Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ MỸ

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày: 05/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Hoàng Bảo Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Hải

2. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Mỹ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Trường Giang – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QDST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Hoàng V (tên gọi khác: Không), sinh ngày 12/7/2005 tại tỉnh Khánh Hoà, nơi cư trú: Thôn G, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng L, sinh năm 1972 và bà Lê Thị L1, sinh năm 1972; Gia đình bị cáo có 03 người con, bị cáo là con út; Vợ, con: Không; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 25/7/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố B – Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại: Công ty Cổ phần D. Địa chỉ: KCN M, phường M, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Trần Thị Thu N – Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Dương Hữu H, sinh năm 1988. Địa chỉ: Khu phố P, phường M, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)

- Người làm chứng:

  1. Công ty TNHH T1. Địa chỉ: Q, khu phố P, phường M, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Hữu T – Giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn V1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Khu phố T, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)

  2. Công ty TNHH D1. Địa chỉ: KCN M, phường M, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

    Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Đình Q, sinh năm 1989 – Phó Giám đốc. Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn N, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Hoàng V là nhân viên bán xăng của Cửa hàng X – Chi nhánh Công ty Cổ phần D (gọi tắt là Công ty D). V được Công ty giao nhiệm vụ bán lẻ xăng, dầu, quản lý tiền trong ca làm việc của mình, kết thúc ca làm việc thì V bàn giao tiền lại cho kế toán của Công ty. Giữa Công ty D với Công ty TNHH D1 (gọi tắt là Công ty D1) và Công ty TNHH T1 (gọi tắt là Công ty T1), có ký kết hợp đồng mua bán xăng dầu. Theo nội dung hợp đồng thì các phương tiện vận tải của Công ty D1 và Công ty T1 sẽ đến Cửa hàng X để được cấp nhiên liệu và xác nhận vào sổ công nợ, đến ngày 30 hàng tháng thì bên Công ty D sẽ tổng hợp số lượng nhiên liệu của mỗi công ty đã được cấp rồi xuất hóa đơn giá trị gia tăng. Trong vòng 15-20 ngày kể từ ngày nhận được hóa đơn thì Công ty T1 và Công ty D1 phải thanh toán công nợ cho Công ty D. Quá trình làm việc tại Cửa hàng X, V nhận thấy các tài xế có sự lỏng lẻo, chủ quan, thường nhờ V ký thay vào sổ công nợ về số nhiên liệu được cấp nên V nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của Công ty D. Vào các ca làm việc của mình, mỗi khi có xe của Công ty D1, Công ty T1 đến đổ dầu thì V sẽ kê thêm số lượng dầu đã đổ vào sổ công nợ, cũng có ngày không có xe của Công ty D1 và Công ty T1 đến đổ dầu nhưng V vẫn ghi khống vào sổ công nợ hai công ty trên có đến đổ dầu. Số lượng nhiên liệu kê thêm, kê khống V sẽ nhân với đơn giá thành tiền, cuối ca làm việc V sẽ lấy tiền từ doanh thu bán lẻ của cửa hàng tương ứng với số tiền mà V đã kê khống để chiếm đoạt tiền của Công ty D. Trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2023 đến ngày 03/5/2023, Lê Hoàng V đã 15 lần chiếm đoạt tài sản của Công ty D cụ thể như sau:

  1. Lần thứ 01: Ca 02 ngày 01/4/2023 chiếm đoạt 370 lít dầu trị giá 7.141.000 đồng;
  2. Lần thứ 02: Ca 02 ngày 05/4/2023 chiếm đoạt 100 lít dầu trị giá 1.943.000 đồng;
  3. Lần thứ 03: Ca 02 ngày 07/4/2023 chiếm đoạt 200 lít dầu trị giá 3.886.000; đồng;
  4. Lần thứ 04: Ca 01 ngày 10/4/2023 chiếm đoạt 260 lít dầu trị giá 5.051.800 đồng;
  5. Lần thứ 05: Ca 01 ngày 12/4/2023 chiếm đoạt 200 lít dầu trị giá 4.028.000 đồng;
  6. Lần thứ 06: Ca 02 ngày 12/4/2023 chiếm đoạt 240 lít dầu trị giá 4.833.600 đồng;
  7. Lần thứ 07: Ngày 14/4/2023 chiếm đoạt 200 lít dầu trị giá 4.028.000 đồng;
  8. Lần thứ 08: Ca 01 ngày 15/4/2023 chiếm đoạt 85 lít dầu trị giá 1.711.900 đồng;
  9. Lần thứ 09: Ca 01 ngày 18/4/2023 chiếm đoạt 395 lít dầu trị giá 7.955.300 đồng;
  10. Lần thứ 10: Ca 02 ngày 19/4/2023 chiếm đoạt 340 lít dầu trị giá 6.847.600 đồng;
  11. Lần thứ 11: Ca 01 ngày 22/4/2023 chiếm đoạt 161 lít dầu trị giá 3.242.540 đồng;
  12. Lần thứ 12: Ca 01 ngày 24/4/2023 chiếm đoạt 200 lít dầu trị giá 3.878.000 đồng;
  13. Lần thứ 13: Ca 01 ngày 27/4/2023 chiếm đoạt 200 lít dầu trị giá 3.878.000 đồng;
  14. Lần thứ 14: Ca 02 ngày 27/4/2023 chiếm đoạt 200 lít dầu trị giá 3.878.000 đồng;
  15. Lần thứ 15: Trong ca làm việc ngày 03/5/2023, xe đầu kéo BKS: 72C-100.61 của Công ty T1 đến cửa hàng để đổ 45 lít dầu, sau khi đổ dầu xong V đã ghi vào sổ công nợ số lít dầu mà xe đầu kéo BKS: 72C-100.61 đổ là 245 lít; xe đầu kéo BKS 51C-784.68 của Công ty D1 đến cửa hàng đổ 20 lít dầu, sau khi đổ dầu xong V ghi vào sổ công nợ số lít dầu mà xe đầu kéo BKS 51C-784.68 đổ là 200 lít, để chiếm đoạt 380 lít dầu trị giá 7.368.200 đồng của cửa hàng. Khoảng 18 giờ 20 phút ngày 03/5/2023, qua camera an ninh và đối chiếu sổ sách ông Dương Hữu H là phó giám đốc cửa hàng phát hiện V có dấu hiệu gian lận trong quá trình đổ dầu cho hai xe đầu kéo BKS: 72C-100.61 và 51C-784.68 nên đã đến cơ quan Công an trình báo sự việc.

Tổng số lượng dầu mà V đã tham ô của Công ty D là 47.162 lít dầu trị giá 72.579.440đ (bảy mươi hai triệu, năm trăm bảy mươi chín nghìn, bốn trăm bốn mươi đồng).

Tại Cáo trạng số 12/CT-VKS-PM ngày 02 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố Lê Hoàng V về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa:

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Hoàng V phạm tội “Tham ô tài sản”; Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt đối với bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 353, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo với mức án từ 06 (sáu) năm đến 07 (bảy) năm tù.

Xử lý vật chứng: Trả lại số tiền 1.500.000 đồng bị cáo chiếm đã chiếm đoạt cho Công ty Cổ phần D.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết.

+ Tại phiên toà, bị cáo V2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng truy tố và xác định việc truy tố đúng tội danh, không oan.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định tại các điều 88, 98, 105 Bộ luật Tố tụng hình sự, Quá trình điều tra không có bức cung, nhục hình. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án và tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các lời khai tại cơ quan điều tra cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, do vậy đủ căn cứ kết luận:

Trong khoảng thời gian từ ngày 01/4/2023 đến ngày 03/5/2023, tại KCN M, phường M, thành phố P, tỉnh BR-VT, Lê Hoàng V là nhân viên bán xăng của Cửa hàng X – Chi nhánh Công ty Cổ phần D lợi dụng quyền hạn của mình khi được giao nhiệm vụ bán lẻ xăng, dầu và quản lý tiền trong ca làm việc đã 14 lần kê thêm, kê khống 46.962 lít xăng, dầu bán cho các xe ô tô của Công ty D1 trị giá 68.701.440 đồng; 01 lần kê thêm, kê khống 200 lít xăng, dầu bán cho xe ô tô của Công ty T1 trị giá 3.878.000 đồng để chiếm đoạt tiền của Công ty D nhằm mục đích tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị tài sản Lê Hoàng V đã chiếm đoạt của Công ty D là 72.579.440 đồng.

Do đó hành vi của Lê Hoàng V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, bình thường của tổ chức kinh tế, ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương. Vì muốn có tiền tiêu xài, bị cáo đã thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên tại thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa đủ 18 tuổi, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn hạn chế nên khi quyết định hình phạt cần xem xét áp dụng các Điều 91, 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng: Trả lại số tiền 1.500.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt cho Công ty Cổ phần D.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Công ty Cổ phần D không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Hoàng V phạm tội “Tham ô tài sản”.

    Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 353, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự,

    Xử phạt bị cáo Lê Hoàng V 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ 25/7/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Trả lại cho Công ty Cổ phần D số tiền 1.500.000₫ (một triệu năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền số 0001500 ngày 17/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Mỹ.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
  • - PV 06 - Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
  • - VKSND TP.Phú Mỹ;
  • - PC 01 - Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP.Phú Mỹ;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Bảo Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về hình sự (tham ô tài sản)

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tham ô tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hoàng V phạm tội tham ô tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger