|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HS-ST
Ngày 27 - 3 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN – TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thơm.
Ông Phạm văn Hay.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố sầm sơn tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2025/TLST- HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 3 năm 2025, đối với:
-
- Bị cáo: Nguyễn Văn G - Sinh năm 1993.
Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 20 tháng 8 năm 2021,
Nơi cấp: Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C.
ĐKNKTT: Tổ dân phố X, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Bố: Nguyễn Văn T; Mẹ: Nguyễn Thị H; Bố, Mẹ bị cáo sinh được 2 người con. G là con đầu; Vợ: Cao Thị H1, có 3 con, con lớn nhất sinh năm 2019, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại có lệnh “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt tại phiên tòa.
-
- Bị hại: Công ty cổ phần Q.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Đức N - Giám đốc.
Địa chỉ: Số A, đường N, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Đức L, sn 1982.
Địa chỉ: Xã M, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt.
-
- Người làm chứng: 1. Anh Lê Trọng H2 – sinh năm 1991.
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
2. Anh Văn Đình H3 - sinh năm 1994.
-
Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
3. Anh Cao văn H4 – sinh năm 1982.
Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường B, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
4. Anh Nguyễn Hữu L1 - sinh năm 1983.
Địa chỉ: Tổ dân phố X, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
5. Anh Dư Xuân T1 – sinh năm 1984.
Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
6. Anh Vũ Đức L2 - sinh năm 1995.
Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
7. Anh Nguyễn Xuân Đ - sinh năm 1987.
Địa chỉ: Tổ dân phố Y, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
(Các nhân chứng nêu trên đều vắng mặt tại phiên tòa)
8. Anh Ngô Văn G1 - sinh năm 1990. Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố C, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 8 giờ ngày 31/01/2025, Nguyễn Văn G, sinh năm 1993 ở tổ dân phố X, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, là nhân viên bảo vệ Công ty TNHH B, BĐS 247 đang thực hiện nhiệm vụ trực gác tại cổng chính của khu Công trường Công viên chuyên đề của tập đoàn S, thuộc phường Q, thành phố S nảy sinh ý định lấy trộm các thanh sắt chữ I và chữ U là vật tư xây dựng khu công viên chuyên đề của Công ty cổ phần Q ở khu công trường để bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Nguyễn Văn G đã gọi điện cho Ngô Văn G1, sinh năm 1990 ở TDP C, phường Q, thành phố S nhờ G1 tìm xe cẩu và mối thu mua sắt giúp G thì G1 đồng ý, sau đó G1 gọi điện thoại cho Dư Xuân T1, sinh năm 1984 ở TDP V, phường T, thành phố S nói là có sắt vụ trong công trường Sungroup cần bán và nói T1 là phải thuê xe cẩu đồng thời hỏi giá thì T1 báo mua sắt với giá 8.000đ/1kg, G1 đồng ý, đến khoảng 11 giờ cùng ngày G1 báo lại với G là đã có xe cẩu và có người thu mua với giá 7.500đ/1kg thì G đồng ý thuê xe và bán với mức giá trên. Sau đó, G gọi điện cho Vũ Đức L2, sinh năm 1995 ở TDP V, phường T, thành phố S nhờ mua nước ngọt và thuốc lá đem ra chốt gác cho G, tại đây G đã nhờ Vũ Đức L2. Khoảng 12 giờ ra cây xăng Q1, thành phố S đón và dẫn đường cho xe cẩu vào khu công trường, sau đó G dẫn L2 ra khu vực để sắt, đến 12 giờ cùng ngày khi L2 đến khu vực cây xăng Q1 thì gặp Dư Xuân T1 và Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 1987 ở TDP Y, phường Q, thành phố S (Lái xe cẩu), L2 lên xe cẩu cùng Đ1 đi đến cổng bảo vệ nơi G đang trực, thấy L2 đang ngồi trên xe cẩu thì G mở barie cho xe cẩu vào, lúc này T1 đi xe máy cùng với anh Nguyễn Hữu L1, sinh năm 1983 ở TDP X, phường Q đến cổng thì T1 xuống xe đi bộ vào bên trong, còn L1 quay xe đi về. Khi Vũ Đức L2, T1, Đảm đang cẩu sắt lên xe được 19 thanh sắt hình chữ I có trọng lượng 894kg và 08 thanh sắt hình chữ U có trọng lượng 776kg thì bị anh Lê Trọng H2 là ca trưởng, sinh năm 1991 ở TDP T, phường Q, thành phố T là nhân viên bảo vệ của Công ty TNHH B, BĐS 247 đang làm nhiệm vụ tuần tra tại Công trường phát hiện ngăn chặn và báo Công an. Lúc này, T1 yêu cầu Đ1 cẩu sắt từ trên xe xuống để lại vị trí cũ.
Tại hiện trường Cơ quan điều tra đã thu giữ: 19 thanh kim loại màu xám thẳng dạng chữ I; 08 thanh kim loại màu xám được uốn cong dạng chữ U và 01xe ô tô tải màu trắng dạng xe cẩu, BKS: 36C-376.98.
Tại bản Kết luận giám định số 02/KL-HĐĐGTS ngày 18/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản thuộc UBND thành phố S, kết luận: Giá trị của 19 thanh kim loại màu xám trắng hình chữ I được đánh số từ 01 đến 19, có tổng khối lượng là 894kg tại thời điểm định giá ngày 31/01/2025 là 6.705.000đồng. Giá trị của 8 thanh kim loại màu xám hình chữ U được đánh số từ 1 đến 8, có khối lượng 776kg tại thời điểm định giá ngày 31.01.2025 là: 5.820.000đồng. Như vậy tổng giá trị tài sản là: 12.525.000đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 USB nhãn hiệu Kington màu trắng, bên trong chứa một đoạn video ký hiệu 6276877076716. Mp4, kích cỡ 4,04MB do Lê Trọng H2 giao nộp chứa hình ảnh liên quan đến vụ việc.
Tại kết luận giám định số 908/KL-KTHS ngày 20/02/2025 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa cắt ghép nội dung hình ảnh trong 01 tệp vi deo của 01 USB gửi giám định, tệp video gửi giám định có tính liên tục.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn G khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị can phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghãi vụ liên quan, người làm chứng và tài liệu, vật chứng do Cơ quan CSĐT thu giữ tại hiện trường.
Về vật chứng của vụ án: 19 thanh kim loại màu xám thẳng dạng chữ I; 08 thanh kim loại màu xám được uốn cong dạng chữ U ngày 19/02/2025, Cơ quan điều tra đã đã trả lại cho người đại diện của Công ty cổ phần Q là anh Nguyễn Đức L. Công ty cổ phần Q không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Văn G.
Đối với 01 xe oto tải màu trắng BKS: 36C- 376.98, Cơ quan CSĐT Công an thành phố S đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Xuân Đ1.
Cáo trạng số 29 /CTr-VKS-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố Nguyễn Văn G, về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm h điểm i điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 57 Bộ luật hình sự; xử phạt: Nguyễn Văn G, mức án từ 9 tháng đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Về trách nhiệm dân sự: Đơn vị bị hại là Công ty cổ phần Q đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên miễn xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng, án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiển tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
- Đối với bị hại: Tại phiên tòa vắng mặt nhưng quá trình giải quyết vụ án đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, xử bị cáo mức án thấp nhất và cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương để có điều kiện rèn luyện bản thân sớm trở thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án không ai khiếu nại gì về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
[2]. Về căn cứ kết tội: Từ nội dung vụ án phản ánh nêu trên có đủ căn cứ xác định vào khoảng 12 giờ ngày 31/01/2025, Nguyễn Văn G là nhân viên bảo vệ của Công ty TNHH B, BĐS 247 đang làm nhiệm vụ trực gác tại cổng chính tại khu Công trường Công viên chuyên đề của tập đoàn S1 thuộc phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa đã có hành vi trộm cắp tài sản của Công ty cổ phần Q, tổng cộng 27 thanh kim loại. Qua định giá là: 12.525.000đồng.
Cáo trạng số 29 /CTr-VKS-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa truy tố Nguyễn Văn G, về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án: Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người quản lý tài sản, G đã cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây tâm lý hoang mang lo lắng, bất bình đối với quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an xã hội tại Công trường và trên địa bàn dân cư. Hành vi phạm tội của G đã hoàn thành vì tài sản đã được đưa lên xe để chuẩn bị dịch chuyển khỏi vị trí ban đầu, trong quá trình đang chuẩn bị dịch chuyển thì bị người khác phát hiện, ngăn chặn kịp thời. việc phạm tội chưa đạt là ngoài mục đích, ngoài ý muốn của bị cáo. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải được xử lý nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi, hậu quả phạm tội của bị cáo để bị cáo thấy được sự nghiêm minh của pháp luật.
[4]. Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy rằng: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Quá trình giải quyết vụ án khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, hành vi phạm tội của bị cáo đã ngay lập tức bị phát hiện và ngăn chặn kịp thời nên chưa gây thiệt hại gì đối với đơn vị bị hại. Đơn vị bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản và không có yêu cầu gì khác ngoài ra còn có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã có thời gian tham gia quân đội và hoàn thành nghĩa vụ trở về địa phương sinh sống, hiện nay các con của bị cáo đều còn nhỏ, kể từ khi thực hiện hành vi bị cáo chưa có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, tính chất nguy hiểm hành vi phạm tội của bị cáo đến nay cũng đã được giảm đi đáng kể. Do đó khi lượng hình cũng cần xem xét đến tính chất, mức độ hành vi và hậu quả, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo không cần thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Đơn vị bị hại đã nhận lại đầy đủ tài sản và không có yêu cầu gì khác nên miễn xét.
[6]. Về án phí: Cần xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: - Khoản 1 Điều 173; điểm h điểm i điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 57 Bộ luật hình sự;
- Điều 61; 62; 331; 333; 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
- Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14, quy định về án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên bố: Nguyễn Văn G, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Văn G, 9 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Văn G cho UBND phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Những người được hưởng án treo nếu thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 92 Luật thi án hình sự.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn G, phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự.
Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Văn Thơm; Phạm Văn Hay |
Bùi Thị Thuyên |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thuyên |
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN – TỈNH THANH HÓA về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN – TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
