để tổ chức sòng bạc. T thỏa thuận với T2 là sẽ trả tiền xâu từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng/ngày, tùy thuộc vào số tiền T thu của các con bạc. T2 đồng ý. T thuê Nguyễn Thành T4 dùng xe ô tô chở con bạc đến địa điểm đánh bạc, thỏa thuận trả cho T4 từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng/ngày, tùy thuộc vào số tiền T thu của các con bạc; gọi điện thoại rủ con bạc tham gia đánh bạc và chuẩn bị sẵn những công cụ như chiếu trải, bạt che, bộ chén đĩa nhôm, bộ 03 hột xốp và tấm bạt có in hình Bầu, C, T21, C1, G1, N5... để phục vụ việc đánh bạc. T quy định mỗi ca đánh bạc là 01 tiếng đồng hồ, T thu 1.000.000 đồng cho 01 ca xóc cái, nếu muốn xóc cái tiếp thì mua ca tiếp; còn con bạc T thu 100.000 đồng/01 người/01 ca đánh bạc.

Khoảng 13 giờ ngày 01/10/2024, T tổ chức đánh bạc dưới hình thức xóc bầu cua ăn thua bằng tiền tại nhà tạm của T2 thuộc thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Huỳnh Công Đ góp 8.000.000 đồng, Phạm Văn T13 góp 7.000.000 đồng, rồi cả hai cùng mua ca xóc cái từ 13 giờ đến 15 giờ; Nguyễn Thành V, H, Võ Đình K, Lê Đặng T17, mỗi người góp 15.000.000 đồng mua ca xóc cái từ sau 15 giờ. Trịnh Văn H5, Trịnh Thạch S1, Phan Thanh H1, Đặng Thị Mỹ N, Phan Minh L3, Đỗ Huy H2, Nguyễn L1 và một số người khác trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) tham gia đặt cược. Đến khoảng 19 giờ 20 phút cùng ngày thì lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 26.000.000 đồng và nhiều đồ vật, phương tiện, công cụ phục vụ cho việc đánh bạc.

Qua điều tra xác định tổng số tiền các con bạc dùng để đánh bạc là 105.500.000 đồng, trong đó:

  • Huỳnh Công Đ mang theo số tiền 8.000.000 đồng để xóc cái đánh bạc, Đ thắng 3.000.000 đồng. Tổng số tiền Đ đánh bạc là 11.000.000 đồng.
  • Phạm Văn T13 mang theo số tiền 7.000.000 đồng để xóc cái đánh bạc, T13 thắng 6.000.000 đồng. Tổng số tiền T13 đánh bạc là 13.000.000 đồng.
  • Võ Đình K, Nguyễn Thành V, Hà Quốc S7, Lê Đặng T17, mỗi người góp 15.000.000 đồng để xóc cái đánh bạc với các con bạc. Khi đánh bạc bị thua hết 60.000.000 đồng.
  • Phan Thanh H1 và Đặng Thị Mỹ N mang theo 10.000.000 đồng để đánh bạc. Hữu trực tiếp đặt tiền trên chiếu bạc, N ngồi phía sau, đưa tiền và chung chi tiền giúp H1; cả hai đánh nhiều ván, thua 10.000.000 đồng.
  • Trịnh Thạch S1 mang theo số tiền 10.000.000 đồng để đánh bạc, tham gia đánh bạc một ván, thua 6.000.000 đồng, còn lại 4.000.000 đồng bị rơi mất khi bỏ chạy.
  • Trịnh Văn H5 mang theo số tiền 4.000.000 đồng để đánh bạc, tham gia đánh bạc nhiều ván, thắng 4.000.000 đồng. Tổng số tiền H5 đánh bạc là 8.000.000 đồng.
  • Phan Minh L3 mang theo số tiền 3.500.000 đồng để đánh bạc, tham gia đánh bạc nhiều ván, thắng 1.000.000 đồng. Tổng số tiền L3 đánh bạc là 4.500.000 đồng.
  • Nguyễn L1 mang theo số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc, tham gia đánh bạc nhiều ván, thua 2.000.000 đồng.
  • Đỗ Huy H2 mang theo số tiền 1.000.000 đồng để đánh bạc, tham gia đánh bạc nhiều ván, thua 1.000.000 đồng.

Qua điều tra còn xác định: Sau khi thỏa thuận thống nhất với Nguyễn Đức T2 sử dụng địa điểm là nhà của T2 để tổ chức đánh bạc, chiều ngày 30/9/2024, Nguyễn Hữu T thuê Nguyễn Thành T4 dùng xe ô tô chở con bạc vào sòng bạc đánh bạc, tổ chức cho nhiều con bạc tham gia đánh bạc dưới hình thức xóc bầu cua ăn thua bằng tiền tại tầng 2 nhà đang xây của T2, với số tiền dùng để đánh bạc là 27.700.000 đồng. Trong đó:

  • Trịnh Thạch S1 mang theo số tiền 5.000.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván, thua 5.000.000 đồng.
  • Phan Thanh H1, Đặng Thị Mỹ N mang theo số tiền 20.000.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván, thua 10.000.000 đồng.
  • Nguyễn L1 mang theo số tiền 2.000.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván, thua 2.000.000 đồng.
  • Đỗ Huy H2 mang theo số tiền 700.000 đồng để đánh bạc, đánh nhiều ván, thua 500.000 đồng.

Trong 02 ngày 30/9/2024 và ngày 01/10/2024, Nguyễn Hữu T đã thu lợi từ các con bạc được 13.500.000 đồng; Nguyễn Thành T4 và Nguyễn Đức T2 chưa được T trả tiền nên chưa thu lợi.

Tại Bản Cáo trạng số: 31/CT-VKSPY-P1 ngày 11/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố:

  • Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Thành T4 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo Điểm a, c, d Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự;
  • Bị cáo Nguyễn Đức T2 về tội “Gá bạc” theo Điểm b, Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự;
  • Các bị cáo Huỳnh Công Đ, Phạm Văn T13, Nguyễn Thành V, Hà Quốc S7, Võ Đình K, Lê Đặng T17, Trịnh Văn H5, Trịnh Thạch S1, Phan Thanh H1, Đặng Thị Mỹ N, Phan Minh L3, Đỗ Huy H2, Nguyễn L1 về tội “Đánh bạc” theo Điểm b, Khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

  • Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Thành T4, Nguyễn Đức T2, Huỳnh Công Đ, Phạm Văn T13, Nguyễn Thành V, Hà Quốc S7, Võ Đình K, Lê Đặng T17, Trịnh Văn H5, Trịnh Thạch S1, Phan Thanh H1, Đặng Thị Mỹ N, Phan Minh L3, Đỗ Huy H2, Nguyễn L1 vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố là đúng.
  • Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
    • Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Thành T4 phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo Điểm a, c, d Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự;
    • Bị cáo Nguyễn Đức Trọng phạm T22 “Gá bạc” theo Điểm b, Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự;
    • Các bị cáo Huỳnh Công Đ, Phạm Văn T13, Nguyễn Thành V, Hà Quốc S7, Võ Đình K, Lê Đặng T17, Trịnh Văn H5, Trịnh Thạch S1, Phan Thanh H1, Đặng Thị Mỹ N, Phan Minh L3, Đỗ Huy H2, Nguyễn L1 phạm tội “Đánh bạc” theo Điểm b, Khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
  • + Về Hình phạt:
    • Áp dụng Điểm a, c, d Khoản 1, Khoản 3 Điều 322; Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Nguyễn Hữu T từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 09/10/2024 đến ngày 03/01/2025. Phạt bổ sung từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
    • Áp dụng Điểm a, c, d Khoản 1, Khoản 3 Điều 322; Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Nguyễn Thành T4 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 09/10/2024 đến ngày 03/01/2025. Phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
    • Áp dụng Điểm b Khoản 1, Khoản 3 Điều 322; Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS Bộ luật Hình sự; phạt bị cáo Nguyễn Đức T2 từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
    • Áp dụng Điểm b, Khoản 2 Điều 321; Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự; phạt:
      • Bị cáo Đỗ Huy H2 từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
      • Các bị cáo Trịnh Thạch S1, Phan Thanh H1, Nguyễn L1 mỗi bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; Riêng bị cáo S1 được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 01/10/2024 đến ngày 10/10/2024. Phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
    • Áp dụng Điểm b, Khoản 2 Điều 321; Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự: phạt các bị cáo Võ Đình K, Nguyễn Thành V, Trịnh Văn H5, Phạm Văn T13 và Phan Minh L3, mỗi bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; Riêng các bị cáo V, H5 được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 01/10/2024 đến ngày 10/10/2024. Phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
    • Áp dụng Điểm b, Khoản 2 Điều 321; Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Huỳnh Công Đ, Lê Đặng T17, Hà Quốc S7, Đặng Thị Mỹ N; thêm Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Thị Mỹ N; phạt các bị cáo Huỳnh Công Đ, Lê Đặng T17, Hà Quốc S7, Đặng Thị Mỹ N mỗi bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  • + Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • Tịch thu tiêu hủy: -- 02 (Hai) chiếc chiếu cói, kích thước (2,1 x 2,9)m; -- 01 (Một) miếng nhựa kích thước (0.8 x 0.95)m, có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; -- 02 (Hai) đĩa kim loại màu trắng bạc, kích thước (0,156 x 0,019)m; -- 02 (Hai) chén kim loại màu trắng bạc, kích thước (0,136 x 0,045)m; -- 08 (T23) ghế nhựa màu đỏ, kích thước (0,67 x 0,48 x 0,35)m, trong đó có 01 ghế nhựa bị gãy phần chân ghế. Các ghế đã qua sử dụng. -- 16 (Mười sáu) hột xốp hình lập phương có cạnh 0,023m in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; -- 12 (Mười hai) tờ giấy in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai.
    • Tiếp tục tạm giữ tài sản trên để đảm bảo thi hành án: -- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu vàng có gắn thẻ sim số 0362414626, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong của máy, đã được niêm phong của Trịnh Thạch S1; -- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xám, có gắn thẻ sim số 0966734639, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong của máy, đã được niêm phong và 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu trắng có gắn thẻ sim số 0969159691, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong của máy, đã được niêm phong của Đặng Thị Mỹ N.
    • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 26.000.000₫ (Hai mươi sáu triệu đồng) thu giữ tại chiếu bạc.
    • + Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
      • Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T nộp lại số tiền thu lợi bất chính 13.500.000 đồng, đã nộp 6.000.000 đồng, còn phải tiếp tục nộp 7.500.000 để sung vào ngân sách Nhà nước.
      • Buộc bị cáo Phạm Văn T13 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 6.000.000 đồng, bị cáo đã nộp đủ 6.000.000 đồng.
      • Buộc bị cáo Huỳnh Công Đ nộp lại số tiền thu lợi bất chính 3.000.000 đồng, bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng, dư 2.000.000 đồng.
      • Buộc bị cáo Trịnh Văn H5 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 4.000.000 đồng, bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng, dư 1.000.000 đồng.
      • Buộc bị cáo Phan Minh L3 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng, bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng, dư 4.000.000 đồng.
      • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước; số tiền các bị cáo đã nộp còn dư nhưng không có yêu cầu nhận lại, cụ thể: Bị cáo Huỳnh Công Đ 2.000.000 đồng, bị cáo Trịnh Văn H5 1.000.000 đồng, bị cáo Phan Minh L3 4.000.000 đồng; và do các bị cáo tự nguyện nộp, cụ thể: Các bị cáo Nguyễn Đức T2, Nguyễn Thành V, Võ Đình K, Lê Đặng T17, Hà Quốc S7, Trịnh Thạch S1, Đỗ Huy H2, Phan Thanh H1, Đặng Thị Mỹ N mỗi bị cáo 5.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn L1 4.000.000 đồng, bị cáo Nguyễn Thành T4 2.000.000 đồng.

Quá trình tranh luận, không phát sinh vấn đề đối đáp. Các bị cáo nói lời sau cùng, xin pháp luật khoan hồng cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng

[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không bị khiếu nại, việc điều tra, thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra đã được thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định, nên các chứng cứ thu thập được đều đảm bảo giá trị chứng minh và hợp pháp.

[1.2] Tại phiên tòa, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng họ đều đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng tại Cơ quan điều tra, xét việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và không gây trở ngại cho việc xét xử; do đó, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo; căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

[2] Sau khi tổng hợp, kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện tất cả chứng cứ đã thu thập được về vụ án, thấy rằng: Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Hữu T, Trịnh Thạch S1, Phan Thanh H1, Nguyễn Đức T2, Nguyễn Thành T4, Phan Minh L3, Đỗ Huy H2, Nguyễn L1, Phạm Văn T13, Nguyễn Thành V, Võ Đình K, Trịnh Văn H5, Đặng Thị Mỹ N, Lê Đặng T17, Hà Quốc S7, Huỳnh Công Đ tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; phù hợp với các biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, sơ đồ, bản ảnh, biên bản khám nghiệm hiện trường, các bản kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu là chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 30/9/2024 và ngày 01/10/2024, tại thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Nguyễn Đức T2 cho Nguyễn Hữu T sử dụng nhà của T2 để T cùng Nguyễn Thành T4 tổ chức đánh bạc dưới hình thức xóc bầu cua ăn thua bằng tiền, trong đó ngày 30/9/2024 Trịnh Thạch S1, Phan Thanh H1, Đặng Thị Mỹ N, Nguyễn L1, Đỗ Huy H2 đánh bạc với số tiền 27.700.000 đồng; ngày 01/10/2024 Huỳnh Công Đ, Phạm Văn T13, Võ Đình K, Nguyễn Thành V, Hà Quốc S7, Lê Đặng T17, Phan Thanh H1, Đặng Thị Mỹ N, Trịnh Thạch S1, Trịnh Văn H5, Phan Minh L3, Nguyễn L1 và Đỗ Huy H2 tham gia đánh bạc với số tiền 105.500.000 đồng.

Do đó, Bản Cáo trạng số: 31/CT-VKSPY-P1 ngày 11/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố: Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Thành T4 về tội “Tổ chức đánh bạc” theo Điểm a, c, d Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Bị cáo Nguyễn Đức T2 về tội “Gá bạc” theo Điểm b, Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Huỳnh Công Đ, Phạm Văn T13, Nguyễn Thành V, Hà Quốc S7, Võ Đình K, Lê Đặng T17, Trịnh Văn H5, Trịnh Thạch S1, Phan Thanh H1, Đặng Thị Mỹ N, Phan Minh L3, Đỗ Huy H2, Nguyễn L1 về tội “Đánh bạc” theo Điểm b, Khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự; là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi của các bị cáo không chỉ xâm phạm đến nếp sống văn minh, trật tự công cộng mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Cân nhắc tính chất, mức độ, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo. Hội đồng xét xử, thấy:

[3.1] Bị cáo Nguyễn Hữu T trực tiếp khởi xướng, chuẩn bị công cụ, phương tiện, thuê địa điểm, rủ rê, lôi kéo và thuê đồng phạm chở người khác đến tham gia đánh bạc trong hai ngày, ngày đánh bạc nhiều nhất có số lượng người tham gia trên 10 người với số tiền 105.500.000 đồng, ngày đánh bạc ít nhất có số tiền 27.700.000 đồng, thu lợi bất chính 13.500.000 đồng, phạm tội thuộc trường hợp 02 lần trở lên, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; do đó cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và áp dụng hình phạt bổ sung để răn đe, giáo dục bị cáo; tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu vi phạm pháp luật; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong quá trình giải quyết vụ án; tự nguyện nộp 6.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính; có ông, bà ngoại là người có công với cách mạng; bản thân bị cáo tham gia, hoàn thành nghĩa vụ quân sự và được tặng Giấy khen; nên Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để quyết định hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận.

[3.2] Bị cáo Nguyễn Đức T2 đã tham gia tích cực, cho bị cáo Nguyễn Hữu T thuê địa điểm là nhà tạm, nhà ở đang xây dựng của mình để tổ chức đánh bạc trong nhiều ngày, trong đó ngày 01/10/2024 số người tham gia đánh bạc trên 10 người, nhằm thu lợi bất chính, nên cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và áp dụng hình phạt bổ sung để răn đe, giáo dục bị cáo; tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu vi phạm pháp luật; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong quá trình giải quyết vụ án; tự nguyện nộp 5.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính; nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để quyết định hình phạt và hình phạt của bị cáo thấp hơn bị cáo Nguyễn Hữu T.

[3.3] Bị cáo Nguyễn Thành T4 vì hám lợi, do được bị cáo Nguyễn Hữu T trả tiền công, đã mượn xe ô tô chở người đến tham gia đánh bạc trong hai ngày 30/9/2024 và ngày 01/10/2024, nên phạm tội thuộc trường hợp 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; do đó cần xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và áp dụng hình phạt bổ sung để răn đe, giáo dục bị cáo; tuy nhiên, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu vi phạm pháp luật; sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong quá trình giải quyết vụ án; tự nguyện nộp 2.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính; có bố từng phục vụ trong ngành Công an và có nhiều thành tích khi còn công tác; nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để quyết định hình phạt và hình phạt của bị cáo thấp hơn bị cáo Nguyễn Đức T2.

[3.4] Các bị cáo Đỗ Huy H2, Trịnh Thạch S1, Phan Thanh H1, Đặng Thị Mỹ N, Nguyễn L1 biết rõ hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là trái phép, nhưng để thu lợi bất chính đã tham gia đánh bạc trong hai ngày 30/9/2024 và ngày 01/10/2024, phạm tội thuộc trường hợp 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; hơn nữa, bị cáo H2 là người có nhân thân xấu, nhưng không tích cực sửa chữa lỗi lầm, lại tiếp tục phạm tội nên cần xử phạt thoả đáng. Tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong quá trình giải quyết vụ án; tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính, trong đó các bị cáo H2, S1, H1, N mỗi bị cáo nộp 5.000.000 đồng, bị cáo L1 nộp 4.000.000 đồng; bên cạnh đó, bị cáo H2 còn có người thân là người có công với cách mạng; bị cáo S1 tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự; các bị cáo H1, bị cáo N là vợ chồng có hoàn cảnh gia đình thực sự khó khăn được chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú xác nhận; bản thân bị cáo N thường xuyên đau bệnh, lần đầu vi phạm pháp luật, 02 con còn nhỏ, đang tuổi ăn học, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016 phải có người chăm sóc. Các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để lượng hình cho phù hợp. Mặt khác, bị cáo N phạm tội vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; trong đó tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên”, nhưng cả 02 lần tham gia đánh bạc, bị cáo chỉ là người ngồi sau lưng chồng, không trực tiếp cá cược, nên chỉ là người giúp sức trong vụ án đồng phạm với vai trò không đáng kể; hơn nữa, số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo N được hưởng vẫn nhiều hơn số tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo, đồng thời cho bị cáo N được hưởng chính sách hình sự tại Điều 65 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, thể hiện tính nhân văn, nên chấp nhận.

[3.5] Các bị cáo Phan Minh L3, Phạm Văn T13, Trịnh Văn H5, Võ Đình K, Nguyễn Thành V đều có nhân thân xấu, nhưng không tích cực sửa chữa lỗi lầm, biết rõ hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là trái phép, nhưng để thu lợi bất chính lại tiếp tục phạm tội đánh bạc; do đó cần xử phạt nghiêm, đồng thời cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt bổ sung để răn đe, giáo dục và ngăn ngừa chung cho xã hội; tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong quá trình giải quyết vụ án; tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính, trong đó bị cáo T13 nộp 6.000.000 đồng; các bị cáo L3, K, V, H5 mỗi bị cáo nộp 5.000.000 đồng; bị cáo K, bị cáo V là lao động chính, có hoàn cảnh gia đình thực sự khó khăn được chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú xác nhận; bị cáo H5, bị cáo T13 có người thân là người có công với cách mạng; nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự, để quyết định hình phạt cho phù hợp.

[3.6] Các bị cáo Lê Đặng T17, Hà Quốc S7, Huỳnh Công Đ, biết rõ hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền là trái phép, nhưng để thu lợi bất chính lại tiếp tục phạm tội đánh bạc; do đó cần xử phạt thoả đáng, với mức án ngang bằng nhau, đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung để răn đe, giáo dục và ngăn ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, sau khi phạm tội các bị cáo đều thành khẩn khai báo; quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà còn tích cực hợp tác với cơ quan chức năng nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án; đến nay mỗi bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính để nộp ngân sách nhà nước, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo đều là lao động chính, có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú xác nhận. Các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, lần đầu vi phạm pháp luật. Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị cho các bị cáo được hưởng chính sách hình sự tại các Điều 54, 65 Bộ luật Hình sự là nhân văn, phù hợp pháp luật, nên chấp nhận.

[4] Về xử lý vật chứng:

[4.1] - 02 (Hai) chiếc chiếu cói, kích thước (2,1 x 2,9)m;

- 01 (Một) miếng nhựa kích thước (0.8 x 0.95)m, có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai;

- 02 (Hai) đĩa kim loại màu trắng bạc, kích thước (0,156 x 0,019)m;

- 02 (Hai) chén kim loại màu trắng bạc, kích thước (0,136 x 0,045)m;

- 08 (T23) ghế nhựa màu đỏ, kích thước (0,67 x 0,48 x 0,35)m, trong đó có 01 ghế nhựa bị gãy phần chân ghế. Các ghế đã qua sử dụng;

- 16 (Mười sáu) hột xốp hình lập phương có cạnh 0,023m, in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai;

- 12 (Mười hai) tờ giấy in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai.

Là công cụ phạm tội và không còn giá trị sử dụng, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tịch thu tiêu hủy theo Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4.2] - 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu vàng, có gắn thẻ sim số 0362414626, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong của máy, đã được niêm phong của Trịnh Thạch S1;

- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xám, có gắn thẻ sim số 0966734639, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong của máy, đã được niêm phong và 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu trắng, có gắn thẻ sim số 0969159691, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong của máy, đã được niêm phong của Đặng Thị Mỹ N.

Do các bị cáo đều bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, tiếp tục tạm giữ tài sản trên để đảm bảo thi hành án theo Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4.3] Số tiền 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng) thu giữ tại chiếu bạc. Là tiền của các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan dùng làm phương tiện phạm tội, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điểm a, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[5] Về biện pháp tư pháp: Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính, nếu có bị cáo nào chưa nộp đủ thì phải tiếp tục nộp; nếu có bị cáo không thu lợi bất chính nhưng vẫn tự nguyện nộp hoặc có thu lợi bất chính nhưng nộp dư mà tự nguyện không nhận lại thì không tuyên trả, mà cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cụ thể như sau:

  • Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T nộp lại số tiền thu lợi bất chính 13.500.000 đồng, bị cáo đã nộp 6.000.000 đồng, còn thiếu 7.500.000 đồng buộc bị cáo phải tiếp tục nộp để sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Buộc bị cáo Phạm Văn T13 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 6.000.000 đồng, bị cáo đã nộp đủ 6.000.000 đồng.
  • Buộc bị cáo Huỳnh Công Đ nộp lại số tiền thu lợi bất chính 3.000.000 đồng, bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng, số tiền còn dư 2.000.000 đồng do bị cáo tự nguyện không nhận lại, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Buộc bị cáo Trịnh Văn H5 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 4.000.000 đồng, bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng, số tiền còn dư 1.000.000 đồng do bị cáo tự nguyện không nhận lại, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Buộc bị cáo Phan Minh L3 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng, bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng, số tiền còn dư 4.000.000 đồng do bị cáo tự nguyện không nhận lại, nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền do các bị cáo tự nguyện nộp, gồm: Của các bị cáo Nguyễn Đức T2, Nguyễn Thành V, Võ Đình K, Lê Đặng T17, Hà Quốc S7, Trịnh Thạch S1, Đỗ Huy H2, Phan Thanh H1, Đặng Thị Mỹ N mỗi bị cáo 5.000.000 đồng, của bị cáo Nguyễn L1 4.000.000 đồng, của bị cáo Nguyễn Thành T4 2.000.000 đồng.

[6] Về án phí:

[6.1] Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Thành T4, Nguyễn Đức T2, Huỳnh Công Đ, Phạm Văn T13, Nguyễn Thành V, Hà Quốc S7, Võ Đình K, Lê Đặng T17, Trịnh Văn H5, Trịnh Thạch S1, Phan Thanh H1, Đặng Thị Mỹ N, Phan Minh L3, Đỗ Huy H2, Nguyễn L1 bị kết án phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7] Đối với nhóm người ở Quảng Ngãi và một số người khác tham gia đánh bạc ngày 30/9/2024 và ngày 01/10/2024 nhưng quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của những người này nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

  • Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Thành T4 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”;
  • Bị cáo Nguyễn Đức T2 phạm tội “Gá bạc”;
  • Các bị cáo Huỳnh Công Đ, Phạm Văn T13, Nguyễn Thành V, Hà Quốc S7, Võ Đình K, Lê Đặng T17, Trịnh Văn H5, Trịnh Thạch S1, Phan Thanh H1, Đặng Thị Mỹ N, Phan Minh L3, Đỗ Huy H2, Nguyễn L1 phạm tội “Đánh bạc”.

1. Về hình phạt:

  • Áp dụng Điểm a, c, d Khoản 1, Khoản 3 Điều 322; Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; phạt:
    1. Bị cáo Nguyễn Hữu T – 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giam từ ngày 09/10/2024 đến ngày 03/01/2025.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Hữu T 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng).

  • Áp dụng Điểm b Khoản 1, Khoản 3 Điều 322; Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; phạt:
    1. Bị cáo Nguyễn Đức T2 – 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Gá bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đức T2 35.000.000₫ (Ba mươi lăm triệu đồng).

  • Áp dụng Điểm a, c, d Khoản 1, Khoản 3 Điều 322; Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; phạt:
    1. Bị cáo Nguyễn Thành T4 – 01 (Một) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 09/10/2024 đến ngày 03/01/2025.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thành T4 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).

  • Áp dụng Điểm b Khoản 2, Khoản 3 Điều 321; Điểm s, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; thêm Điểm g, Khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phan Thanh H1, Đỗ Huy H2, Trịnh Thạch S1, Nguyễn L1, Đặng Thị Mỹ N; thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Đặng Thị Mỹ N, Lê Đặng T17, Hà Quốc S7, Huỳnh Công Đ; phạt:
    1. Bị cáo Phan Thanh H1 – 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Phan Thanh H1 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).

    1. Bị cáo Đỗ Huy H2 – 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Đỗ Huy H2 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng).

    1. Bị cáo Trịnh Thạch S1 – 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, vê tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/10/2024 đến ngày 10/10/2024.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Trịnh Thạch S1 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).

    1. Bị cáo Nguyễn L1 – 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn L1 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).

    1. Bị cáo Phan Minh L3 – 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Phan Minh L3 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).

    1. Bị cáo Phạm Văn T13 – 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Phạm Văn T13 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).

    1. Bị cáo Trịnh Văn H5 – 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/10/2024 đến ngày 10/10/2024.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Trịnh Văn H5 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng).

    1. Bị cáo Võ Đình K – 01 (Một) năm tù, về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Võ Đình K 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).

    1. Bị cáo Nguyễn Thành V – 01 (Một) năm, về tội “Đánh bạc”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo thi hành án, nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 01/10/2024 đến ngày 10/10/2024.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thành V 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).

    1. Bị cáo Đặng Thị Mỹ N – 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Đặng Thị Mỹ N 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).

    1. Bị cáo Lê Đặng T17 – 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Lê Đặng T17 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).

    1. Bị cáo Hà Quốc S7 – 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Hà Quốc S7 25.000.000₫ (Hai mươi lăm triệu đồng).

    1. Bị cáo Huỳnh Công Đ – 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 02 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    2. Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Công Đ 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng).

Giao bị cáo Đặng Thị Mỹ N cho Ủy ban nhân dân phường N, thị xã A, tỉnh Bình Định; các bị cáo Lê Đặng T17, Hà Quốc S7 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; bị cáo Huỳnh Công Đ cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời hạn thử thách, trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Gia đình các bị cáo Đặng Thị Mỹ N, Lê Đặng T17, H, Huỳnh Công Đ có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  1. Tịch thu tiêu hủy:
    • 02 (Hai) chiếc chiếu cói, kích thước (2,1 x 2,9)m;
    • 01 (Một) miếng nhựa kích thước (0.8 x 0.95)m, có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai;
    • 02 (Hai) đĩa kim loại màu trắng bạc, kích thước (0,156 x 0,019)m;
    • 02 (Hai) chén kim loại màu trắng bạc, kích thước (0,136 x 0,045)m;
    • 08 (T23) ghế nhựa màu đỏ, kích thước (0,67 x 0,48 x 0,35)m, trong đó có 01 ghế nhựa bị gãy phần chân ghế. Các ghế đã qua sử dụng;
    • 16 (Mười sáu) hột xốp hình lập phương có cạnh 0,023m, in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai;
    • 12 (Mười hai) tờ giấy in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai;
  2. Tiếp tục tạm giữ tài sản trên để đảm bảo thi hành án:
    • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro, màu vàng, có gắn thẻ sim số 0362414626, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong của máy, đã được niêm phong của Trịnh Thạch S1;
    • 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xám, có gắn thẻ sim số 0966734639, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong của máy, đã được niêm phong và 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO, màu trắng, có gắn thẻ sim số 0969159691, máy đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong của máy, đã được niêm phong của Đặng Thị Mỹ N.

Vật chứng còn lại có đặc điểm mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 4 năm 2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

  1. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng) thu giữ tại chiếu bạc (theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 01/10/2024 BL 210-212).

3. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46; Khoản 1, Khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • Buộc bị cáo Nguyễn Hữu T nộp lại số tiền thu lợi bất chính 13.500.000 đồng, đã nộp 6.000.000 đồng (theo Biên bản giao nhận ngày 27/02/2025 BL 285), còn phải tiếp tục nộp 7.500.000 (Bảy triệu, năm trăm nghìn) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
  • Buộc bị cáo Phạm Văn T13 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 6.000.000 đồng, bị cáo đã nộp đủ 6.000.000 đồng (theo Biên bản giao nhận ngày 28/02/2025 BL 292).
  • Buộc bị cáo Huỳnh Công Đ nộp lại số tiền thu lợi bất chính 3.000.000 đồng, bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng (theo Biên bản giao nhận ngày 28/02/2025 BL 287), dư 2.000.000 đồng.
  • Buộc bị cáo Trịnh Văn H5 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 4.000.000 đồng, bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng (theo Biên bản giao nhận ngày 06/3/2025 do ông Trịnh Văn B1 nộp thay Trịnh Văn H5 BL 293), dư 1.000.000 đồng.
  • Buộc bị cáo Phan Minh L3 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 1.000.000 đồng, bị cáo đã nộp 5.000.000 đồng (theo Biên bản giao nhận ngày 28/02/2025 BL 288), dư 4.000.000 đồng.
  • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền các bị cáo đã nộp còn dư nhưng không có yêu cầu nhận lại, cụ thể:
    • Bị cáo Huỳnh Công Đ 2.000.000 đồng,
    • Bị cáo Trịnh Văn H5 1.000.000 đồng
    • Bị cáo Phan Minh L3 4.000.000 đồng;
    • Số tiền do các bị cáo tự nguyện nộp, cụ thể: Các bị cáo Nguyễn Đức T2, Nguyễn Thành V, Võ Đình K, Lê Đặng T17, Hà Quốc S7, Trịnh Thạch S1, Đỗ Huy H2, Phan Thanh H1, Đặng Thị Mỹ N mỗi bị cáo 5.000.000 đồng (theo các Biên bản giao nhận các ngày 20-27-28/02 và 05/3/2025 BL 280, 281, 282, 283, 284, 286, 287, 288, 290, 294), bị cáo Nguyễn L1 4.000.000 đồng (theo Biên bản giao nhận ngày 28/02/2025 BL 289), bị cáo Nguyễn Thành T4 2.000.000 đồng (theo Biên bản giao nhận ngày 28/02/2025 BL 291). Và 1.340.000 đồng là số tiền của bị cáo Trịnh Văn H5 bị thu giữ khi bắt quả tang (theo Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 01/10/2024, BL 199 – 200 và Biên bản hỏi cung bị can ngày 03/4/2025, BL 1419 -1420)

Cùng với số tiền 26.000.000đ (Hai mươi sáu triệu đồng) thu giữ tại chiếu bạc (theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 01/10/2024 BL 210-212), tổng số tiền 105.340.000đ (Một trăm lẻ năm triệu, ba trăm bống mươi nghìn đồng) đã được Cơ quan điều tra nộp vào tài khoản Cơ quan Cảnh sát điều tra mở tại Kho bạc Nhà nước chi nhánh P1 theo Giấy nộp tiền ngày 10/3/2025).

4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Nguyễn Hữu T, Nguyễn Thành T4, Nguyễn Đức T2, Huỳnh Công Đ, Phạm Văn T13, Nguyễn Thành V, Hà Quốc S7, Võ Đình K, Lê Đặng T17, Trịnh Văn H5, Trịnh Thạch S1, Phan Thanh H1, Đặng Thị Mỹ N, Phan Minh L3, Đỗ Huy H2, Nguyễn L1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết công khai.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Công Danh

Võ Chùm

Võ Nguyên Tùng

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - CQ CSĐT CA. tỉnh Phú Yên;
  • - Phòng HSNV Công tỉnh Phú Yên;
  • - Cục THADS tỉnh Phú Yên;
  • - CQTT, NTGTT;
  • - P. KTNV THAHS;
  • - Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Nguyên Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 27/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về vụ án hình sự về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 27 2025 - BẢN ÁN HSST - Nguyễn Hữu Thành và ĐP Đ 321 322
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger