TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 27/2025/HS-ST Ngày: 24/6/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cao Quang Như và ông Nguyễn Văn Thắng.
- Thư ký phiên toà: Bà Cao Trà My - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Trang Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2025/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:
1, Ngô Quang B, tên gọi khác: không; sinh ngày: 16 tháng 6 năm 2000, tại: Huyện Q, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm I, xã B, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Quang V; con bà: Đặng Thị C; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 09/10/2024 bị Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An, xử phạt 2.500.000 đồng, phạt bổ sung 500.000 đồng về hành vi: Trộm cắp tài sản (Quyết định số 81/QĐ-XPHC) - Chưa chấp hành; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/4/2025 đến nay. Có mặt.
2, Nguyễn Văn T, tên gọi khác: không; sinh ngày: 31 tháng 10 năm 2006, tại: Huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm N, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 10/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Đ; con bà: Nguyễn Thị Đ1; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 28/10/2024 bị Công an huyện D, tỉnh Nghệ An xử phạt 1.250.000 đồng về hành vi: Trộm cắp tài sản (Quyết định số 200/QĐ-XPHC) - Đã chấp hành xong ngày 29/10/2024; nhân thân: Ngày 31/3/2025 bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xử phạt 02 năm tù về
1
tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và 05 năm tù về tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt của 2 tội là 07 năm tù. (Bản án số 37/2025/HS-PT) – Bị cáo chưa chấp hành bản án; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/02/2025 đến nay. Có mặt.
- Người bị hại:
1, Ban quản lý cụm di tích Đền C2. Địa chỉ: Khối T, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Anh V1 chức vụ: Uỷ viên Ban Thường vụ Thị uỷ, Phó chủ tịch UBND thị xã, trưởng ban C2 Đền C2.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Hồ Ngọc Q – Phụ trách quản lý điều hành Đền C2 ngoài; sinh năm: 1966. Địa chỉ: Khối Q, phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).
2, Hội đồng mục vụ giáo xứ P. Địa chỉ: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.
Người đại diện hợp pháp của Hội đồng mục vụ giáo xứ P: Ông Nguyễn Hữu H - Phó chủ tịch Hội đồng mục vụ giáo xứ; sinh năm: 1981. Địa chỉ: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Đình Q1; sinh ngày: 04/3/2009. Địa chỉ: Xóm A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Đình Q1: Bà Nguyễn Thị T1; sinh năm: 1977. Địa chỉ: Xóm A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
Ông Đậu Như D; sinh năm: 1964. Địa chỉ: Khối H, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Anh Chu Minh Đ2; sinh năm: 1986. Địa chỉ: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 23 giờ 30 phút, ngày 19/01/2025, Nguyễn Văn T và Nguyễn Đình Q1 đang chơi game tại quán internet "Q" thuộc xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Để có tiền tiêu xài cá nhân Q1 rủ T đi trộm cắp tài sản tại một P tại huyện H, tỉnh Nghệ An. T đồng ý. Để có phương tiện đi trộm cắp, Q1 đã mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner X, màu cam, không gắn biển kiểm soát của một người tên thường gọi là S (Q1 không biết họ tên và địa chỉ cụ thể) cũng
2
đang chơi ở quán game. Q1 nói với S cho Q1 mượn xe để đi mua đồ ăn. Sói đồng ý. Lúc này, Ngô Quang B cùng ngồi chơi game trong quán biết T và Q1 chuẩn bị đi trộm cắp tài sản nên B xin đi cùng. T và Q1 đồng ý. Sau đó, B điều khiển xe mô tô (xe mượn của S) chở Q1 ngồi giữa, T ngồi sau đi vào thành phố V theo đường Q đến nhà thờ giáo để trộm cắp tài sản. Trên đường đi Q1 hỏi B về que móc để lấy tiền trong két. B nói, B đã chuẩn bị sẵn một đoạn sắt để móc tiền từ trước và hiện đang cất ở trong túi áo phao đang mặc. Đến khoảng 02 giờ ngày 20/01/2025, B chở Q1 và T đến nhà thờ giáo xứ P (thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An). Sau khi cất xe mô tô ở ngõ gần cổng nhà thờ giáo xứ cả 03 người trèo qua hàng rào đi vào bên trong nhà thờ, đi đến cửa phụ bên trái cửa chính hướng từ ngoài vào nhà thờ, thấy cửa không khóa mà chỉ khép hờ nên B đẩy cửa đi vào trước, Q1 và T đi theo sau. B sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen bật đèn Flash dọi xung quanh. Khi phát hiện có chiếc két sắt để phía bên trái cánh cửa (cạnh cột trụ), B đưa điện thoại để Q1 dọi đèn, còn B lấy đoạn sắt mà B đã chuẩn bị từ trước (đoạn sắt dài khoảng 20cm, một đầu dẹt và uốn cong) để bạy khe cửa của két sắt. Do bạy không được nên B, Q1 và T cùng nhau bê két sắt ra đặt ở sân nhà thờ với mục đích vận chuyển két sắt đi ra nơi khác. T ra ngoài dắt xe mô tô vào trong sân, rồi cả ba người cùng nhau bê két sắt lên xe. Sau đó, B điều khiển xe chở T, két sắt để ở giữa đưa đi cất dấu tại khu vực cánh đồng cách nhà thờ khoảng 200 mét, rồi quay lại đón Q1. Sau đó, để tránh bị phát hiện, B và T tiếp tục điều khiển xe chở két sắt đi vào sâu trong nghĩa trang gần đó còn Q1 đi bộ theo sau. Do không có dụng cụ để phá két nên B, T và Q1 tiếp tục điều khiển xe mô tô đi xung quanh tìm dụng cụ thì tìm thấy 01 xà beng làm bằng sắt ở bên đường. Sau khi có xà beng cả ba quay lại nghĩa trang nơi cất dấu két. Tại đây, cả ba người lật đáy két sắt lên rồi lần lượt từng người dùng xà beng chọc vào đáy két đến lúc đáy két bị thủng. Lúc này, T dùng tay móc tiền trong két ra còn Q1 và B cất tiền vào áo khoác của T. Chiếc xà beng và đoạn sắt dài thì bị B vứt lại. Sau đó, B điều khiển xe chở T ngồi giữa cầm áo có chứa tiền vừa trộm được, Q1 ngồi sau đi hướng theo đường tránh V2, ra quốc lộ A đến địa phận xã D, huyện D, Nghệ An đi vào nhà nghỉ “Hưng Quỳnh” thuê phòng để đếm và chia tiền. B là người kiểm đếm tiền, Q1 và T ngồi xem. Sau khi kiểm đếm tiền được 19.000.000đ thì B chia cho T số tiền 6.200.000đ, chia cho Quân số tiền 6.400.000đ, số tiền còn lại 6.400.000đ là của B. Chia tiền xong, cả ba đi xuống trả phòng rồi đi về quán internet "Quỳnh A" tiếp tục chơi game. Tại đây, Q1 trả xe cho S. Sau đó, cả ba đi về nhà. Số tiền trộm cắp được cả B, T và Q1 đã tiêu xài cá nhân hết. Số tiền 19.000.000đ này là tiền do các giáo dân tự nguyện đóng góp phục vụ cho hoạt động của P. Số tiền
3
này do Hội đồng mục vụ giáo xứ P trực tiếp quản lý và quyết định việc chi tiêu.
Vụ thứ hai: Vào khoảng 18 giờ ngày 02/4/2025, Ngô Quang B mang theo một chiếc tuốc nơ vít và một chiếc kìm điện đi đến khu vực Đền C2 ngoài (thuộc phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An). Thấy đông người nên B đứng ngoài quan sát và nhặt thêm 01 thanh gỗ để phục vụ việc trộm cắp tài sản. Đến 21 giờ cùng ngày, thấy xung quanh không có người nên B trèo tường rào đi vào phía trong đi đến gian nhà giữa của Đ3. Nhìn vào cửa sổ bên trái gian nhà B thấy phía trong có các hòm đựng tiền công đức. B sử dụng chiếc tuốc nơ vít, kìm và thanh gỗ cậy cửa sổ rồi đột nhập vào bên trong. Khi vào trong, B thấy có 02 chiếc hòm đựng tiền công đức bằng gỗ. B sử dụng tuốc nơ vít lần lượt cậy các hòm gỗ rồi lấy các tờ tiền mệnh giá từ 10.000đ trở lên. Sau đó, B tiếp tục đi vào giữa gian nhà thấy có một gian thờ ở phía trong có cửa bằng gỗ có móc khoá bằng thép mỏng, trong gian thờ này cũng để một hòm đựng tiền công đức. B sử dụng kìm cắt phần móc khoá để đi vào. Sau đó, B đã sử dụng tuốc nơ vít để cậy hòm đựng tiền công đức. Sau khi cạy được hòm, B lấy các tờ tiền mệnh giá từ 10.000đ trở lên. Trộm xong tiền, B mở cửa bên phải của gian nhà rồi thoát ra ngoài. Trên đường đi, B vứt bỏ tuốc nơ vít, thanh gỗ và chiếc kìm. Về đến nhà, B đưa toàn bộ số tiền trộm được ở Đền C ra kiểm đếm được số tiền 22.320.000₫ (Hai mươi hai triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) gồm nhiều mệnh giá khác nhau từ 10.000đ đến 500.000đ. B cất giấu toàn bộ số tiền này trong người. Đến sáng ngày 03/04/2025, B đi đến quán điện thoại “Minh Đ2” tại địa chỉ: Xóm A, xã Q, huyện Q, Nghệ An (quán điện thoại của anh Chu Minh Đ2). Tại đây, B mua của anh Đ2 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max màu xanh với giá 11.600.000 đồng, đồng thời B1 đưa cho anh Đ2 2.000.000đ tiền mặt và nhờ anh Đ2 chuyển số tiền 2.000.000đ vào khoản vào tài khoản Ngân hàng B2 số 8843941698 mang tên Ngô Quang B cho B.
Ngày 03/4/2025 B đi đầu thú đồng thời giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền còn lại là 8.720.000đ và chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐGTS, ngày 10/02/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND huyện H kết luận: “01 (một) két sắt màu xanh, kích thước 51cm x 80 cm x 30 cm (rộng, cao, dày) đã qua sử dụng được mua mới vào năm 2014 với giá 1.200.000 đồng, tại thời điểm định giá 20/01/2025 có trị giá 450.000₫”.
Cáo trạng số 27/CT-VKS-HN ngày 20/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Ngô Quang B và Nguyễn Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
4
Tại phiên tòa các bị cáo Ngô Quang B và Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi mà các bị cáo thực hiện giống như nội dung bản cáo trạng và nội dung vụ án như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Ngô Quang B và Nguyễn Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; Về hình phạt: Áp dụng vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Ngô Quang B từ 21 (hai mươi mốt) đến 24 (hai mươi tư) tháng tù. Đề nghị áp dụng Điều 56 BLHS để tổng hợp hình phạt 07 năm tù của Bản án số 37/2025/HS-PT của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 bản án; Áp dụng vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự đề nghị: Buộc bị cáo Ngô Quang B phải bồi thường cho Ban quản lý cụm di tích Đền C2 số tiền 13.600.000 đồng và bồi thường cho Nhà thờ giáo xứ P số tiền 6.550.000đ. Buộc Nguyễn Đình Q1 phải bồi thường cho Nhà thờ giáo xứ P số tiền 6.550.000đ; Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hìnhsự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên là hợp pháp.
[2]. Về chứng cứ xác định tội danh: Lời khai tại phiên tòa của các bị cáo là phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi
5
và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố và thẩm tra tại phiên tòa.
Có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 02 giờ ngày 20/01/2025, tại nhà thờ giáo xứ P thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Lợi dụng sơ hở trong việc trông coi và quản lý tài sản Ngô Quang B và Nguyễn Văn T cùng với Nguyễn Đình Q1 đã sử dụng một đoạn sắt có một đầu dẹt, uốn cong và một xà beng bằng kim loại để cạy phá két sắt để chiếm đoạt số tiền 19.000.000đ (bỏ trong két) của Hội đồng mục vụ giáo xứ P. Ngoài ra, vào ngày 02/4/2025, tại Đền C2 ngoài, thuộc phường Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, lợi dụng sơ hở của Ban C2, Ngô Quang B đã sử dụng một chiếc tuốc nơ vít, một chiếc kìm và một thanh gỗ cạy phá 03 hòm công đức bằng gỗ để chiếm đoạt số tiền 22.320.000₫ (tiền trong hòm gỗ).
Do các bị cáo Ngô Quang B và Nguyễn Văn T đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên hành vi của các bị cáo đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Đây là vụ án đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn. Vụ án xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu để chiếm đoạt tiền của các bị hại với số tiền 19.000.000đ và 22.320.000đ. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý nghiêm các bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4]. Đánh giá vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo:
- Về vai trò:
Bị cáo B có vai trò đầu tiên trong vụ án. Bị cáo là người chuẩn bị công cụ và là người trực tiếp thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản (trộm tiền) vào ngày 20/1/2025 và 02/4/2025 có với tổng số tiền 41.320.000đ. Bị cáo T có vai trò sau cùng trong vụ án, bị cáo đã cùng với bị cáo B và Nguyễn Đình Q1 thực hiện vụ trộm cắp tài sản vào ngày 20/1/2025 với số tiền 19.000.000₫.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo B phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cần xem xét cho cả 02 bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, ăn
6
năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Cần xem xét thêm cho bị cáo B sau khi phạm tội đã tự nguyện giao nộp số tiền 8.720.000đ để hoàn trả lại cho bị hại; xem xét cho bị cáo T có ông nội được tặng thưởng Bằng khen và bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền 6.350.000đ để bồi thường cho người bị hại. Nên bị cáo B và bị cáo T đều được hưởng những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[5]. Về hình phạt: Xét thấy: Mặc dù các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, do cả 02 bị cáo đều đã có tiền sự. Bị cáo B phạm tội nhiều lần, còn bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian chờ Tòa án phúc thẩm xét xử bản án hình sự sơ thẩm số 95/2024/HSST của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An nên cần phải cách ly cả 02 bị cáo một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và răn đe bị cáo.
Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp và nghiêm minh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh gia đình các bị cáo đều khó khăn. Nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (là hình phạt tiền) đối với các bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của Ban quản lý cụm di tích Đền C2 yêu cầu bị cáo Ngô Quang B phải tiếp tục bồi thường số tiền 13.600.000đ (Mười ba triệu sáu trăm ngàn đồng). Người đại diện hợp pháp của Hội đồng mục vụ giáo xứ P yêu cầu bị cáo Ngô Quang B, Nguyễn Văn T, Nguyễn Đình Q1 cùng người đại diện của Q1 phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt và bồi thường thiệt hại về tài sản là chiếc két sắt đã bị hỏng với tổng số tiền: 19.450.000 đồng. Ngoài ra họ không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Xét thấy:
- Do bị cáo B đã chiếm đoạt của Ban quản lý cụm di tích Đền C2 số tiền 22.320.000đ. Bị cáo đã tự nguyện hoàn trả số tiền 8.720.000đ cho Ban quản lý nên bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền 13.600.000₫.
- Do bị cáo B, bị cáo T cùng với Nguyễn Đình Q1 đã chiếm đoạt số tiền 19.000.000₫ của Hội đồng mục vụ giáo xứ P. Số tiền này các bị cáo đã phân chia như sau: Bị cáo T được phân chia 6.200.000đ; Bị cáo B được phân chia 6.400.000đ; Nguyễn Đình Q1 được phân chia 6.400.000đ, nên cần buộc các bị cáo phải bồi thường số tiền tương ứng được phân chia (Bị cáo B: 6.400.000đ; bị cáo T: 6.200.000đ; Nguyễn Đình Q1: 6.400.000₫).
- D, T và Q1 đã trực tiếp sử dụng xà beng phá làm hỏng chiếc két sắt của Hội đồng mục vụ giáo xứ P, chiếc két sắt được định giá là 450.000₫ nên cần
7
buộc B, T và Q1 phải liên đới bồi thường cho bị hại số tiền này. Chia kỷ phần buộc bị cáo B, bị cáo T và Nguyễn Đình Q1, mỗi người phải bồi thường cho bị hại số tiền 150.000đ.
Cộng số tiền từng người phải bồi thường như sau: Bình: 6.550.000đ; T 6.350.000₫ (Số tiền này mẹ bị cáo T đã tự nguyện nộp thay cho bị cáo tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên trước khi xét xử); Q1: 6.550.000₫.
Đối với Q1: Do Q1 mới trên 15 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi nên cần buộc người đại diện theo pháp luật của Q1 là bà Nguyễn Thị T1 phải liên đới cùng với Q1 thực hiện việc bồi thường thiệt hại.
[8]. Về vật chứng: Vật chứng vụ án còn lại phải xử lý gồm:
+ 01 (một) xà beng bằng kim loại có chiều dài 1,15 mét, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) két sắt màu xanh đã qua sử dụng có kích thước 51cm x 80 cm x 30 cm, phần đáy két đã bị thủng kèm theo 01 (một) tấm lót đáy bằng kim loại bị đục thủng nhiều chỗ.
+ 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, số IMEI: 350738649239630, máy đã qua sử dụng.
Xét thấy: Chiếc xà beng là công cụ mà các bị cáo nhặt ở đường và sử dụng để phá két sắt; chiếc két sắt là tài sản của Hội đồng mục vụ giáo xứ P, hiện đã hư hỏng, hiện cả hai đều không có giá trị và không sử dụng được nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với chiếc điện thoại mà bị cáo B đã sử dụng số tiền trộm được để mua điện thoại. Tuy nhiên, do Hội đồng xét xử đã buộc bị cáo B bồi thường đầy đủ số tiền đã chiếm đoạt nên cần trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại này.
[9]. Tham gia trong vụ án trộm tài sản vào ngày 20/01/2025 còn có Nguyễn Đình Q1. Tuy nhiên, do tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản Q1 chưa đủ 16 tuổi nên chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS. Nên cơ quan điều tra ra quyết định xử phạt hành chính đối với Q1 là đúng pháp luật.
Đối với hành vi dùng xà beng cạy phá két sắt làm hỏng chiếc két sắt của bị hại của bị cáo B và bị cáo T. Do 02 bị cáo chưa có tiền án, tiền sự về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản và do trị giá chiếc két sắt là 450.000₫ nên hành vi của 02 bị cáo không cấu thành tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản quy định tại Điều 178 BLHS.
Đối với hành vi của anh Chu Minh Đ2 (bán chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IphonePro Max, màu xanh cho bị cáo B và hành vi đổi tiền cho bị cáo từ tiền mặt sang nộp tiền vào tài quản Ngân hàng) là không cấu thành tội phạm vì anh B không biết nguồn gốc tiền của bị cáo là do phạm tội mà có,
[10] Đối với việc tổng hợp hình phạt đối với bị cáo T:
8
Xét thấy: Ngày 26/9/2024 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự và 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tổng hợp hình phạt của 2 tội là 07 năm tù (bản án số 95/2024/HSST). Sau đó, ngày 31/3/2025 Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm (Bản án số 37/2025/HS-PT) và tuyên giữ nguyên Bản án số 95/2024/HSST về phần hình phạt đối với bị cáo T.
Do bị cáo T hiện chưa chấp hành Bản án phúc thẩm số 37/2025/HS-PT ngày 31/3/2025 nên Hội đồng xét xử sẽ không tổng hợp hình phạt của 02 bản án. Khi bản án này có hiệu lực pháp luật thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền sẽ ban hành quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 3 Điều 56 BLHS.
[11]. Về án phí: Cần buộc: Bị cáo B phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Ngô Quang B phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Ngô Quang B 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 03/4/2025.
2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 09/02/2025.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo Ngô Quang B phải bồi thường cho Ban C2 số tiền 13.600.000đ (mười ba triệu sáu trăm nghìn đồng) và bồi thường cho Hội đồng mục vụ giáo xứ P số tiền 6.550.000₫ (sáu triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
9
Buộc Nguyễn Đình Q1 và bà Nguyễn Thị T1 phải liên đới bồi thường cho Hội đồng mục vụ giáo xứ P số tiền 6.550.000₫ (sáu triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).
Hội đồng mục vụ giáo xứ P được nhận tiền bồi thường tại Chi cục thi hành án dân sự số tiền là 6.350.000đ (sáu triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) (do gia đình bị cáo T tự nguyện nộp để bồi thường cho bị hại theo biên lai thu tiền số 0003332 ngày 13/6/2025).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi phải thi hành xong khoản tiền phải thi hành án, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
4. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) xà beng bằng kim loại có chiều dài 1,15 mét, đã qua sử dụng; 01 (một) két sắt màu xanh đã qua sử dụng có kích thước 51cm x 80 cm x 30 cm, phần đáy két đã bị thủng kèm theo 01 (một) tấm lót đáy bằng kim loại bị đục thủng nhiều chỗ.
Trả lại cho bị cáo Ngô Quang B: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu xanh, số IMEI: 350738649239630.
(Đặc điểm chi tiết của vật chứng được phản ánh tại biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 21/5/2024 giữa Công an tỉnh N với C1 ục thi"cục thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên).
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc: Bị cáo Ngô Quang B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.007.500đ án phí dân sự sơ thẩm. Cộng: 1.207.500đ (một triệu hai trăm linh bảy nghìn năm trăm đồng); bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cùng
10
người đại diện vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thanh |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Cao Quang Như Nguyễn Văn T2 | Nguyễn Thị Kim T3 |
11
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án trộm cắp tài sản
