|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ Bản án số: 27/2025/HS-ST Ngày: 24 – 02 – 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Bà Nguyễn Thị Mai Hồng
- - Bà Đỗ Thị Lệ Hằng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Cao Kỳ Quang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai (xét xử trực tuyến) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Phạm Ngọc T, Giới tính: Nữ; Sinh năm 1974; Nơi sinh: Cần Thơ; Nơi cư trú: 2 đường C, tổ C, khu V, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Không. Họ tên cha: Phạm Văn N, sinh năm 1936; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Ngọc Đ (chết), sinh năm 1944; Họ tên chồng: Đinh Huỳnh Thu H, sinh năm: 1964; Con ruột: 02 người, lớn sinh năm 1994, nhỏ sinh năm 2004. Tiền án; tiền sự: Chưa; Bị cáo bị tạm giữ ngày 14/11/2024 đến ngày 23/11/2024 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an quận N, bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần - Nhà tạm giữ công an quận N.
- Bị hại:
- + Ông Nguyễn Hữu T1, sinh năm 1965. Địa chỉ: số D khu V, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
- + Bà Đoàn Thị Thu O, sinh năm 2005. Địa chỉ: đường số A, chợ A, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- + Ông Nguyễn Hữu T2, sinh năm 2002. Địa chỉ: Nhà T N, khu V, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Lê Thị Mộng T3, sinh năm 1984. Địa chỉ: số C T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
- + Ông Huỳnh Quốc C, sinh năm 1975. Địa chỉ: A N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ 1: Vào khoảng 14 giờ 45 phút ngày 13/11/2024, Phạm Ngọc T thuê xe mô tô khách từ nhà nghỉ P tại khu dân cư 91B chở đến S, địa chỉ số C, đường C, phường X, quận N để tìm người quen thì phát hiện xe mô tô Honda AirBlade, biển số 65K1-315.61 của ông Nguyễn Hữu T1 là thợ sửa ống nước đang đậu ở hành lang trong nhà không người trông coi, trên xe còn cắm sẵn chìa khóa. T quan sát không thấy ai nên đến lấy trộm xe dẫn ra ngoài rồi nỗ máy tấu thoát. Sau đó, T sử dụng xe đi lại làm phương tiện thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản tiếp theo.
Vụ thứ 2: Vào khoảng 20 giờ ngày 13/11/2024, Phạm Ngọc T một mình điều khiển xe mô tô Honda AirBlade, biển số 65K1-315.61 đến tiệm giặt ủi An Nhiên, địa chỉ D hẻm E đường C, phường X, quận N, T vào giả vờ hỏi lấy quần áo gửi giặt, lợi dụng lúc chị Đoàn Thị Thu O tìm quần áo cho T thì T lấy trộm 01 điện thoại di động Iphone SE2 của chị O để trên bàn trong tiệm giặt ủi. Sau đó, T mang đến cửa hàng Đ1 địa chỉ A M, phường A, bán được 500.000 đồng.
Vụ thứ 3: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 13/11/2024, T đến nhà nghi B, địa chỉ số C, Hẻm A đường T, phường X, quận N, gặp anh Nguyễn Hữu T2 là nhân viên lễ tân nhà nghỉ B1, T hỏi mượn anh T2 1.000.000 đồng thì anh T2 không cho mượn; sau đó T2 nói T ra về thì T nhờ T2 dẫn xe giúp mình. Lợi dụng lúc anh T2 dẫn xe thì T lấy trộm điện thoại Oppo Reno8 Z 5G của anh T2 để trên quầy tiếp tân rồi chạy xe mô tô về khách sạn P1, để thuê phòng nghỉ qua đêm. Đến khoảng 10 giờ sáng ngày 14/11/2024, T mang điện thoại lấy trộm được của anh T2 đến cửa hàng điện thoại Quốc C, địa chỉ A đường N, phường A, quận N, bán được 700.000 đồng rồi T quay về khách sạn P1. Đến tối ngày 14/11/2024, Công an phường X mời T về Cơ quan Công an làm việc.
* Tang vật thu giữ:
- - 01 xe mô tô Honda AirBlade màu đen, số khung: RLHJF6300FZ540941, số máy JF63E1919650, biển số 65K1-315.61 đã qua sử dụng (thu giữ trong vụ trộm thứ 1).
- - 01 chìa khóa xe băng kim loại, cán mũ màu đen có logo và dòng chữ HONDA dùng để mở khóa xe mô tô 65K1-315.61;
- - 01 túi xách màu đen có hoa văn da beo vàng ánh kim, đã qua sử dụng;
- - 01 nón bảo hiểm loại lưỡi trai, màu nâu đã cũ, phía trên có dòng chữ V;
- - 01 đôi dép kẹp để màu đen, quai màu trắng;
- - 01 nón rộng vành, màu trắng - nâu nhạt;
- - 01 đôi dép cao su màu nâu, quai nơ màu chấm nâu-trắng-đen (có đòng chữ: CHARLES & KEILH);
- - 01 khẩu trang vài màu hồng, có ảnh trái tim và mèo cười;
- - Tiền Việt Nam 1.900.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá số 2465/KL - HĐĐG ngày 18/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển số 65K1-315.61 màu xám đen, số máy: JF63E1919650 ,số khung: RLHJF6300FZ540941, kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy 021864, tình trạng xe bình thường, đã qua sử dụng, trị giá 18.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno Z 5G, Ram 8/256GB, số I: 868062060785418. Tình trạng điện thoại hoạt động bình thường. Không có phụ kiện kèm theo, trị giá 3.500.000 đồng. Tổng trị giá các tài sản bị chiếm đoạt là 21.500.000 đồng (Bút lục 25-26)
- Tại Bản kết luận định giá số 2495/KL - HĐĐG ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE, màu trắng bạc, dung lượng không xác định. Tình trạng điện thoại hoạt động bình thường, đã qua sử dụng, trị giá 2.700.000 đồng (Bút lục 27)
Như vậy: Tổng trị giá các tài sản bị chiếm đoạt trong 03 vụ trộm cắp tài sản có trị giá là 24.200.000 đồng.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển số 65K1-315.61, màu xám đen, số máy: JF63E1919650,số khung: RLHJF6300FZ540941, qua xác minh do bà Lê Thị D vợ của ông Nguyễn Hữu T1 đứng tên chủ sở hữu.
Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển số 65K1-315.61, màu xám đen cho bà Lê Thị D; trả lại điện thoại di động Iphone SE2, màu trắng, số Imei: 356493102932651, số máy: MX9U2KH/A; số seri: FFXXCNGH3PLJT cho chị Đoàn Thị Thu O; trả lại điện thoại di động hiệu Oppo Reno Z 5G, Ram 8/256GB, số Imei: 868062060785418 cho anh Đoàn Hữu T4.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị D, anh Nguyễn Hữu T2, chị Đoàn Thị Thu O đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác. Chị Lê Thị Mộng T3 không yêu cầu trả lại số tiền 500.000 đồng mua điện thoại của bị can. Riêng anh Huỳnh Quốc C yêu cầu T trả lại số tiền 700.000 đồng.
Cáo trạng số 49/CT-VKSNK ngày 05/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Phạm Ngọc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo về tội danh và khung hình phạt như nội dung cáo trạng vì tại phiên tòa lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai cũng như các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại tòa thấy rằng bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; bị cáo Phạm Ngọc T đã lợi dụng sự sơ hở về quản lý tài sản của các bị hại, đã nhiều lần lấy trộm tài sản của ông Nguyễn Hữu T1, chị Đoàn Thị Thu O và anh Nguyễn Hữu T2 theo Kết luận định giá tài sản có giá trị là 24.200.000 đồng. Hành vi mà bị can thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Từ những phân tích nêu trên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015 tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 đề nghị mức hình phạt cho bị cáo Phạm Ngọc T, mức án từ: 02 (Hai) năm tù đến 02 (Hai) 06 (sáu) tháng tù.
Về vật chứng:
- - Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển số 65K1-315.61, màu xám đen, số máy: JF63E1919650,số khung: RLHJF6300FZ540941, qua xác minh do bà Lê Thị D vợ của ông Nguyễn Hữu T1 đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô cho bà Lê Thị D.
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE2, màu trắng bạc, dung lượng không xác định. Số Imei: 356493102932651, số máy: MX9U2KH/A; số seri: FFXXCNGH3PLJT, tình trạng điện thoại hoạt động bình thường, đã qua sử dụng trả lại cho bà Đoàn Thị Thu O.
- - 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno Z 5G, Ram 8/256GB, số I: 868062060785418. Tình trạng điện thoại hoạt động bình thường. Không có phụ kiện kèm theo trả lại cho anh Đoàn Hữu T4.
- - 01 túi xách màu đen có hoa văn da beo vàng ánh kim, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm loại lưỡi trai, màu nâu đã cũ, phía trên có dòng chữ Verpas; 01 đôi dép kẹp để màu đen, quai màu trắng; 01 nón rộng vành, màu trắng - nâu nhạt; 01 đôi dép cao su màu nâu, quai nơ màu chấm nâu-trắng-đen (có đòng chữ: CHARLES & KEILH); 01 khẩu trang vài màu hồng, có ảnh trái tim và mèo cười của bị cáo sử dụng trong qúa trình phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu huỷ;
- - Tiền Việt Nam 1.900.000 đồng: Trong đó có 1.200.000 đồng do bị cáo bán tài sản phạm tội mà có, số tiền 700.000 đồng còn lại là của bị cáo. Đề nghị tịch thu sung công 500.000 đồng; trả lại 700.000 đồng cho ông C; Trả lại cho bị cáo 700.000 đồng nhưng tạm giữ.
Về trách nhiệm dân sự.
- - Bà Lê Thị D, ông Nguyễn Hữu T2, bà Đoàn Thị Thu O đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
- - Bà Lê Thị Mộng T3 không yêu cầu trả lại số tiền 500.000 đồng mua điện thoại.
- - Ông Huỳnh Quốc C yêu cầu T trả lại số tiền 700.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Ngọc T không tranh luận về tội danh và mức hình phạt, bị cáo nói lời nói sau cùng xin xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, cũng như ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, thành phố Cần Thơ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-Về những chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:
[1] Về tội danh: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, thể hiện: các ngày 13/11/2024 và 14/11/2024 lợi dụng sự sơ hở của các bị hại, bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô Honda AirBlade màu đen, số khung: RLHJF6300FZ540941, số máy JF63E1919650, biển số 65K1-315.61 của bà Lê Thị D vợ của ông Nguyễn Hữu T1 đứng tên chủ sở hữu. Qua kết luận định giá số 2465/KL - HĐĐG ngày 18/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản xác định: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, biển số 65K1-315.61 màu xám đen, số máy: JF63E1919650, số khung: RLHJF6300FZ540941 tình trạng xe bình thường, đã qua sử dụng, trị giá 18.000.000 đồng và 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno Z 5G, Ram 8/256GB, số I: 868062060785418. Tình trạng điện thoại hoạt động bình thường. Không có phụ kiện kèm theo, trị giá 3.500.000 đồng. Tổng trị giá các tài sản bị chiếm đoạt là 21.500.000 đồng và kết luận định giá số 2495/KL - HĐĐG ngày 21/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE, màu trắng bạc, dung lượng không xác định. Tình trạng điện thoại hoạt động bình thường, đã qua sử dụng, trị giá 2.700.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành và trong 03 vụ trộm cắp tài sản có tổng trị giá là 24.200.000 đồng. Từ những phân tích nêu trên đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
[2] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, tình tiết giảm nhẹ này được quy định tại điểm i, s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 những tình tiết này là căn cứ để xem xét giảm nhẹ mức hình phạt dành cho bị cáo.
[3] Tính chất, mức độ ảnh hưởng của hành vi phạm tội: Hành vi mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Động cơ phạm tội của bị cáo là xem thường pháp luật, bản thân bị cáo đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực pháp luật thay vì phải biết sống đặt mình vào khuôn khổ của pháp luật nhưng vì thiếu ý thức, lười lao động và tham lam mà bị cáo lại cố ý vi phạm nên xác định đây là lỗi cố ý trực tiếp trong ý thức phạm tội của bị cáo. Thiết nghĩ cần phải có mức hình phạt tương xứng để giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Hội đồng xét xử thấy rằng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo trên cơ sở xem xét các căn cứ áp dụng tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự là thỏa đáng với toàn bộ diễn biến hành vi bị cáo đã thực hiện.
[4] Về tang vật, vật chứng:
- - Ghi nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận N, thành phố Cần Thơ đã xử lý trả lại 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno Z 5G cho ông Nguyễn Hữu T2 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone SE cho bà Đoàn Thị Thu O là phù hợp quy định của pháp luật.
- - Trả lại 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu Honda AirBlade màu đen, số khung: RLHJF6300FZ540941, số máy JF63E1919650, biển số 65K1-315.61, xe đã qua sử dụng. Đứng tên chủ sở hữu là của bà Lê Thị D (vợ của ông Nguyễn Hữu T1) cho ông T1.
- - 01 túi xách màu đen có hoa văn da beo vàng ánh kim, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm loại lưỡi trai, màu nâu đã cũ, phía trên có dòng chữ Verpas; 01 đôi dép kẹp để màu đen, quai màu trắng; 01 nón rộng vành, màu trắng - nâu nhạt; 01 đôi dép cao su màu nâu, quai nơ màu chấm nâu-trắng-đen (có đòng chữ: CHARLES & KEILH); 01 khẩu trang vài màu hồng, có ảnh trái tim và mèo cười, bị cáo sử dụng trong quá trình phạm tội và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ;
- - Tiền Việt Nam 1.900.000 đồng: Trong đó có 1.200.000 đồng do bán tài sản phạm tội mà có nên cần tịch thu 500.000 đồng; Trả lại 700.000 đồng còn lại là của bị cáo không liên quan đế hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- - Bà Lê Thị D, ông Nguyễn Hữu T2, bà Đoàn Thị Thu O đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác.
- - Bà Lê Thị Mộng T3 không yêu cầu trả lại số tiền 500.000 đồng mua điện thoại.
- - Ông Huỳnh Quốc C yêu cầu T trả lại số tiền 700.000 đồng.
[6] Về án phí: Bị cáo Phạm Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015; điểm i, s Khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt bị cáo: Phạm Ngọc T mức án 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 14 tháng 11 năm 2024.
- Về tang vật, vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
- + Tịch thu tiêu huỷ: 01 túi xách màu đen có hoa văn da beo vàng ánh kim, đã qua sử dụng; 01 nón bảo hiểm loại lưỡi trai, màu nâu đã cũ, phía trên có dòng chữ Verpas; 01 đôi dép kẹp để màu đen, quai màu trắng; 01 nón rộng vành, màu trắng - nâu nhạt; 01 đôi dép cao su màu nâu, quai nơ màu chấm nâu-trắng-đen (có đòng chữ: CHARLES & KEILH); 01 khẩu trang vài màu hồng, có ảnh trái tim và mèo cười;
- + Tiền Việt Nam 1.900.000 đồng tịch thu sung công 500.000 đồng; Trả 700.000 đồng cho ông Huỳnh Quốc C; Trả cho bị cáo 700.000 đồng nhưng tạm giữ để bảo thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo trả lại số tiền 700.000 đồng cho ông Huỳnh Quốc C (đã xử lý tại phần tang vật, vật chứng)
- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326 ngày 26/12/2016 buộc bị cáo Phạm Ngọc T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hai và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án; Bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương để được xem xét theo thủ tục phúc thẩm tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ĐỖ THỊ DIỄM TRANG |
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Thủy phạm tội
