Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày 12 tháng 3 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tăng Thị Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hùng

Ông Nguyễn Văn Quang

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Hồng Ngọc - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Hoàng Hữu Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 12/3/2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 07/2025/TLST-HS, ngày 15 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HS, ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Sinh L, sinh ngày 28/9/1997, tại huyện E, tỉnh Đắc Lắc.

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1973 và bà La Thị H, sinh năm: 1975; vợ Trần Thị Trà M, sinh năm: 2002 (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/11/2024 đến nay tại Trại Tạm giam Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Chị Trần Nhật L1, sinh năm 1995; Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa,
  2. Cháu Nguyễn Gia H1, sinh năm 2018; Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt tại phiên tòa

Người đại diện theo pháp luật của cháu H1: Chị Trần Nhật L1 (mẹ đẻ cháu H1);

  1. Chị Phạm Thị Ngọc Á, sinh năm 2000; Địa chỉ: Tổ I, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1999; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt tại phiên tòa;
  2. Anh Lưu Quốc C, sinh năm 2006; Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt tại phiên tòa;
  3. Anh Nguyễn Đăng T1, sinh năm 2003; Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt tại phiên tòa;
  4. Anh Tạ Lâm H2, sinh năm 2002; Địa chỉ: Thôn A, xã A, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt tại phiên tòa;
  5. Anh Trịnh Thái M1, sinh năm 2002; Địa chỉ: Số nhà F, tổ I, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 04/8/2024, Nguyễn Sinh L (có giấy phép lái xe) điều khiển xe ô tô tải, nhãn hiệu Huyndai HD65, màu sơn xanh, trọng tải 2,5 tấn, biển số đăng ký 22C-105.12 (xe của L) đi từ nhà tại xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang theo đường quốc lộ 37 đến thị trấn S, huyện S để chở hàng thuê cho anh Nguyễn Văn D. Cùng đi và ngồi ở ghế phụ của xe có Tạ Lâm H2, Trịnh Thái M1 và Đặng Văn N, sinh năm 1998, trú tại: tổ A, phường N, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang.

Khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, khi đến khu vực ngã 3 (01 đường rẽ vào thị trấn S, một đường đi xã S, huyện S) thì trời mưa to. L điều khiển xe đi ở phần dường bên phải vào hướng thị trấn S với tốc độ 60km/h. Khi đi đến đoạn có khúc cua phải (km 187+200, quốc lộ C) thuộc tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, L điều khiển xe đi lấn sang phần đường bên trái. Cùng lúc đó có xe mô tô, biển số đăng ký 22B2-220.68 do chị Trần Nhật L1 điều khiển chở người ngồi sau là cháu Nguyễn Gia H1 và chị Phạm Thị Ngọc Á đi ngược chiều đến, chị L1 đi sát lề đường bên phải. Do không làm chủ được tốc độ và đi lấn sang phần đường bên trái nên khi phát hiện thấy xe mô tô của chị L1 đi ngược chiều, L đạp phanh và đánh lái sang phần đường bên phải theo hướng đi làm phần đuôi thùng bên trái của xe ô tô 22C-105.12 va chạm với phần đầu tay nắm lái, đầu tay phanh và cánh yếm bên trái của xe mô tô 22B2-220.68 do chị L1 điều khiển. Sau khi va chạm xe mô tô do chị L1 điều khiển chở cháu H1 và chị Á văng lên vỉa hè bên phải hướng S đi Tuyên Quang. Xe mô tô văng về phía trước cách vị trí va chạm 3,85m. Biết xảy ra va chạm với xe mô tô của chị L1 nên L điều khiển xe bỏ chạy khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm. L đi thẳng đến kho hàng của anh Nguyễn Văn D tại tổ dân phố Đ, thị trấn S, huyện S để nhận hàng. Sau đó đi đến thành phố Hà Nội để giao hàng.

Hậu quả: Chị L1, cháu H1, chị Á bị thương được người dân đưa đi bệnh viện điều trị.

Kết luận giám định số 218/2024/KLTTCT-TTPY ngày 09/11/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận: Vết thương khớp gối để lại hậu quả hạn chế vận động mức độ nhẹ (tầm vận động >125độ): 11%; Đứt gân bánh chè đã khâu nối, kết quả tốt: 6%; Sẹo phẫu thuật vết thương gối trái như mô tả: 3%; 02 sẹo dẫn lưu kích thước như mô tả mỗi sẹo: 1%. Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y (TT22/2019), tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Nhật L1 tại thời điểm giám định là: 20% theo phương pháp cộng tại Thông tư. Cơ chế, vật gây thương tích do tác động vật tầy gây nên.

Kết luận giám định số 219/2024/KLTTCT-TTPY ngày 08/11/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận:

- Kết quả giám định: Chảy máu dưới màng nhện đã điều trị không còn di chứng thần kinh: 08%; tổn thương động mạch đùi trái đã khâu nối: 11%; gẫy ổ chảo khớp háng trái: 11%; gẫy ngành chậu mu trái: 11%; gẫy cổ xương đùi trái: 35%; gẫy xương cùng: 05%; gẫy xương cụt: 03%; chấn thương khớp cổ chân trái: 11%; sẹo vùng đỉnh chẩm bên phải: 01%; sẹo vùng bẹn bụng phải: 01%; sẹo vùng bẹn bụng trái: 01%; sẹo bờ ngoài gai chậu trái: 01%; sẹo mặt trước trong đùi trái 01%; 02 sẹo vùng cánh chậu trái, mỗi sẹo: 01 %; sẹo mặt ngoài đùi trái: 03%; sẹo mặt trước đùi trái: 01%; 02 sẹo mặt ngoài đùi trái, mỗi sẹo: 01%; sẹo 1/3 dưới mặt ngoài đùi trái: 02%; sẹo mặt trước dưới gối trái: 02%; sẹo vùng cổ, mu bàn chân trái: 03%.

- Kết quả cận lâm sàng: Chụp CT-Scanner sọ não: Hiện tại không thấy hình ảnh bất thường; chụp CT-Scanner khung chậu, đùi trái, cổ bàn chân trái: Thấy hình ảnh rộng khớp mu; còn phương tiện kết hợp xương đùi trái và xương bàn chân trái; siêu âm D1 mạch chân trái: Động mạnh đùi chung, động mạch đùi sâu, động mạnh kheo, động mạch chầy trước, chầy sau khẩu kính và tốc độ dòng chảy bình thương.

Căn cứ Thông tư 22/2019, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Thị Ngọc Á tại thời điểm giám định là: 72% theo phương pháp cộng tại Thông tư.

Cơ chế hình thành: Thương tích gây chảy máu dưới mạng nhện, tổn thương động mạch đùi trái, vỡ ổ chảo khớp háng trái, gẫy cổ xương đùi trái, gẫy ngành chậu mu trái, gẫy xương cùng, gẫy xương cụt, chấn thương khớp cổ chân trái và để lại các vết sẹo là do tác động với vật tầy gây nên.

Kết luận giám định số 220/2024/KLTTCT-TTPY ngày 05/11/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh T, kết luận: Sẹo phần mềm mặt trước trong 1/3 trên đùi trái: 03%; sẹo phần mềm mặt trước trong 1/3 dưới đùi trái: 03%. Căn cứ Thông tư 22/2019, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Gia H1 tại thời điểm giám định là: 06%. Cơ chế, vật gây thương tích là do vật tầy tác động trực tiếp gây nên.

Biên bản khám nghiệm hiện trường hồi 21 giờ ngày 04/8/2024 xác định: Nơi xảy ra vụ tai nạn tại km 187+200, quốc lộ C thuộc tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S; mặt đường trải nhựa tương đối bằng phẳng. Khám nghiệm hiện trường theo hướng S đi thành phố T. Tại khu vực hiện trường lòng đường rộng 10,5m (phần đường bên phải theo hướng khám nghiệm rộng 5,25m) giữa đường có vạch kẻ màu vàng đứt đoạn, hai bên mép đường có vạch sơn màu trắng liền nét, bên phải đường là lề đường rộng 65cm liền kề là vỉa hè nền lát gạch rộng 1,8m, tiếp đến là nhà nghỉ A. Bên trái đường có lề đường rộng 65cm, liền kề là vỉa hè rộng 1,9m, tiếp đến là cửa hàng thép TISCO. Từ tâm hiện trường nhìn về hướng đi thành phố T cách 15m có khúc cua bên trái, tầm nhìn hạn chế, nhìn về hướng đi S, cách 30m có khúc cua phải, tầm nhìn không hạn chế.

Lấy mép ngoài vạch kẻ sơn màu trắng bên phải đường làm mép chuẩn, lấy cột điện số 213 bên trái đường làm vật chuẩn. Mép chuẩn cách vật chuẩn 12,3m.

Tại hiện trường phát hiện vùng tạp chất màu nâu đỏ trên vỉa hè (đặt số 1), có kích thước (90x60)cm, tâm vùng vết cách mép chuẩn 1,63m, cách vật chuẩn 22,3m; Vết tì trượt màu đen trên lề đường và mép vỉa hè (đặt số 2), có chiều dài 3,15m, chỗ rộng nhất 2,2cm hướng S đi thành phố T. T2 đầu vết cách mép chuẩn 70cm, tâm cuối vết cách mép chuẩn 64cm và có điểm kết thúc tại vị trí ngay trước đuôi xe mô tô biển số 22B2-22068; vị trí số 1 cách vị trí số 2 là 2,5m. Vết cày trượt ở mép vỉa hè (đặt số 3), có chiều dài 28cm, rộng nhất 0,5cm hướng S đi thành phố T, chếch vào vỉa hè bên phải đường. T2 đầu vết cách mép chuẩn 72cm, đo về hướng đi S đến tâm vị trí số 1 là 04m, tâm cuối vết cách mép chuẩn 83cm; Vị trí xe mô tô biển số 22B2-22068 (đặt số 4), xe đổ nghiêng phải, đầu xe quay hướng đi thành phố T, tâm đầu trục trước bên phải cách mép chuẩn 10cm, tâm đầu trục sau bên phải cách mép chuẩn 38cm, vị trí đuôi xe phát hiện các mảnh vỡ nhựa màu đen; vị trí số 4 cách vị trí số 1 là 6,35m.

Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông hồi 22 giờ 30 phút ngày 04/8/2024 đối với xe mô tô biển số 22B2-220.68: Gương chiếu hậu bên trái gãy, rụng rời khỏi vị trí chỉ còn lại chân gương; đầu tay nắm lái bên trái có các vết trượt xước, mất sơn, hướng từ trước về sau; đầu tay phanh bên trái có các vết trượt xước, mài miết, hướng từ trước về sau, bề mặt bám dính tạp chất màu trắng; cánh yếm bên trái gãy, vỡ, biến dạng, hướng từ trước về sau, kích thước vùng vỡ (34x15)cm, mép cánh yếm có các vết trượt xước, mài miết, mất sơn; chắn bùn bánh trước có các vết trượt xước, mài miết mất sơn; ốp nhựa bảo vệ đèn chiếu sáng phía trước, có các vết trượt xước nhựa; đầu tay nắm lái, đầu phanh bên phải có các vết trượt xước, mài miết, bề mặt bám dính bụi đất; cánh yếm bên phải có các vết tì trượt, mài miết, nhựa bề mặt bám dính bụi đất; mép ngoài bên phải để chân xe phía trước có vùng tì trượt, mài miết nhựa, tương ứng vị trí này ở gầm xe bên phải có vùng trượt xước, mài miết nhựa; mặt ngoài ốp sườn xe bên phải có vùng trượt xước mài miết, mất sơn, bề mặt bám dính đất đá; tay nắm đuôi xe có vết trượt xước mài miết, mất sơn hướng từ trước về sau; ốp nhựa bảo vệ ống xả có vùng trượt xước mài miết, gãy vỡ nhựa, bề mặt bám dính bụi đất; thành kim loại đỡ phía dưới ống dẫn khí xả, mặt dưới có vết trượt xước kim loại, bề mặt bám dính bụi đất.

Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông hồi 05 giờ 30 ngày 07/8/2024 đối với xe ô tô biển số đăng ký 22C-105.12: Kích thước bao (6250x2060)mm: Mặt ngoài thùng xe bên trái: có vết tì trượt lõi kim loại có chiều dài 41cm, chỗ rộng nhất 1,3cm, chỗ lõm sâu nhất 0,5cm, chiều hướng từ trước về sau. Đầu vết đo cách đuôi thùng xe bên trái là 92cm và cách mặt nền là 94,5cm. Đuôi vết đo cách đuôi thùng xe bên trái là 50cm và đo cách mặt nền là 90cm. Cách đuôi thùng xe bên trái 64cm và cách mặt nền 94,5cm có 01 mẩu nilon màu xanh bám dính trên thùng xe. Cách đuôi xe bên trái 69cm và cách mặt nền 105,5cm có 01 mẩu nilon màu xanh bám dính trên đinh rút.

Kết luận giám định số 1115/KL-KTHS ngày 09/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Các vết móp méo, trượt xước kim loại bán dính tạp chất màu đen ở đuôi thành thùng bên trái xe ô tô biển số 22C-105.12 (ảnh 9 trong bản ảnh giám định) hình thành do va chạm với các vết mài miết, trượt xước, gãy vỡ ở đầu tay nắm lái, đầu tay phanh và cánh yếm trái xe mô tô biển số 22B2-220.68 (ảnh 10, 11 trong bản ảnh giám định) là phù hợp. Vị trí va chạm trên mặt đường giữa xe ô tô biển số 22C-105.12 và xe mô tô biển số 22B2-220.68 ở chiều đường bên phải theo hướng S đi thành phố T là phù hợp. Không đủ điều kiện xác định tốc độ của xe ô tô biển số 22C-105.12 và xe mô tô biển số 22B2-220.68 ngay trước thời điểm xảy ra va chạm.

Kết luận giám định số 1305/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của Phòng K anh tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu chất màu đen thu tại vị trí vết lõm trên thùng xe ô tô tải biển số 22C-105.12 (ký hiệu A1) gửi giám định cùng loại với mẫu sơn màu đen thu tại vị trí vết trượt, xung quanh vị trí vết trượt đầu tay nắm lái của xe mô tô biển số 22B2-220.68 (ký hiệu M1) gửi làm mẫu so sánh; Mẫu chất màu đen thu tại vị trí khung sau bên trái thùng xe ô tô tải biển số đăng ký 22C-105.12 (ký hiệu A2) gửi giám định cùng loại với mẫu sơn màu đen thu tại vết vỡ trên cánh yếm của xe mô tô biển số đăng ký 22B2-220.68 (ký hiệu M2) gửi làm mẫu so sánh.

Kết luận giám định số 1109/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Trong mẫu gửi giám định lưu trữ 01 (một) file video có tên: XVR ch2 main 20240804201300 20240804202000.asf mã MD5: 02C2B61DDE2D5537577CCE0837B1FA4. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong file video này. Không xác định được hình ảnh liên quan đến vụ tai nạn giao thông nêu trên, do đó không thực hiện các yêu cầu giám định tiếp theo.

Kết luận định giá tài sản số 78 ngày 25/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, kết luận: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 690.100đ (Sáu trăm chín mươi nghìn một trăm đồng)

* Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện S tạm giữ: 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, loại xe thùng kín, màu sơn xanh, biển số 22C-105.12; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe tô tô số 22000519, chủ xe Nguyễn Sinh L; 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Sinh L; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô biển số 22C-105.12; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu sơn đen đỏ, biển số đăng ký 22B2-220.68. Ngày 10/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã trả lại xe mô tô cho chị L1 là chủ sở hữu hợp pháp.

* Về trách nhiệm dân sự: Ngày 12/8/2024, Nguyễn Sinh L đã tự nguyện bồi thường cho chị Trần Nhật L1 và cháu Nguyễn Gia H1 số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng). Chị L1 yêu cầu L tiếp tục bồi thường số tiền 158.000.000đ (Một trăm năm mươi tám nghìn đồng), L chưa bồi thường. Ngày 12, 13 và 20/8/2024, Nguyễn Sinh L đã tự nguyện bồi thường cho chị Phạm Thị Ngọc Á tổng số tiền 85.000.000đ (T3 mươi lăm triệu đồng). Chị Á yêu cầu L tiếp tục bồi thường số tiền 259.400.000đ (Hai trăm năm mươi chín triệu bốn trăm nghìn đồng), L chưa bồi thường.

Từ nội dung trên, tại Cáo trạng số 15/CT-VKS, ngày 13/01/2025 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Nguyễn Sinh L về “Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Nguyễn Sinh L đã khai nhận toàn bộ nội dung sự việc đúng như Cáo trạng đã nêu, do bị cáo chủ quan cho rằng trời mưa tối, không có người qua lại nên bị cáo đã điều khiển xe đi không đúng phần đường, không làm chủ được tốc độ khi gặp xe mô tô của chị L1 đi ngược chiều dẫn đến va chạm với xe của chị L1, hậu quả gây thương tích cho chị L1, cháu H1 và chị Á. Bị cáo xác định những thiệt hại của những người bị hại là do hoàn toàn lỗi của bị cáo, bị cáo nhất trí với tất cả những thiệt hại mà các bị hại yêu cầu.

- Về phần trách nhiệm dân sự, bị cáo và các bị hại đã thống nhất thỏa thuận:

Bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị L1 và cháu H1 tổng số tiền là 187.609.083đ, bao gồm:

  • + Chi phí thuê xe: 985.000đ;
  • + Chi phí khám chữa bệnh của chị L1 theo các hóa đơn, chứng từ là: 90.856.154,8đ;
  • + Chi phí bồi dưỡng sức khỏe của chị L1 trong thời gian điều trị là: 1.194.228đ;
  • + Thu nhập thực tế bị mất tháng 8,9/2024 và ½ tháng 02/2025 của chị L1 là 24.000.000đ;
  • + Thu nhập thực tế bị mất cho một người chăm sóc chị L1 trong thời gian chị L1 điều trị 1 tháng 15 ngày là: 5.175.000đ;
  • + Bồi thường tổn thất về tinh thần cho chị L1 là: 23.400.000đ;
  • + Bồi thường thiệt hại về tài sản là: 690.100đ;
  • + Chi phí khám chữa bệnh của cháu H1 theo các hóa đơn là: 30.314.757đ;
  • + Chi phí bồi dưỡng sức khỏe của cháu H1 trong thời gian điều trị là: 2.248.843;
  • + Thu nhập thực tế bị mất cho một người chăm sóc cháu H1 trong thời gian điều trị 15 ngày là: 1.725.000đ;
  • + Bồi thường tổn thất về tinh thần cho cháu H1 là: 7.020.000đ)

Trừ đi số tiền 20.000.000đ đã bồi thường, bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền 167.609.083đ, làm tròn là 167.000.000đ (Một trăm sáu mươi bẩy triệu đồng). Ngoài ra chị L1 không yêu cầu chi phí nào khác nữa, nếu sau này có phát sinh thêm chi phí nào khác chị cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị Á tổng số tiền là 210.134.269đ, bao gồm:

  • + Chi phí thuê xe: 6.500.000đ;
  • + Chi phí khám chữa bệnh theo các hóa đơn, chứng từ là: 27.046.591đ;
  • + Chi phí bồi dưỡng sức khỏe trong thời gian điều trị 02 tháng 06 ngày ở các bệnh viện tại Hà Nội và 02 tháng 24 ngày tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T số tiền là: 22.347.678đ;
  • + Thu nhập thực tế bị mất theo mức lương trung bình của lao động tự do trên địa bàn phường N là 5.000.000đ/tháng trong thời gian điều trị là 8 tháng là: 40.000.000đ;
  • + Thu nhập thực tế bị mất cho một người chăm sóc là 5.000.000đ/tháng trong thời gian chăm sóc là 6 tháng là: 30.000.000đ;
  • + Bồi thường tổn thất về tinh thần là: 84.240.000đ.

Trừ đi số tiền 85.000.000đ đã bồi thường, bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền 125.134.269 làm tròn là 125.000.000đ (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng). Đối với chi phí 6.600.000đ chị Á tập vật lý trị liệu tại cơ sở y tế phục hồi chức năng Hải Dương chị không yêu cầu. Những chi phí thiệt hại trên là những chi phí tại thời điểm này, nếu sau này phát sinh chi phí nào khác nữa thì chị Á sẽ khởi kiện bằng vụ án dân sự khác. Về chi phí mổ tháo đinh sau này do chị có bảo hiểm nên chị không yêu cầu bị cáo bồi thường đối với chi phí mổ tháo đinh.

- Kiểm sát viên giữ quyền công tố, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Sinh L phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Sinh L từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù giam.

Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và các bị hại tại phiên tòa về số tiền bị cáo phải bồi thường tiếp cho các bị hại.

Đề nghị trả lại cho bị cáo 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, loại xe thùng kín, màu sơn xanh, biển số 22C-105.12; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe tô tô số 22000519, chủ xe Nguyễn Sinh L; 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Sinh L; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô biển số 22C-105.12; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô những giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nghĩa vụ chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, Bị hại không có ý kiến tranh luận gì.

Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi các bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh tại biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 20 giờ 10 phút ngày 04/8/2024 tại km 187+200 quốc lộ C thuộc tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, Nguyễn Sinh L (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô tải, biển số 22C-105.12 theo hướng thành phố T đi huyện S đã không đi đúng phần đường bên phải của mình, không làm chủ tốc độ dẫn đến va chạm với xe mô tô biển số 22B2-220.68 do chị Trần Nhật L1 điều khiển trên xe chở cháu Nguyễn Gia H1 và chị Phạm Thị Ngọc Á đang đi đúng phần đường bên phải theo hướng huyện S đi thành phố T. Hành vi của Nguyễn Sinh L đã vi phạm quy định khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (có hiệu lực tại thời điểm xảy ra tai nạn): “Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình....” và khoản 11 Điều 5 Thông tư 31/2019/BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định: “Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong trường hợp: trời mưa....”. Sau khi xảy ra va chạm, Nguyễn Sinh L điều khiển xe ô tô bỏ chạy khỏi hiện trường để trốn tránh trách nhiệm và không cứu giúp người bị nạn là vi phạm quy định tại khoản 17 Điều 8 Luật giao thông đường bộ: “Các hành vi bị nghiêm cấm: ...Bỏ trốn sau khi gây tai nạn để trốn tránh trách nhiệm”. Hậu quả: xe mô tô biển số 22B2-220.68 của chị L1 bị hư hỏng, thiệt hại 690.100đ (Sáu trăm chín mươi nghìn một trăm đồng); chị L1 bị tổn hại sức khỏe 20%, cháu H1 bị tổn hại sức khỏe 06%, chị Á bị tổn hại sức khỏe 72%. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của 03 người bị hại là 98%.

Hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, an toàn giao thông, xâm phạm đến sức khỏe, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đã được cấp giấy phép lái xe, được học luật giao thông đường bộ, biết việc đi không đúng phần đường là trái quy định nhưng do bị cáo chủ quan cho rằng trời mưa tối, không có người qua lại nên bị cáo đã điều khiển xe đi không đúng phần đường, không làm chủ được tốc độ khi gặp xe mô tô của chị L1 đi ngược chiều. Hành vi của Nguyễn Sinh L đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như cáo trạng là có căn cứ pháp luật.

[2] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:

Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” về hành vi phạm tội; bị cáo đã “tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại”. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy: Hậu quả xảy ra hoàn toàn do lỗi của bị cáo, sau khi xảy ra tai nạn bị cáo không dừng xe lại để cứu giúp người bị hại là thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo nên cần thiết buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù giam trong thời gian nhất định như đề nghị của Viện kiểm sát để có thể giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự:

Từ những nhận định tại mục [1] và mục [2], Hội đồng xét xử thấy, hậu quả xảy ra đối với các bị hại hoàn toàn do lỗi của bị cáo, do vậy bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại của các bị hại.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và các bị hại đã thống nhất thỏa thuận:

Bị cáo Nguyễn Sinh L có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị Trần Nhật L1 và cháu Nguyễn Gia H1 tổng số tiền là 187.609.083đ (bao gồm: chi phí thuê xe: 985.000đ; chi phí khám chữa bệnh của chị L1 theo các hóa đơn, chứng từ là: 90.856.154,8đ; chi phí bồi dưỡng sức khỏe của chị L1 trong thời gian điều trị là: 1.194.228đ; thu nhập thực tế bị mất tháng 8,9/2024 và ½ tháng 02/2025 của chị L1 là 24.000.000đ; thu nhập thực tế bị mất cho một người chăm sóc chị L1 trong thời gian chị L1 điều trị 1 tháng 15 ngày theo mức lương tối thiểu vùng là: 5.175.000đ; bồi thường tổn thất về tinh thần cho chị L1 đối với 20% tổn hại sức khỏe tương đương 10 lần mức lương cơ sở là: 23.400.000đ; bồi thường thiệt hại về tài sản là: 690.100đ; chi phí khám chữa bệnh của cháu H1 theo các hóa đơn, chứng từ là: 30.314.757đ; chi phí bồi dưỡng sức khỏe của cháu H1 trong thời gian điều trị là: 2.248.843; thu nhập thực tế bị mất cho một người chăm sóc cháu H1 trong thời gian điều trị 15 ngày theo mức lương tối thiểu vùng là: 1.725.000đ; bồi thường tổn thất về tinh thần cho cháu H1 đối với 06% tổn hại sức khỏe tương đương 03 lần mức lương cơ sở là: 7.020.000đ), trừ đi số tiền 20.000.000đ bị cáo đã bồi thường, bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền 167.609.083đ, làm tròn là 167.000.000đ (Một trăm sáu mươi bẩy triệu đồng). Ngoài ra chị L1 không yêu cầu chi phí nào khác nữa, nếu sau này có phát sinh thêm chi phí nào khác chị cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.

Bị cáo Nguyễn Sinh L có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho chị Á tổng số tiền là 210.134.269đ (bao gồm: chi phí thuê xe: 6.500.000đ; chi phí khám chữa bệnh theo các hóa đơn, chứng từ là: 27.046.591đ; chi phí bồi dưỡng sức khỏe trong thời gian điều trị 02 tháng 06 ngày ở các bệnh viện tại Hà Nội và 02 tháng 24 ngày tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh T số tiền là: 22.347.678đ; thu nhập thực tế bị mất của chị Á theo mức lương trung bình của lao động tự do trên địa bàn phường N là 5.000.000đ/tháng trong thời gian điều trị là 8 tháng là: 40.000.000đ; thu nhập thực tế bị mất cho một người chăm sóc theo bình quân thu nhập là 5.000.000đ/tháng trong thời gian chăm sóc là 6 tháng là: 30.000.000đ; bồi thường tổn thất về tinh thần cho chị Á đối với 72% tổn hại sức khỏe tương đương 36 lần mức lương cơ sở là: 84.240.000đ) trừ đi số tiền 85.000.000đ bị cáo đã bồi thường, bị cáo còn phải bồi thường tiếp số tiền 125.134.269 làm tròn là 125.000.000đ (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng). Đối với chi phí 6.600.000đ chị Á tập vật lý trị liệu tại cơ sở y tế phục hồi chức năng Hải Dương chị không yêu cầu. Những chi phí thiệt hại trên là những chi phí tính đến ngày xét xử sơ thẩm, nếu sau này phát sinh chi phí nào khác nữa thì chị Á sẽ khởi kiện bằng vụ án dân sự khác. Về chi phí mổ tháo đinh sau này do chị có bảo hiểm nên chị không yêu cầu bị cáo bồi thường đối với chi phí mổ tháo đinh.

Xét thấy sự thỏa thuận trên của bị cáo và các bị hại là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định tại các Điều 584, Điều 585, Điều 590 Bộ Luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo Hợp đồng lao động nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo và các bị hại.

[4] Về xử lý vật chứng:

Ngày 10/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã trả lại xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại VISION, màu sơn đen đỏ, biển số đăng ký 22B2-220.68. cho chị L1 là chủ sở hữu hợp pháp theo Quyết định xử lý vật chứng số 1788/QĐ-XLĐV ngày 10/11/2024 của CQCSĐT Công an huyện S, xét thấy phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Trả lại cho bị cáo 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, loại xe thùng kín, màu sơn xanh, biển số 22C-105.12, cùng toàn bộ giấy tờ xe gồm: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 22000519, chủ xe Nguyễn Sinh L; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô biển số 22C-105.12; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô những giữ lại để đảm bảo thi hành án.

Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Sinh L.

[5] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Qua xem xét, nghiên cứu hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm; bị cáo, các bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sinh L phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Sinh L 03 (ba) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ tạm giam (15/11/2024).
  3. Về trách nhiệm dân sự

    Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 30 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 357, 468, 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị định số 74/2024/NĐ-CP ngày 30/6/2024 của Chính phủ.

    Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo Nguyễn Sinh L với các bị hại về việc bị cáo có trách nhiệm bồi thường tiếp cho chị Trần Nhật L1 và cháu Nguyễn Gia H1 (do chị Trần Thị L2 làm đại diện) tổng số tiền là: 167.000.000đ (Một trăm sáu mươi bẩy triệu đồng); bồi thường tiếp cho chị Phạm Thị Ngọc Á số tiền là 125.000.000đ (Một trăm hai mươi lăm triệu đồng).

    Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
    • - Trả tại lại cho bị cáo 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, loại xe tải thùng kín, màu sơn xanh, số máy D4DBA427828, số khung RLPVA17BPBC000376, trọng tải 1750kg, khối lượng toàn bộ 4900kg, biển số đăng ký 22C-105.1201.
    • (Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/9/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương).
    • Các giấy tờ xe gồm: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe tô tô số 22000519, chủ xe Nguyễn Sinh L; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của xe ô tô biển số 22C-105.12; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô được lưu giữ theo hồ sơ, Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương sẽ chuyển sang Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sơn Dương để đảm bảo việc thi hành án đối với chiếc xe ô tô nói trên.
    • - Trả lại cho bị cáo: 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Nguyễn Sinh L.
  5. Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;

    Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí Hình sự sơ thẩm và 14.600.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng cả hai án phí là: 14.800.000đ (Mười bốn triệu tám trăm nghìn đồng).

    Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (12/3/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - Công an tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Dương;
  • - Bị cáo;
  • - Các bị hại;
  • - UBND xã Thái Bình, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tăng Thị Hường

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Văn Hùng Nguyễn Văn Quang

Tăng Thị Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Sinh L phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger