TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:27/2025/HS-ST Ngày 22-8-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Chánh Bổn và ông Hoàng Luật.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thuỳ Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2025, tại Phòng xét xử A - Tòa án nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 07 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 08 năm 2025, Thông báo về việc thay đổi lịch xét xử số 99/TB-TA ngày 12/8/2025 đối với các bị cáo:
Nguyễn Sĩ T, sinh năm 1987, tại Đồng Nai (có mặt).
Nơi thường trú: ấp B, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai ( nay sau sáp nhập là KDC 6, ấp G, xã Đ, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952, anh chị em ruột 05 người, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình. Vợ: Đinh Thị D, sinh năm 1986, con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2018. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt ngày 07/01/2025, tạm giữ tại Phân trại tạm giam khu vực Đ đến ngày 10/01/2025 được khởi tố tại ngoại, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1983, tại Đồng Nai (có mặt)
Nơi thường trú: ấp B, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai ( nay sau sáp nhập là KDC 3, ấp G, xã Đ, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc H1, sinh năm:1958 và bà Trần Thị H2, sinh năm 1958, anh chị em ruột 06 người, bị cáo là con thứ 4 trong gia đình. Có vợ là Bùi Diễm M, sinh năm 1997, con 02 người, lớn nhất sinh năm 2014, nhỏ nhất sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 07/01/2025, tạm giữ tại Phân trại tạm giam khu vực Đ đến ngày 10/01/2025 được khởi tố tại ngoại, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Lê Thị Kim S, sinh năm 1973, tại Tiền Giang (có mặt).
Nơi thường trú: không xác định. Nơi ở hiện nay: ấp B, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai ( nay sau sáp nhập là ấp G, xã Đ, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn M1 (đã chết) và bà Lê Thị Đ (đã chết), anh chị em ruột 07 người, bị cáo là con út trong gia đình. Chồng: Nguyễn Đình P, sinh năm 1966, con: 03 người, lớn nhất sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt ngày 07/01/2025, tạm giữ tại Phân trại tạm giam khu vực Đ đến ngày 10/01/2025 được khởi tố tại ngoại, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Vòng A M3, sinh năm 1994, tại Đồng Nai (có mặt).
Nơi thường trú: ấp D, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay sau sáp nhập là số nhà C, phố E, ấp D, xã P, tỉnh Đồng Nai); nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Hoa; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vòng A M2, sinh năm:1959 và bà Lê Thị P1, sinh năm:1961, anh chị em ruột 04 người, bị cáo là con út trong gia đình. Chồng:Nguyễn Nhộc L, sinh năm 1988, con: 01 người, sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị bắt ngày 07/01/2025, tạm giữ tại Phân trại tạm giam khu vực Đ đến ngày 10/01/2025 được khởi tố tại ngoại, áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 07/01/2025, Công an xã G bắt quả tang Vòng A, Lê Thị Kim S, Nguyễn Hoàng A và Nguyễn Sĩ T đang có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức đánh bài “Cát tê” tại nhà của ông Vòng A K thuộc khu dân cư F, ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Tang vật thu giữ gồm:
- Tiền mặt 6.700.000 đồng, trong đó:
+T1 trên chiếu bạc tổng số tiền 5.700.000 đồng, bao gồm: T1 tại vị trí Mùi số tiền 3.600.000 đồng, tại vị trí S số tiền 500.000 đồng, tại vị trí Anh số tiền 1.300.000 đồng và tại vị trí T số tiền 300.000 đồng.
+ T1 trong người Anh số tiền 1.000.000 đồng.
- Dụng cụ đánh bạc: 01 bộ bài tây đã qua sử dụng.
Quá trình điều tra xác định:
Vòng A, Lê Thị Kim S, Nguyễn Hoàng A và Nguyễn Sĩ T có mối quan hệ quen biết với nhau.
Vào khoảng 12 giờ ngày 07/01/2025, Vòng A, Lê Thị Kim S, Nguyễn Hoàng A và Nguyễn Sĩ T cùng đi đến nhà ông Vòng A K (anh ruột của M3) để chơi. Tại đây, M3, S, A và T cùng rủ nhau tham gia đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài “cát tê".
Cách thức đánh bạc như sau:
Người chơi sử dụng bộ bài tây 52 lá, quy định giá trị lá bài từ lớn đến bé tương ứng từ A, K, Q, J, 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2 và chất cơ, rô, chuồn, bích. Mỗi người sẽ được chia 6 lá bài, ván bài được chia thành từng vòng. Người bắt đầu vòng chơi đánh xuống 1 lá bài, người tiếp theo (thứ tự ngược chiều kim đồng hồ) có hai lựa chọn: Đánh xuống bàn một lá bài cùng chất, độ giá trị lớn hơn lá bài vừa đánh hoặc úp xuống bàn một lá bài bất kỳ. Vòng chơi kết thúc khi tất cả mọi người đều đã đánh hoặc úp bài. Người chơi đánh xuống lá bài to nhất vòng được giữ lại (tồn) lá bài đó và được bắt đầu vòng tiếp theo.
Sau 4 vòng đầu: Những người không giữ được lá bài nào (không có tồn) sẽ bị xử thua ngay và dừng cuộc chơi (gục tùng). Nếu chỉ có một người có tồn thì người đó sẽ được xử thắng ngay (thắng tùng), ván bài kết thúc. Nếu nhiều hơn một người có tồn, những người này sẽ tiếp tục chơi vòng 5 tương tự như 4 vòng đầu. Vòng 6: Tất cả mọi người cùng ngửa lá bài trên tay mình. Cách tính tồn tương tự các vòng trước, người có tồn vòng 6 được xử thắng, ván bài kết thúc. Người thắng ván bài sẽ ăn 30.000 đồng của mỗi người chơi bị gục tùng và ăn 20.000 đồng của những người còn lại.
Các bị cáo tham gia đánh bạc đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì bị lực lượng Công an bắt quả tang cùng tang vật.
Khi tham gia đánh bạc, Nguyễn Sĩ T mang theo số tiền 3.100.000 đồng, T sử dụng toàn bộ số tiền trên vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc T thua 2.800.000 đồng, nên khi bị bắt tại vị trí của T số tiền 300.000 đồng.
Nguyễn Hoàng A mang theo số tiền 1.700.000 đồng, Anh sử dụng toàn bộ số tiền trên vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc Anh thắng 600.000 đồng, nên khi bị bắt thu giữ tại vị trí của Anh số tiền 1.300.000 đồng và thu trong người Anh số tiền 1.000.000 đồng.
Lê Thị Kim S mang theo số tiền 1.000.000 đồng, S sử dụng toàn bộ số tiền trên vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc S thua 500.000 đồng, nên khi bị bắt thu giữ tại vị trí của S số tiền 500.000 đồng.
Vòng A M3 mang theo số tiền 900.000 đồng, M3 sử dụng toàn bộ vào mục đích đánh bạc. Quá trình đánh bạc M3 thắng 2.700.000 đồng, nên khi bị bắt thu giữ trên chiếu bạc tại vị trí của M3 số tiền 3.600.000 đồng.
Như vậy, tổng số tiền có căn cứ các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc trái phép là 6.700.000 đồng.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Vòng A M3, Nguyễn Hoàng A, Lê Thị Kim S và Nguyễn Sĩ T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Tang vật thu giữ:
- Tiền mặt: Số tiền 6.700.000 đồng, 01 bộ bài tây.
Tại Bản cáo trạng số 142/CT-VKSĐQ ngày 12 tháng 06 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai, truy tố bị cáo Nguyễn Sĩ T, Nguyễn Hoàng A, Lê Thị Kim S và Vòng A M3 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Sĩ T, Nguyễn Hoàng A, Lê Thị Kim S và Vòng A M3 phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự và đề nghị xử mức phạt:
Bị cáo T từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo.
Bị cáo Hoàng A từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo.
Bị cáo S từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo.
Bị cáo M3 từ 06 tháng đến 09 tháng tù cho hưởng án treo.
Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên buộc mỗi bị cáo phải chịu án phí, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo T, A, S và M3 thừa nhận hành vi đánh bạc. Về hình phạt các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh:
Vào khoảng 16 giờ ngày 07/01/2025, tại nhà của anh V A Khìn thuộc khu dân cư F, ấp B, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là ấp G, xã Đ, tỉnh Đồng Nai ), Vòng A M3, Nguyễn Hoàng A, Lê Thị Kim S và Nguyễn Sĩ T đã có hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền dưới hình thức chơi bài “Cát tể”. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc là 6.700.000 đồng. Như vậy hành vi của T, A, S và M3 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Đồng Nai đã truy tố là có căn cứ pháp luật.
Về hình phạt:
Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức rõ việc đánh bạc bằng hình thức thức “Cát tể” thắng thua bằng tiền, dưới bất cứ hình thức nào đều bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng bất chấp sự trừng phạt của pháp luật mà phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng cho các bị cáo 01 mức án vừa đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra. Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn các bị cáo T, Hoàng A, S và M3 đều là người thực hành. Để đánh giá vai trò của từng bị cáo nhằm cụ thể hóa hình phạt như sau:
T và Hoàng A là người dùng số tiền cao nhất để đánh bạc nên hình phạt dành cho T, Hoàng A là cao nhất. S, M3 là người mang theo số tiền đánh bạc là gần bằng nhau và thấp nhất nên mức án thấp nhất.
Hội đồng xét xử sẽ xem xét áp dụng mức hình phạt dành cho các bị cáo tương ứng với số tiền mà các bị cáo đã sử dụng vào mục đích đánh bạc. Xét thấy các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết cách ly người phạm tội ra khỏi xã hội, nên cho các bị cáo được hưởng mức án treo cũng đủ nghiêm thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước. Đồng thời áp dụng thêm hình phạt bổ sung phạt tiền cho các bị cáo là phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo T, Hoàng A, S và M3 có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” thuộc trường hợp quy định tại điểm s, i khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra các bị cáo là người có nhân thân tốt, có trình độ học vấn thấp nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế, M3 là người dân tộc thiểu số, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 6.700.000 đồng và tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài tây đã qua sử dụng.
Các vấn đề khác:
Đối với anh Vòng A K, ngày 07/01/2025 các bị cáo sử dụng nhà của anh K làm địa điểm đánh bạc. Tuy nhiên quá trình điều tra xác định anh K không sinh sống tại căn nhà thuộc khu dân cư F, ấp B, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai mà cho em gái là Vòng A Mùi ở nhờ, anh K không biết các bị cáo có hành vi đánh bạc tại nhà của anh K nên không xử lý đối với anh K về hành vi “dùng nhà, chỗ ở, phương tiện, địa điểm khác của mình hoặc do mình quản lý để chứa chấp việc đánh bạc” quy định tại điểm b, khoản 4, điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021.
Về án phí:
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo cũng như mức hình phạt phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1, Điều 321; điểm i, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung 01 số điều của Nghị quyết số 02/2018.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Sĩ T, Nguyễn Hoàng A, Lê Thị Kim S và Vòng A M3 phạm tội: “ Đánh bạc”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Sĩ T 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01(một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/08/2025).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng A 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01(một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/08/2025).
Xử phạt bị cáo Lê Thị Kim S 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01(một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/08/2025).
Xử phạt bị cáo V A Mùi 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01(một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/08/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Sĩ T, Nguyễn Hoàng A và Lê Thị Kim S cho Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Đồng Nai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Vòng A M3 cho Ủy ban nhân dân xã P, tỉnh Đồng Nai để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng: Khoản 3, Điều 321 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo T, Hoàng A, S, M3.
Xử phạt bổ sung:
Bị cáo Nguyễn Sĩ T bị phạt tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng)
Bị cáo Nguyễn Hoàng A bị phạt tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Bị cáo Lê Thị Kim S bị phạt tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Bị cáo Vòng A M3 bị phạt tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Áp dụng: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Vật chứng vụ án:
Tịch thu sung công quỹ Nhà Nước số tiền 6.700.000 đồng (Sáu triệu bảy trăm nghìn đồng) tại chứng từ giao dịch giấy nộp tiền ngày 22/8/2025 tại Ngân hàng TMCP N1 - Chi nhánh Đ1 – Phòng G, biên lai thu tiền số 0006424 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Đồng Nai và tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài tây theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/6/2025 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Đồng Nai.
Áp dụng: khoản 2, Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự ; Điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về án phí:
Mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
Về quyền kháng cáo:
Báo cho bị cáo Nguyễn Sĩ T, Nguyễn Hoàng A, Lê Thị Kim S và Vòng A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Lan |
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 22/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – ĐỒNG NAI về tội đánh bạc
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyen Si Tam + đp - danh bac
