Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH PHÚC

 

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày 27-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Nghĩa

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn An và bà Đỗ Thị Kim Thúy

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Mai - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 20/9/1984 tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Số nhà A đường T, tổ dân phố T, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh T1 và bà Lê Thị Kim H; có chồng là Đồng Minh K và 02 con (con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại (có mặt);

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Anh Đồng Minh K, sinh năm 1984; trú tại: Số A đường T, tổ dân phố T, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);
  • Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1966; trú tại: Số A ngõ E phố T, phường P, quận L, thành phố Hà Nội (vắng mặt);
  • Chị Nguyễn Ngọc Phương D, sinh năm 1984; trú tại: Số D ngõ I đường T, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);
  • Chị Trần Thị D1, sinh năm 1985; trú tại: Tổ dân phố M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);
  • Chị Vũ Thị Đ, sinh năm 1986; trú tại: Thôn C, xã B, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Công ty TNHH T5 (sau đây viết tắt là công ty T5) được thành lập theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 2500503580, do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh V cấp, đăng ký lần đầu ngày 27/6/2013, đăng ký thay đổi lần 2 ngày 31/12/2019; địa chỉ theo giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp: Thôn M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; địa chỉ hoạt động kinh doanh thực tế: số A đường T, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; người đại diện theo pháp luật là ông Đồng Minh K - giữ chức danh Giám đốc; Công ty T5 có 02 thành viên góp vốn gồm Đồng Minh K (sở hữu 60% vốn góp) và Nguyễn Thị Thu T (là vợ K sở hữu 40% vốn góp); Ngành nghề kinh doanh chính là: Bán buôn đồ dùng khác cho gia đình, văn phòng phẩm, đồ nội thất văn phòng, hàng tạp hóa ... Công ty T5 kê khai và nộp thuế tại Chi cục Thuế thành phố V theo phương pháp khấu trừ.

Từ khi thành lập, theo hồ sơ pháp lý thì Đồng Minh K là Giám đốc nhưng mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty T5 đều do Nguyễn Thị Thu T điều hành, K không tham gia gì vào việc mua bán hàng hóa, xuất hóa đơn GTGT cho các cá nhân, doanh nghiệp. Từ năm 2019, Công ty T5 đã bán hàng hóa là các mặt hàng gia dụng, hàng tạp phẩm gồm: ghế, rổ, kệ, lồng bàn, hũ thực phẩm ... cho một số cá nhân trên địa bàn tỉnh nhưng người mua không lấy hóa đơn, do vậy Công ty T5 thừa hóa đơn đầu ra nên khi có người đặt vấn đề hỏi mua hóa đơn thì Nguyễn Thị Thu T đã đồng ý bán trái phép hóa đơn GTGT của Công ty T5 ghi khống hàng hóa cho người mua hóa đơn, việc thanh toán tiền mua bán hóa đơn thì tùy theo từng Công ty mà T yêu cầu số tiền khác nhau. T thỏa thuận thống nhất về giá mua bán hóa đơn, mỗi lần bán hóa đơn, người mua hóa đơn sẽ cung cấp cho T về số lượng, chủng loại mặt hàng, số tiền cần ghi trên hóa đơn GTGT, T tự cân đối lượng hàng hóa thừa trên sổ sách để xuất hóa đơn ghi khống số lượng, chủng loại, số tiền theo đúng yêu cầu của người mua. Tại thời điểm trước tháng 5/2022 T lấy quyển hóa đơn GTGT của Công ty T5 viết nội dung theo yêu cầu của người mua hóa đơn sau đó ký vào mục “Người bán hàng”, hóa đơn nào có nhiều mặt hàng thì T lập thêm Bảng kê hàng hóa và ký vào mục “Người bán hàng”, mục “Giám đốc” T bỏ trống không đưa cho anh Đồng M Khoa ký, đóng dấu của Công ty T5 vào hóa đơn GTGT và bảng kê hàng hóa. Sau thời điểm tháng 5/2022 Công ty T5 phải sử dụng hóa đơn điện tử thì T xuất khống hóa đơn GTGT bằng cách dùng máy tính truy cập vào địa chỉ http://ehoadon.vn, sử dụng tài khoản của Công ty T5 (tên đăng nhập là 2500503580), điền các nội dung vào mục liên quan việc bán hàng sau đó dùng chữ ký điện tử của Công ty T5 ký vào hóa đơn rồi in ra để xuất cho các đơn vị mua hóa đơn.

Để che dấu hành vi mua bán trái phép hóa đơn và thực hiện quy định giao dịch thanh toán từ 20 triệu đồng trở lên phải chuyển khoản. Sau khi Công ty mua hóa đơn chuyển tiền vào tài khoản của Công ty T5, T rút tiền mặt trả lại cho người mua hóa đơn hoặc dùng tài khoản cá nhân của T chuyển tiền vào tài khoản của cá nhân người mua hóa đơn, một số hóa đơn T và người mua hóa đơn chưa làm thủ tục hợp thức việc thanh toán qua Ngân hàng. Bằng phương thức thủ đoạn nêu trên T đã bán trái phép 16 hóa đơn GTGT của Công ty T5 ghi khống hàng hóa, giá trị cho 04 công ty trên địa bàn trong và ngoài tỉnh Vĩnh Phúc với tổng số tiền thanh toán là 4.179.732.160 đồng, trong đó: tiền hàng là 3.837.130.230 đồng, tiền thuế GTGT là 342.601.930 đồng; T thu lợi bất chính từ việc bán hóa đơn là 56.242.281 đồng, cụ thể:

Thứ nhất: Bán 07 hóa đơn GTGT cho Công ty TNHH D2 (viết tắt là Công ty D2), địa chỉ: số A phố P, phường P, quận H, thành phố Hà Nội do Nguyễn Thị Thu H1 - làm Giám đốc. Công ty D2 có ngành nghề kinh doanh chính là bán lẻ hàng hóa gồm những mặt hàng như: ghế, rổ, hộp mứt, kệ, lồng bàn, hũ thực phẩm, hộp giấy vuông, gáo, phích nhựa, giỏ ... Quá trình hoạt động kinh doanh, Công ty D2 có nhập hàng hóa từ nhiều cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài địa bàn thành phố Hà Nội trong đó có Công ty T5 do Công ty này cũng kinh doanh các loại mặt hàng như trên. H1 đã liên hệ và gặp T để đặt vấn đề mua hàng hóa từ Công ty T5, T đồng ý và 02 Công ty đã ký hợp đồng nguyên tắc số 200921/HĐNT/DK-LH ngày 20/9/2021 thể hiện Công ty T5 bán hàng hóa cho Công ty D2. Thực hiện Hợp đồng trên, trong năm 2021 và năm 2022, Công ty T5 đã bán cho Công ty D2 các mặt hàng như trên có giá trị thanh toán tổng cộng là 6.158.097.337 đồng (bao gồm thuế GTGT), Công ty T5 vận chuyển đến kho hàng của Công ty D2 đầy đủ số lượng, chủng loại hàng hóa và Công ty D2 đã thanh toán cho Công ty T5 số tiền là 6.158.097.337 đồng bằng chuyển khoản vào tài khoản của Công ty T5.

Ngoài ra, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty D2 còn mua một số mặt hàng gia dụng như trên của một số cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội không có hóa đơn GTGT, nhưng khi bán hàng cho các doanh nghiệp trên địa bàn trong và ngoài thành phố Hà Nội đều phải xuất hóa đơn GTGT. Để hợp thức số hàng hóa không có hóa đơn đầu vào, H1 đến Công ty T5 gặp T và đặt vấn đề hỏi mua hóa đơn GTGT ghi khống các mặt hàng xuất cho Công ty D2. T đồng ý, nhưng H1 phải trả tiền mua hóa đơn tùy theo từng lần cho T bằng cách mỗi lần T xuất khống hóa đơn GTGT cho H1 thì H1 phải làm thủ tục hợp thức việc thanh toán qua Ngân hàng cho Công ty T5, sau đó T rút tiền mặt trả lại cho H1 và giữ lại một phần tiền bán hóa đơn. Sau khi thỏa thuận xong, mỗi lần H1 cần hóa đơn để hợp thức hàng hóa đầu vào thì H1 gọi điện cho T để báo số lượng, chủng loại từng mặt hàng, số tiền cần viết trên hóa đơn sau đó T tự cân đối lượng hàng hóa thừa trên hệ thống sổ sách theo dõi rồi viết hóa đơn GTGT theo đúng số lượng, chủng loại, số tiền H1 yêu cầu. Từ tháng 12/2021 đến tháng 4/2022, H1 đã 06 lần đề nghị T xuất khống cho Công ty D2 tổng cộng 07 hóa đơn GTGT (số 435 ngày 23/12/2021, số 437 ngày 27/12/2021, số 454 ngày 14/02/2022, số 463 ngày 25/02/2022, số 468 ngày 03/3/2022, số 478 ngày 19/3/2022 và số 512 ngày 28/4/2022) với tổng tiền thanh toán là 2.683.406.533 đồng, trong đó tiền hàng là 2.476.218.171 đồng, thuế GTGT là 207.188.362 đồng.

Để làm hợp thức thủ tục thanh toán qua Ngân hàng, H1 đã chỉ đạo Nguyễn Thị T2 là kế toán Công ty D2 làm sẵn các thủ tục thanh toán liên quan theo quy định để H1 ký, đóng dấu của Công ty D2 và H1 ra Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H - Chi nhánh H2 chuyển tổng cộng cho Công ty T5 2.683.406.533 đồng. Sau mỗi lần chuyển tiền, H1 đều gọi điện thoại bảo T rút tiền mặt trả lại cho H1 và giữ lại tiền mua hóa đơn, tổng cộng T đã rút 2.636.000.000 đồng tiền mặt trong số 2.683.406.533 đồng trả cho H1 và T giữ lại số tiền 47.406.533 đồng tiền bán hóa đơn.

Công ty D2 đã kê khai thuế đầu vào 07 hóa đơn GTGT trên tại Chi cục thuế quận H, thành phố Hà Nội vào quý 1/2022 và quý 2/2022 và được khấu trừ hết 207.188.362 đồng tiền thuế GTGT. Tuy nhiên, trong quá trình quan hệ mua bán hàng hóa với Công ty T5, H1 biết Công ty T5 đang bị cơ quan chức năng của tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra về thuế, H1 thấy việc mua 07 hóa đơn GTGT trên của T là vi phạm pháp luật về thuế, hóa đơn nên đã chủ động làm thủ tục kê khai điều chỉnh giảm thuế đầu vào 07 hóa đơn GTGT này, đến ngày 20/8/2024 Chi cục thuế quận H - thành phố Hà Nội đã chấp nhận việc kê khai điều chỉnh của Công ty D2, ghi nhận số tiền thuế GTGT Công ty D2 phải nộp tăng 207.188.362 đồng.

Thứ hai: Bán 05 hóa đơn GTGT cho Công ty TNHH V (viết tắt là Công ty V), địa chỉ: số B, ngõ A, đường M, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc do Nguyễn Quang N - Sinh năm 1984, trú tại: số D, ngõ I, đường T, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc làm Giám đốc. Tuy N1 là Giám đốc nhưng thực tế không tham gia gì vào việc điều hành hoạt động của Công ty V, mọi hoạt động của Công ty V đều do Nguyễn Ngọc Phương D - Kế toán (là vợ của N1) điều hành.

Công ty V và Công ty T5 có địa chỉ kinh doanh cùng trên địa bàn phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc nên D có quen biết T, sau một vài lần gặp gỡ trao đổi D được biết Công ty T5 cũng mua bán các mặt hàng là đồ gia dụng tương tự như Công ty V, D đã trao đổi với T là hai Công ty nên hợp tác làm ăn với nhau, mỗi khi Công ty nào thiếu mặt hàng gì thì sẽ nhập hàng từ Công ty còn lại (nếu có), T đồng ý, sau đó 02 Công ty thường xuyên phát sinh quan hệ làm ăn, mua bán với nhau các mặt hàng là đồ gia dụng. Cụ thể: Từ năm 2019 đến năm 2022, Công ty V và Công ty T5 đã ký 04 hợp đồng nguyên tắc số 010119/HĐNT/ĐK-TD ngày 01/01/2019, số 010120/HĐNT/ĐK-TD ngày 01/01/2020, số 010121/HĐNT/ĐK-TD ngày 01/01/2021 và số 010122/HĐNT/ĐK-TD ngày 01/01/2022 thể hiện việc Công ty T5 bán hàng hóa cho Công ty V; 02 Hợp đồng mua bán số 1552/HĐDK-TD2019 ngày 01/01/2019 và 1552/HĐDK-TD2022 ngày 01/01/2022 thể hiện việc Công ty V bán hàng hóa cho Công ty T5. Thực hiện các Hợp đồng trên, thực tế Công ty T5 đã bán cho Công ty V các mặt hàng như: tủ, ghế, kệ, bình đá, bình giữ nhiệt... với tổng số tiền thanh toán là 19.001.371.098 đồng (bao gồm thuế GTGT); Công ty V bán cho Công ty T5 các mặt hàng như: cây lau trợ lực, chổi, cây gạt nước, thùng rác... với tổng số tiền thanh toán là 1.280.300.000 đồng (bao gồm thuế GTGT).

Ngoài ra, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty V có mua một số mặt hàng của các cá nhân không có hóa đơn GTGT trên địa bàn tỉnh như: tủ, ghế, kệ, bình đá, bình giữ nhiệt... nhưng khi Công ty V bán hàng cho các doanh nghiệp đều phải xuất hóa đơn GTGT do vậy Công ty V thiếu hóa đơn GTGT đầu vào hợp thức cho số hàng hóa trên. Qua các lần giao dịch mua bán hàng hóa với T, D biết Công ty T5 có bán lẻ các loại hàng hóa trên cho một số cá nhân không lấy hóa đơn GTGT nên thừa hóa đơn GTGT đầu ra, do vậy D gặp T đặt vấn đề mua hóa đơn của Công ty T5 ghi khống các mặt hàng, sau khi bàn bạc T đã đồng ý bán hóa đơn cho D với giá 0,5% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn. Sau đó, mỗi lần D cần hóa đơn để hợp thức hàng hóa đầu vào thì D gọi điện thoại cho T để báo số lượng, chủng loại từng mặt hàng, số tiền cần viết trên hóa đơn, T tự cân đối chủng loại, số lượng hàng hóa thừa trên hệ thống sổ sách theo dõi rồi viết hóa đơn GTGT theo đúng yêu cầu của D và xuất cho Công ty V. Từ năm 2019 đến năm 2021 T đã bán cho D tổng cộng 05 hóa đơn GTGT (số 123 ngày 21/11/2019, số 163 ngày 21/01/2020, số 164 ngày 31/01/2020, số 325 ngày 30/3/2021 và số 361 ngày 10/7/2021) với tổng tiền thanh toán là 868.863.850 đồng, trong đó tiền hàng là 789.876.227 đồng, thuế GTGT là 78.987.623 đồng, tổng tiền bán hóa đơn là 3.949.381 đồng (789.876.227 đồng x 0,5%), D đã thanh toán tiền mua hóa đơn cho T 3.949.381 đồng bằng tiền mặt. Đến nay, D và T chưa làm thủ tục hợp thức việc thanh toán qua Ngân hàng đối với 05 hóa đơn GTGT trên.

Công ty V đã kê khai thuế đầu vào 05 hóa đơn GTGT trên tại Chi cục thuế thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc vào quý 4/2019, quý 01/2020, quý 01/2021, quý 2/2021 và được khấu trừ hết 78.987.623 đồng tiền thuế GTGT. Tuy nhiên, D biết Công ty T5 bị cơ quan chức năng tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra, xác minh về thuế, hóa đơn, D thấy việc mua 05 hóa đơn của Công ty T5 là vi phạm pháp luật về thuế, hóa đơn, do sợ bị xử phạt nên D đã tự làm thủ tục kê khai điều chỉnh giảm thuế đầu vào 05 hóa đơn GTGT này. Ngày 21/6/2024 Chi cục thuế thành phố V chấp nhận việc kê khai điều chỉnh của Công ty V, ghi nhận số tiền thuế GTGT Công ty V phải nộp tăng 78.987.623 đồng.

Thứ ba: Bán 02 hóa đơn GTGT cho Công ty TNHH T6 (viết tắt là Công ty T6), địa chỉ: TDP M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc do Đỗ Anh K1 - Sinh năm 1984, trú tại: TDP M, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc làm Giám đốc. Tuy K1 là Giám đốc nhưng thực tế không tham gia gì vào việc điều hành hoạt động của Công ty T6, mọi hoạt động của Công ty T6 đều do Trần Thị D1 - Kế toán (là vợ của K1) điều hành.

Công ty T6 có ngành nghề kinh doanh chính là bán lẻ hàng hóa, bán buôn đồ dùng khác cho gia đình gồm: tủ, bình đá, thùng đá, xô, thau, rổ ... Quá trình hoạt động Công ty T6 có nhập hàng hóa từ nhiều cá nhân, doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh trong đó có Công ty T5 do Công ty này cũng kinh doanh các loại mặt hàng mà Công ty T6 cần mua. D1 đã liên hệ và trực tiếp gặp T để đặt vấn đề mua hàng hóa của Công ty T5, sau khi bàn bạc, thỏa thuận mua bán hàng hóa, Công ty T6 và Công ty T5 đã ký 02 hợp đồng nguyên tắc số 15/DK-TTVN/2019 ngày 04/01/2019 và số 0601/HĐNT/2020/-DK/TTVN thể hiện việc Công ty T5 bán hàng hóa cho Công ty T6. Thực hiện các hợp đồng trên, thực tế Công ty T5 đã bán cho Công ty T6 các mặt hàng là đồ gia dụng như: tủ, bình đá, thùng đá, xô, thau, rổ ... với tổng giá trị thanh toán là 305.229.955 đồng (bao gồm thuế GTGT), Công ty T6 mua và Công ty T5 vận chuyển xuất bán hàng hóa thật đến kho hàng của Công ty T6 đầy đủ số lượng, chủng loại, Công ty T6 đã thanh toán cho Công ty T5 số tiền là 305.229.955 đồng bằng chuyển khoản vào tài khoản của Công ty T5 và tiền mặt.

Ngoài ra, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, Công ty T6 có mua một số mặt hàng như trên của một số cá nhân trên địa bàn tỉnh không có hóa đơn GTGT nhưng khi Công ty T6 bán hàng cho các doanh nghiệp đều phải xuất hóa đơn GTGT do vậy Công ty Vina thiếu hóa đơn GTGT đầu vào hợp thức cho số hàng hóa đã bán. Qua các lần giao dịch mua bán hàng hóa với T thì D1 biết Công ty T5 có bán lẻ hàng hóa cho một số cá nhân không lấy hóa đơn nên thừa hóa đơn GTGT đầu ra, D1 đã gặp T đặt vấn đề mua hóa đơn của Công ty T5 ghi khống các mặt hàng, sau khi bàn bạc T đã đồng ý bán hóa đơn cho D1 với giá 01% giá trị tiền hàng ghi trên hóa đơn. Sau đó, mỗi lần D1 cần hóa đơn để hợp thức hàng hóa đầu vào thì D1 gọi điện thoại cho T để báo số lượng, chủng loại từng mặt hàng, số tiền cần viết trên hóa đơn, T tự cân đối chủng loại, số lượng hàng hóa thừa trên hệ thống sổ sách theo dõi rồi viết hóa đơn GTGT theo đúng yêu cầu của D1 và xuất cho Công ty T6. Từ năm 2019 đến năm 2020 T đã bán cho D1 02 hóa đơn GTGT (số 96 ngày 30/9/2019 và số 207 ngày 29/5/2020) với tổng tiền thanh toán là 494.807.500 đồng, trong đó tiền hàng là 449.825.000 đồng, thuế GTGT là 44.982.500 đồng, tổng tiền bán hóa đơn là 4.498.250 đồng (449.825.000 đồng x 01%), D1 đã thanh toán cho T 4.498.250 đồng tiền bán hóa đơn bằng tiền mặt. D1 và T mới chỉ làm thủ tục hợp thức việc thanh toán qua Ngân hàng đối với hóa đơn GTGT số 96 ngày 30/9/2019 bằng cách chuyển số tiền 150.000.000 đồng từ tài khoản của Công ty T6 vào tài khoản của Công ty T5 sau đó T rút 150.000.000 đồng tiền mặt ra trả cho D1; đối với hóa đơn GTGT số 207 ngày 29/5/2020 D1 và T chưa làm thủ tục hợp thức việc thanh toán qua Ngân hàng.

Công ty T6 đã kê khai thuế đầu vào 02 hóa đơn GTGT nêu trên tại Chi cục thuế thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc vào quý 3/2019 và quý 2/2020 và được khấu trừ hết 44.982.500 đồng tiền thuế GTGT. Sau khi làm việc với Cơ quan điều tra ngày 10/10/2024, D1 nhận thấy việc mua 02 hóa đơn GTGT của Công ty T5 như trên là sai, vi phạm pháp luật về thuế, hóa đơn nên D1 làm thủ tục kê khai điều chỉnh giảm thuế đầu vào 02 hóa đơn GTGT trên. Ngày 24/10/2024 và ngày 25/10/2024 Chi cục thuế thành phố V đã chấp nhận việc kê khai điều chỉnh của Công ty T6, ghi nhận số tiền thuế GTGT Công ty T6 phải nộp tăng 44.982.500 đồng.

Thứ tư: Bán 02 hóa đơn GTGT cho Công ty TNHH một thành viên T7 (viết tắt là Công ty T7), địa chỉ: Lô B, ô 2+4, KĐT Chùa H3, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc do Hoàng Ngọc T3 - Sinh năm 1984, trú tại: KĐT C H, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc làm Giám đốc. Hoàng Ngọc T3 là Giám đốc Công ty T7 nhưng quá trình hoạt động kinh doanh T3 giao cho Vũ Thị Đ - Kế toán thực hiện các công việc mua bán hàng hóa, xuất hóa đơn, kê khai thuế đối với các đơn vị có mua bán hàng hóa với Công ty T7, T3 chỉ kiểm tra về mặt kết quả hoạt động của Công ty T7 & T4

Thực hiện nhiệm vụ Giám đốc Công ty giao, Đ đã trực tiếp thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa đối với các doanh nghiệp liên quan, trong đó có Công ty T5. Qua tìm hiểu Đ biết Công ty T5 có bán một số mặt hàng Công ty T7 cần mua nên Đ đã liên hệ và trực tiếp gặp T để đặt vấn đề mua hàng hóa của Công ty T5, trong quá trình bàn bạc, thỏa thuận mua bán hàng hóa thì T cũng biết Công ty T7 có bán một số hàng hóa mà Công ty T5 cần nên T và Đ thống nhất hợp tác làm ăn với nhau, mỗi khi Công ty nào thiếu mặt hàng gì thì sẽ nhập hàng từ Công ty còn lại (nếu có). Sau đó 02 Công ty thường xuyên phát sinh quan hệ làm ăn, mua bán với nhau các mặt hàng là đồ gia dụng, đồ điện tử, văn phòng phẩm. Cụ thể: Từ năm 2019 đến năm 2022, Công ty T7 và Công ty T5 ký 02 Hợp đồng kinh tế số 007-2019/HĐ ngày 07/01/2019 và số 008-2022/HĐ ngày 20/8/2022 thể hiện việc Công ty T5 bán hàng hóa cho Công ty T7; 01 Hợp đồng mua bán hàng hóa số 0103/2022/HĐMB_DK-T&T ngày 01/3/2022 thể hiện việc Công ty T7 bán hàng hóa cho Công ty T5. Thực hiện các hợp đồng trên, thực tế Công ty T7 đã mua của Công ty T5 các mặt hàng là đồ gia dụng như: túi rác, găng tay, xô, thùng rác, ghế, chổi ... với tổng tiền thanh toán là 285.598.230 đồng (bao gồm thuế GTGT); Công ty T7 bán cho Công ty T5 các mặt hàng là đồ điện tử, văn phòng phẩm như: máy tính, giấy, băng dính, khay tài liệu ... với tổng tiền thanh toán là 150.111.474 đồng (bao gồm thuế GTGT).

Ngoài ra, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty T7 có mua một số mặt hàng trên thị trường như: túi rác, găng tay, xô, thùng rác, ghế, chổi... của một số cá nhân không có hóa đơn GTGT trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nhưng khi Công ty T7 bán hàng cho các doanh nghiệp đều phải xuất hóa đơn GTGT, do vậy Công ty T7 thiếu hóa đơn GTGT đầu vào. Qua các lần giao dịch mua bán hàng hóa với T thì Đ biết Công ty T5 có bán lẻ hàng hóa cho một số cá nhân không lấy hóa đơn nên thừa hóa đơn GTGT đầu ra nên Đ đến Công ty T5 gặp T đặt vấn đề mua hóa đơn của Công ty T5 ghi khống các mặt hàng để hợp thức cho số hàng hóa đầu vào không có hóa đơn. Sau khi bàn bạc T đã đồng ý bán hóa đơn cho Đ. Giữa Đ và T thống nhất tiền bán hóa đơn tùy theo từng lần do T cân đối và được sự đồng ý của Đ. Trong năm 2023, T đã xuất khống cho Đ 02 hóa đơn GTGT (số 37 ngày 31/3/2023 và số 452 ngày 29/12/2023) với tổng tiền thanh toán là 132.654.277 đồng, trong đó tiền hàng là 121.210.832 đồng, thuế GTGT là 11.443.445 đồng.

Để hợp thức việc thanh toán qua Ngân hàng thì Đ đã dùng tài khoản của Công ty T7 chuyển tổng cộng 132.654.277 đồng vào tài khoản của Công ty T5, sau đó Đ gọi điện thoại bảo T dùng tài khoản cá nhân của T chuyển tổng cộng 132.266.160 đồng vào tài khoản cá nhân của Đ và tài khoản của Công ty T7, T giữ lại 388.117 đồng tiền bán hóa đơn.

Công ty T7 đã kê khai thuế đầu vào 02 hóa đơn GTGT trên tại Chi cục thuế thành phố V vào quý 1/2023 và quý 4/2023 và đã được khấu trừ hết 11.443.445 đồng tiền thuế GTGT. Tuy nhiên, sau khi làm việc với Cơ quan điều tra Đ nhận thấy việc mua 02 hóa đơn GTGT của Công ty T5 như trên là sai, vi phạm pháp luật về thuế, hóa đơn nên ngày 24/10/2024 Đ đã làm thủ tục kê khai điều chỉnh giảm thuế đầu vào 02 hóa đơn GTGT trên, cùng ngày 24/10/2024 Chi cục thuế thành phố V đã chấp nhận việc kê khai điều chỉnh của Công ty T7, ghi nhận số tiền thuế GTGT Công ty T7 phải nộp tăng 11.443.445 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V tiến hành xác minh 06 doanh nghiệp mua, bán hàng hóa với Công ty T5, gồm: Công ty Cổ phần N2, địa chỉ: Thôn N, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Công ty TNHH MTV H4, địa chỉ: Khu đô thị P, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Công ty Cổ phần T8, địa chỉ: Số F, đường N, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Công ty TNHH D3, địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; Công ty TNHH N2, địa chỉ: Số B, K, phường Đ, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Chi nhánh Công ty CP D2 tại Vĩnh Phúc, địa chỉ: Số F đường N, phường K, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Kết quả điều tra xác định, 06 Công ty đã mua, bán hàng hóa, xuất hóa đơn và kê khai thuế đúng quy định, hàng hóa đều có nguồn gốc, xuất xứ. Chưa phát hiện dấu hiệu vi phạm.

Kết quả trưng cầu giám định:

  • Ngày 05/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V trưng cầu Phòng K2 - Công an tỉnh V giám định chữ viết, chữ ký trên 03 hóa đơn GTGT (liên 1 + liên 2) kèm bảng kê hàng hóa số 207 ngày 29/5/2020, số 361 ngày 10/7/2021, số 454 ngày 14/02/2022 của Công ty T5.
  • Ngày 24/12/2024, Phòng K2 - Công an tỉnh V có Kết luận giám định số 3735, kết luận: Chữ viết, chữ ký trên mẫu cần giám định so với chữ ký, chữ viết trên mẫu so sánh là do cùng một người (Nguyễn Thị Thu T) viết và ký ra.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu:

  • Thu giữ 14 hóa đơn GTGT (liên 1+ liên 2) kèm bảng kê hàng hóa và 02 hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử) của Công ty TNHH T9
  • Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V tạm giữ số tiền 56.242.367 đồng do Nguyễn Thị Thu T tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả.

Đối với 04 Công ty mua, sử dụng bất hợp pháp hóa đơn GTGT của Công ty T5 gồm: Công ty TNHH D2, Công ty TNHH V, Công ty TNHH T6, Công ty TNHH một thành viên T7 & T4 04 Công ty trên đã mua và sử dụng hóa đơn GTGT của Công ty T5 để kê khai, quyết toán thuế là vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hóa đơn theo quy định tại Điều 142, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và bị xử phạt theo Điều 4, Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V đã gửi văn bản đến Cục Thuế thành phố H và Cục Thuế tỉnh V đề nghị xử lý 04 Công ty nêu trên theo quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Thu T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Bản Cáo trạng số 22/CT-VKS-P1 ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu T về tội "Mua bán trái phép hóa đơn" theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Thu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Thị Thu T đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội "Mua bán trái phép hóa đơn", áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Thị Thu T từ 10 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách của án treo, phạt bổ sung bị cáo từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng, đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền thu lời bất chính.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Nguyễn Thị Thu T nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là trái pháp luật, bị cáo mong Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Thu T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của người liên quan, biên bản thu giữ vật chứng, kết luận giám định.... và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để xác định:

Với mục đích kiếm lời từ việc bán hóa đơn nên trong khoảng thời gian từ ngày 23/12/2021 đến ngày 29/12/2023, Nguyễn Thị Thu T là người điều hành hoạt động kinh doanh của Công ty T5 đã bán trái phép 16 hóa đơn GTGT của Công ty T5 ghi khống hàng hóa cho 04 công ty gồm: Công ty TNHH D2 07 hóa đơn; Công ty TNHH V 05 hóa đơn; Công ty TNHH T6 02 hóa đơn; Công ty TNHH một thành viên T7 02 hóa đơn. Tổng số tiền thu lời bất chính là 56.242.281 đồng.

Hành vi bán hóa đơn trái phép không có hàng hóa kèm theo cho người khác để thu lời bất chính do bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự. Tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự trong lĩnh vực in ấn, phát hành hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật là cần thiết nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền thu lời bất chính nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, có nhân thân tốt và nơi cư trú ổn định rõ ràng nên không cần thiết áp dụng hình phạt tù mà cho hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4]. Về việc áp dụng hình phạt bổ sung: Cần áp dụng khoản 3 Điều 203 Bộ luật Hình sự để phạt bị cáo một khoản tiền sung quỹ Nhà nước.

[5]. Về xử lý vật chứng:

Đối với14 hóa đơn GTGT (liên 1+ liên 2) kèm bảng kê hàng hóa và 02 hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử) của Công ty TNHH T5 là vật chứng cần lưu hồ sơ vụ án.

Đối với số tiền 56.242.367 đồng do Nguyễn Thị Thu T tự nguyện giao nộp để khắc phục số tiền thu lời bất chính 56.242.281 đồng nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước toàn bộ số tiền trên.

[6]. Đối với anh Đồng Minh K mặc dù là Giám đốc và là người đại diện theo pháp luật của Công ty T5, nhưng anh K không tham gia vào hoạt động kinh doanh của Công ty. Toàn bộ hoạt động kinh doanh mua, bán hàng hóa của Công ty T5 đều do Nguyễn Thị Thu T là vợ anh K thực hiện. Việc bán hàng hóa cho ai và ở đâu, T không nói cho anh K biết và anh K cũng không hỏi, anh K không biết và không tham gia vào việc T bán trái phép 16 hóa đơn của Công ty T5 cho 04 công ty nêu trên. Nên hành vi của anh K không cấu thành tội phạm, cơ quan điều tra không đề cấp xử lý là phù hợp.

Đối với bà Nguyễn Thị Thu H1 - là Giám đốc Công ty D2, đã mua của T 07 hóa đơn GTGT để hợp thức số hàng hóa đã mua không có hóa đơn GTGT, H1 đã sử dụng 07 hóa đơn GTGT này để kê khai thuế đầu vào tại Chi cục thuế quận H, thành phố Hà Nội và được khấu trừ hết 207.188.362 đồng tiền thuế GTGT. Tuy nhiên ngày 20/8/2024 (trước thời điểm Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V đến làm việc), H1 đã chỉ đạo Kế toán kê khai giảm trừ thuế đầu vào đối với 07 hóa đơn GTGT trên và được Chi cục thuế quận H, thành phố Hà Nội chấp nhận, ghi nhận số tiền thuế GTGT Công ty D2 phải nộp tăng 207.188.362 đồng. Mặc dù bà Nguyễn Thị Thu H1 có hành vi trốn thuế nhưng đã chủ động kê khai giảm trừ thuế đầu vào trước khi cơ quan điều tra làm việc và chưa có cơ quan thuế, cơ quan có thẩm quyền nào công bố quyết định thanh tra, kiểm tra đối với công ty D2 nên hành vi của bà Nguyễn Thị Thu H1 không cấu thành tội Trốn thuế do được áp dung khoản 1, Điều 47 Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019 của Quốc hội quy định về việc khai bổ sung hồ sơ khai thuế. Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà H1 là phù hợp.

Đối với chị Nguyễn Ngọc Phương D - là kế toán Công ty V, quá trình hoạt động kinh doanh chị D đã mua của T 05 hóa đơn GTGT để hợp thức số hàng hóa đã mua không có hóa đơn GTGT, chị D đã sử dụng 05 hóa đơn GTGT này để kê khai thuế đầu vào tại Chi cục thuế thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc và đã được khấu trừ hết 78.987.623 đồng tiền thuế GTGT. Tuy nhiên, ngày 21/6/2024 (trước thời điểm Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V đến làm việc), chị D đã tự kê khai giảm trừ thuế đầu vào đối với 05 hóa đơn GTGT trên và được Chi cục thuế thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc chấp nhận, ghi nhận số tiền thuế GTGT Công ty V phải nộp tăng 78.987.623 đồng. Hành vi của chị D không cấu thành tội phạm “Mua bán trái phép hóa đơn” và tội “Trốn thuế” (số lượng hóa đơn mua dưới 10 số và số tiền thuế GTGT được khấu trừ dưới 100.000.000 đồng). Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị D là phù hợp.

Đối với chị Trần Thị D1 - là kế toán Công ty T6 đã mua của T 02 hóa đơn GTGT, để hợp thức số hàng hóa đã mua không có hóa đơn GTGT, chị D1 đã sử dụng 02 hóa đơn GTGT này để kê khai thuế đầu vào cho Công ty T6 tại Chi cục thuế thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc và đã được khấu trừ hết 44.982.500 đồng tiền thuế GTGT. Tuy nhiên, sau khi làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V, chị D1 biết việc mua và sử dụng 02 hóa đơn GTGT trên là sai, vi phạm pháp luật nên D1 đã tự kê khai giảm trừ thuế đầu vào đối với 02 hóa đơn GTGT trên và được Chi cục thuế thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc chấp nhận, ghi nhận số tiền thuế GTGT Công ty T6 phải nộp tăng 44.982.500 đồng. Hành vi của chị D1 không cấu thành tội phạm “Mua bán trái phép hóa đơn” và tội “Trốn thuế” (số lượng hóa đơn mua dưới 10 số và số tiền thuế GTGT được khấu trừ dưới 100.000.000 đồng). Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị D1 là phù hợp.

Đối với chị Vũ Thị Đ - là kế toán Công ty T7, đã mua của T 02 hóa đơn GTGT để hợp thức số hàng hóa đã mua không có hóa đơn GTGT, chị Đ đã sử dụng 02 hóa đơn GTGT này để kê khai thuế đầu vào cho Công ty T7 tại Chi cục thuế thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc và đã được khấu trừ hết 11.443.445 đồng tiền thuế GTGT. Tuy nhiên, sau khi làm việc với Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V, chị Đ biết việc mua và sử dụng 02 hóa đơn GTGT trên là sai, vi phạm pháp luật nên chị Đ đã tự kê khai giảm trừ thuế đầu vào đối với 02 hóa đơn GTGT trên và được Chi cục thuế thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc chấp nhận, ghi nhận số tiền thuế GTGT Công ty T6 phải nộp tăng 11.443.445 đồng. Hành vi của chị Đ không cấu thành tội phạm “Mua bán trái phép hóa đơn” và tội “Trốn thuế” (số lượng hóa đơn mua dưới 10 số và số tiền thuế GTGT được khấu trừ dưới 100.000.000 đồng). Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với chị Đ là phù hợp.

Đối với Nguyễn Quang N - Giám đốc Công ty V, Đỗ Anh K1 - Giám đốc Công ty T6 và Hoàng Ngọc T3 - Giám đốc Công ty T7: Những người này không trực tiếp tham gia vào việc trao đổi, mua bán hàng hóa; không biết, không tham gia vào việc mua bán trái phép hóa đơn nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với 04 Công ty mua, sử dụng bất hợp pháp hóa đơn GTGT của Công ty T5 gồm: Công ty TNHH D2, Công ty TNHH V, Công ty TNHH T6, Công ty TNHH một thành viên T7 04 Công ty này đã mua và sử dụng hóa đơn GTGT của Công ty T5 để kê khai, quyết toán thuế là vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế, hóa đơn theo quy định tại Điều 142, Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 và bị xử phạt theo Điều 4, Nghị định số 125/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng không hợp pháp hóa đơn, chứng từ. Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh V đã gửi văn bản đến Cục Thuế thành phố H và Cục Thuế tỉnh V đề nghị xử lý 04 Công ty nêu trên theo quy định của pháp luật.

[7]. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  • Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn".
  • Áp dụng: Khoản 1 Điều 203; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, thử thách 02 (Hai) năm, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu T cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự năm 2019.
  • Trong thời gian thử thách của án treo, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  • Hình phạt bổ sung: Áp dụng, khoản 3 Điều 203 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 15.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.
  • Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 56.242.367 đồng của Nguyễn Thị Thu T (Theo ủy nhiệm chi ngày 24/3/2025 của Công an tỉnh V).
  • Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị Thu T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - CQCSĐT - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Cục THADS tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - UBND phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo; đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

(đã ký)

Nguyễn Văn Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về vụ án hình sự: mua bán trái phép hóa đơn

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Mua bán trái phép hóa đơn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thu T phạm tội mua bán trái phép hóa đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger