|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2025/HS-ST Ngày: 17-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Bang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Kim Thành
Bà Vương Thị Minh Tân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thiên Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn T, sinh ngày 24 tháng 5 năm 1984, tại: tỉnh Nam Định; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Thôn L, xã M, thành phố N, tỉnh Nam Định; Số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Xuân T1 và bà Trần Thị C; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt để tạm giam từ ngày 04-11-2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Bà Trần Thị H, sinh năm 1967; Cư trú tại: Đ, xã N, huyện B, tỉnh Hà Nam. Vắng mặt.
- Người đại diện theo uỷ quyền của bà H: Chị Đặng Thị Thu T2, sinh năm 1993; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố số H, phường H, thành phố N, tỉnh Nam Định. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 11-7-2024, sau khi đã uống bia, Trần Văn T (có giấy phép lái xe) theo quy định điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát (BKS) 18B1-309.09 đi từ quán bia đến cửa hàng điện nước dân dụng của mình tại thôn Đ, xã M (nay là xã M), thành phố N, tỉnh Nam Định. Tiếp đi trên đường trục xã M theo hướng từ thôn L đến thôn Đ trong điều kiện đường trục xã M là đường hai chiều, mặt đường rộng 5,5m, ở giữa có vạch kẻ đường màu vàng đứt đoạn phân chia thành hai chiều đường riêng biệt, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, trời tối có đèn cao áp chiếu sáng, mật độ người và phương tiện tham gia giao thông vắng. T điều khiển xe mô tô đi với vận tốc khoảng 45km/h, cách mép đường bên phải khoảng 2m. Khi đi đến cách đoạn vòng theo hướng đi khoảng 7m, T không giảm tốc độ, điều khiển xe lấn sang chiều đường ngược lại, cách vạch kẻ giữa đường khoảng 1m. Khi T đi vào đoạn đường vòng khoảng 2m thì cùng lúc này bà Trần Thị H, sinh năm 1967, trú tại đội 2, xã N, huyện B, tỉnh Hà Nam đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 90B3-672.54 đi trên đường trục xã M theo chiều ngược lại với vận tốc khoảng 30km/h, cách mép đường bên phải theo hướng bà H đi khoảng 2m, cách đầu xe mô tô do T điều khiển khoảng 4m. Thấy vậy, T đánh lái sang phải để tránh nhưng do khoảng cách quá gần nhau nên phần đầu bên trái xe mô tô do T điều khiển xô vào phần đầu bên trái xe mô tô do bà H điều khiển làm bà H và T bị ngã đập người xuống đường, được đưa đi bệnh viện cấp cứu.
Vào hồi 20 giờ 35 phút ngày 11-7-2024, Công an huyện M (nay là thành phố N) tiến hành khám nghiệm hiện trường. Kết quả khám nghiệm hiện trường như sau: 01 vết cày có chiều dài 0,15m, 01 vết cày đứt quãng dài 3,8m, đang vỡ thuỷ tinh, mảnh nhựa nhỏ vụn có kích thước (3x2)m; xe mô tô BKS 90B3-672.54 đổ nghiêng về phía bên phải theo chiều Đ - L; một đám máu có kích thước (0,6 x 0,3)m; một đám máu có kích thước (0,5 x 0,5)m; xe mô tô BKS 18B1-309.09 đổ nghiêng về phía bên phải, đầu xe quay hướng Lang Xá, đuôi xe quay hướng Đ.
Hồi 08 giờ 00 phút ngày 04-08-2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xe mô tô BKS 90B3-672.54. Kết quả khám xe: Cụm đèn pha bị bung rời khỏi vị trí chốt ban đầu, gãy rời khỏi xe. Dấu vết đầu bên trái xe (bên cần số): nắp trước tay lái bị vỡ, nắp hộp đồng hồ bị vỡ; mặt ngoài phía trước càng bánh xe, ở vị trí bắt trục bánh xe phía trước có vết chùi quẹt từ trước về sau, từ phải sang trái; mặt ngoài chắn bùn trước bên trái ngay vị trí càng bánh xe, mặt ngoài cánh yếm bên trái, mặt ngoài phía trên mặt nạ trước bên trái, mặt ngoài phía dưới bên trái nắp trước tay lái đều có dấu vết va chạm; gương chiếu hậu bên trái bị lỏng lẻo, mặt phần kính gương; phần ốp nhựa ống yếm bị gãy bung khỏi chốt gá; phần cần số phía trước bị cong vênh; phần để chân bên trái của người điều khiển bị mất phần đệm cao su, bị đẩy gập từ trước về sau. Dấu vết bên phải xe (bên tay ga): phần gương chiếu hậu bị đẩy gập từ trước về sau; đầu trơn tay phanh bị gãy; mặt ngoài đầu nắm tay ga, mặt ngoài đầu phần để chân của người điều khiển bên phải, mặt ngoài phía đuôi ốp bảo vệ ống xả có vết trượt xước.
Hồi 09 giờ 30 phút, ngày 04-08-2024, Cơ quan điều tra tiến hành khám xe mô tô BKS 18B1-309.09. Kết quả khám xe: Phần nắp nhựa phía trước và phía sau tay lái bị gãy bật khỏi chốt gá; phần cụm đèn chiếu sáng phía trước lỏng lẻo, bật khỏi chốt gá. Dấu vết bên trái xe (bên cần số): tại mặt ngoài chắn bùn bên trái và mặt ngoài phía trước bên dưới càng bánh xe có vết trượt xước; phần cánh yếm bên trái, ốp ống yếm bị gãy vỡ rời khỏi xe; dây công tơ mét bị đứt rời khỏi vị trí ban đầu; phần gá để chân của người điều khiển bị đẩy gập từ trước về sau; phần phía trước cần số bị cong vênh; mặt trong phần cần số có vết trượt xước. Dấu vết bên phải xe (bên tay ga): mặt ngoài phía trước nắp trước tay lái và phần nhựa đèn xi nhan bên phải, mặt ngoài đầu nắm tay phanh, mặt ngoài phía trước đầu nắm tay lái bên phải có vết trượt xước; bàn để chân người điều khiển bị cong vênh; đẩy gập từ trước về sau; phần mặt ngoài dưới đuôi ốp bảo vệ ống xả có vết trượt xước bề mặt kim loại.
Ngày 12-07-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M (nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N) ra Quyết định số 361/QĐ-ĐTTH trưng cầu giám định Nồng độ cồn (E) và chất ma tuý trong máu của bị cáo Trần Văn T và Quyết định số 362/QĐ-ĐTTH trưng cầu giám định nồng độ cồn (E) và chất ma tuý trong mẫu máu của bà Trần Thị H1.
Kết luận giám định độc chất số 597/2024/KLGĐĐC-TTPY ngày 17-7-2024 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: Mẫu máu của Trần Văn T giám định có Ethanol, nồng độ 131,15mg/100 ml; không tìm thấy các chất ma túy.
Kết luận giám định độc chất số 598/2024/KLGĐĐC-TTPY ngày 18-7-2024 của Trung tâm pháp y Sở Y kết luận: Mẫu máu của Trần Thị H giám định không tìm thấy E, không tìm thấy các chất ma túy.
Ngày 15-10-2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố N ra Quyết định số 2883/QĐ-ĐTTH trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của bà Trần Thị H. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 150/24/TgT ngày 25-10-2024 của Trung tâm giám định y khoa - pháp y Sở Y tế tỉnh N kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Trần Thị H do thương tích gây nên hiện tại là 92%. Cơ chế hình thành vết thương: Đa chấn thương do cơ thể va đập với vật cứng gây thương tích.
Ngày 14-10-2024, bị cáo Trần Văn T có đơn xin từ chối giám định tỷ lệ thương tích của bản thân.
Tại Cơ quan điều tra Trần Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Về trách nhiệm dân sự: Trần Văn T đã tác động để gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với T.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 18B1-309.09 cho Trần Văn T, chiếc xe mô tô BKS 90B3-672 cho bà Trần Thị H. Đại diện gia đình T và bà H đã nhận lại và không có ý kiến gì.
Bản Cáo trạng số 28/CT-VKS-TPNĐ ngày 14-01-2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Trần Văn T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 04 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04-11-2024.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Văn T.
- Bị cáo Trần Văn T phải đóng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Trần Văn T xin Hội đồng xét xử xem xét để cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn T, bị hại và người đại diện của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[1.2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị hại là bà Trần Thị H có Giấy uỷ quyền tham gia tố tụng cho chị Đặng Thị Thu T2. Chị T2 có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử nhận thấy, sự vắng mặt của bị hại và người đại diện của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và Người đại diện của bị hại.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Văn T tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, bao gồm: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 11-7-2024 kèm các Bản ảnh; Sơ đồ hiện trường ngày 11-7-2024; Các biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 04-08-2024 kèm các Bản ảnh; Kết luận giám định độc chất số 597/2024/KLGĐĐC-TTPY ngày 17-07-2024; Kết luận giám định độc chất số 598-2024-KLGĐĐC-TTPY ngày 18-07-2024; Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 150/24/TgT ngày 25-10-2024 Trung tâm giám định Y khoa Pháp y tỉnh N cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ 20 phút ngày 11-7-2024, tại khu vực đoạn đường vòng trục đường X thuộc thôn L, Trần Văn T (Có giấy phép lái xe máy hạng A1 theo quy định còn thời hạn) điều khiển xe mô tô BKS 18B1-309.09 (dung tích xe 110cm³), trong tình trạng nồng độ cồn trong máu là 131,15mg/100 ml, không đi bên phải theo chiều đi của mình, không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn khi đi qua khu vực đường vòng, vi phạm khoản 8 Điều 8, khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (nay là khoản 2 Điều 9; khoản 1 Điều 10, điểm d khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024) nên đã lấn sang phần đường đối diện, xô vào xe mô tô BKS 90B3-672.54 (dung tích 109,2cm3) do bà H (có giấy phép lái xe hạng A1 còn thời hạn theo quy định) điều khiển đi theo hướng ngược lại làm bà H bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 92%.
Hành vi của bị cáo T là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe hợp lệ và hiểu rõ các quy định của Luật Giao thông đường bộ nhưng khi tham gia giao thông đã không chấp hành đúng quy định, điều khiển xe mô tô tham gia giao thông trong tình trạng có sử dụng rượu, bia, trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, gây ra tai nạn làm tổn hại cho sức khỏe của một người với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 92%. Vì vậy bị cáo Trần Văn T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[3.1] Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Trần Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại, gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.2] Về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Văn T là rất nghiêm trọng, gây ra hậu quả 01 người bị thương nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo Trần Văn T có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Trần Văn T không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn điều tra, bị cáo Trần Văn T đã tác động để gia đình bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 100.000.000 đồng. Đại diện gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo T và không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô BKS 18B1-309.09 cho bị cáo Trần Văn T, và chiếc xe mô tô BKS 90B3-672.54 cho bà Trần Thị H. Đại diện gia đình bị cáo T và bà H đã nhận lại và không có ý kiến gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Bị cáo Trần Văn T bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04-11-2024.
-
Án phí hình sự sơ thẩm:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo:
Bị cáo Trần Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại bà Trần Thị H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Bang |
Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 27/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04-11-2024.
