Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày: 19-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Quách Thành Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Xuân Tuấn;
  2. Bà Đinh Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: ông Ngô Quang Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Trần Hồng H, sinh ngày 10/02/1997, tại thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ A, phường N, Thành phố T, tỉnh Ninh Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; con ông Trần Hồng M và bà Từ Thị Đ; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự không; nhân thân: bị xử phạt vi phạm hành chính 5.000.000 đồng về hành vi “cố ý gây thương tích” (xảy ra cùng vụ án này) theo Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPHC ngày 02/04/2025 của Phòng C5 Công an tỉnh N, chấp hành xong ngày 04/4/2025; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt).

2. Đinh Xuân C, sinh ngày 10/11/1989, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn:12/12; con ông Đinh Xuân H1 và bà Phạm Thị H2; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: (1)-bị xử phạt vi phạm hành chính 100.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số

41/QĐHC ngày 25/6/2010 của Công an huyện Y, tỉnh Ninh Bình, chấp hành xong ngày 09/5/2025; (2)- bị xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16/QĐ-XPHC ngày 27/3/2020 của Công an phường T, thành phố T, chấp hành xong ngày 05/5/2025; (3)-bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 02/2021/QĐ-TA ngày 04/02/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, chấp hành xong ngày 15/12/2023; nhân thân: (1)- bị xử phạt 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo bản án số 14/2008/HSST ngày 25/9/2008 của Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa, chấp hành xong bản án ngày 05/3/2009; (2)-bị xử phạt 100.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/XPHC ngày 14/01/2011 của Công an phường T, thị xã T, chấp hành xong ngày 19/01/2011; (3)-bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng theo Quyết định đưa người nghiện ma túy vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc số 32/QĐ-UBND ngày 19/01/2011 của UBND thị xã T, chấp hành xong ngày 22/01/2013; (4)-bị cảnh cáo về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/XPHC ngày 12/06/2014, Công an phường T, thị xã T; (5)- bị phạt tiền 400.000 đồng về hành vi “Mua số lô, số đề” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 52/QĐ-XPVPHC ngày 27/01/2015 của Công an thị xã T ra, chấp hành xong ngày 27/01/2025; (6)- bị phạt tiền 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 24/QĐ-XPHC ngày 28/09/2015, chấp hành xong ngày 06/10/2015; (7)-bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường thời hạn 03 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn S-UB ngày 28/9/2015 của UBND phường T, thành phố T, chấp hành xong ngày 28/12/2015; (8)-bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thờiian 24 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 04/QĐ-TA ngày 05/8/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, chấp hành xong ngày 01/01/2020; (9)-bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thời hạn 03 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn S-UBND ngày 19/4/2020 của UBND phường T, thành phố T, chấp hành xong ngày 19/7/2020; (10)-bị xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi “Mua số lô” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 72/QĐ-XPHC ngày 19/6/2020 của Công an thành phố T, chấp hành xong ngày 19/6/2020; bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/02/2025 đến nay tại Trại Tạm giam Công an tỉnh N (có mặt).

3. Ngô Trung H3, sinh ngày 17/8/1993, tại thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ B, phường T, Thành phố T, tỉnh Ninh Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không.; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Ngô Văn C1 và bà Phạm Thị H4; có vợ và 02 con; tiền án:

không; tiền sự: (1)- bị xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 76/QĐ-XPHC ngày 19/3/2016 của Công an phường T, thành phố T, chấp hành xong ngày 05/5/2025; (2)- bị xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 73/QĐ-XPHC ngày 05/6/2016 của Công an phường T, thành phố T, chấp hành xong ngày 05/5/2025; (3)-bị xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36/QĐ-XPHC ngày 07/6/2021của Công an phường T, thành phố T, chấp hành xong ngày 05/5/2025; nhân thân: (1)- bị xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi “dùng thủ đoạn hoặc tạo ra hoàn cảnh buộc người khác đưa tiền, tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 36 ngày 16/6/2008 của Công an phường B, thị xã T, tỉnh Ninh Bình; (2) -bị xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 50/CATX ngày 24/10/2008 của Công an thị xã T, tỉnh Ninh Bình; (3)-bị xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi “Chiếm đoạt tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22/CATX ngày 11/4/2009 của Công an thị xã T; (4)- bị xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 35/QĐ-XPHC ngày 30/6/2010 của Công an phường T, thị xã T; (5)- bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường G thời hạn 24 tháng theo Quyết định đưa người chưa thành niên vi phạm pháp luật vào trường giáo dưỡng số 1472/QĐ-UBND ngày 25/08/2010 của UBND thị xã T, tỉnh Ninh Bình, chấp hành xong ngày 01/5/2012; (6)- bị xử phạt vi phạm hành chính cảnh cáo về hành vi "Sử dụng trái phép chất ma túy" theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 24/QĐ-XPHC ngày 07/11/2014 của Công an phường T, thành phố N; (7)- bị áp dụng biện pháp quản lý tại gia đình thời hạn 03 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, biện pháp quản lý tại gia đình số 12/QĐ ngày 10/8/2015 của UBND phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình, chấp hành xong ngày 3/11/2015; (8)- bị xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20/QĐ-XPHC ngày 21/11/2016 của Công an phường T, thành phố T, chấp hành xong ngày 15/12/2016; (9)-bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 24 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 10/QĐ-TA ngày 15/12/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, chấp hành xong ngày 20/12/2018; (10)-bị áp dụng biện pháp giáo dục tại phường, thời gian 03 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường số 06/QĐ-UBND ngày 18/6/2021 của UBND phường T, thành phố T, chấp hành xong ngày 18/9/2021; bị cáo bị tạm giam từ ngày 12/02/2025 đến nay tại Trại Tạm giam Công an tỉnh N (có mặt).

4. Đặng Thành T, sinh ngày 30/04/1997, tại thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nơi thường trú: Tổ A, phường N, Thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nơi tạm trú: Tổ D,

phường T, Thành phố T, tỉnh Ninh Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Đặng Trung T1 và bà Quách Thị H5; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt).

5. Trần Hồng M, sinh ngày 07/4/1963, tại thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ A, phường N, Thành phố T, tỉnh Ninh Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; con ông Trần Quang C2 và bà Nguyễn Thị Đ1; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự không; nhân thân: Ngày 20/10/1987, Trần Hồng M bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam Ninh xét xử sơ thẩm, xử phạt 09 năm tù về 02 tội “Cướp tài sản xã hội chủ nghĩa” và “Cướp tài sản của công dân” theo bản án số 88/ST-TA (đã được xóa án tích); nhân thân: bị xử phạt vi phạm hành chính 5.000.000 đồng về hành vi “cố ý gây thương tích” (xảy ra cùng vụ án này) theo Quyết định xử lý vi phạm hành chính số 22/QĐ-XPHC ngày 02/04/2025 của Phòng C5 Công an tỉnh N, chấp hành xong ngày 04/4/2025; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt).

6. Dương Quang H6, sinh ngày 30/06/1997, tại thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Tổ A, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Dương Thế H7 và bà Nguyễn Thị Thanh H8; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: (1)- bị xử phạt vi phạm hành chính “cảnh cáo” về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 01/QĐ-XPHC ngày 19/12/2020 của Công an phường N, thành phố T; (2)-bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường với thời hạn 03 tháng theo Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường số 01/QĐ-UBND ngày 04/01/2021 của UBND phường N, thành phố T, chấp hành xong ngày 04/4/2021; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt).

7. Lê Duy T2, sinh ngày 06/03/1997, tại thành phố T, Ninh Bình; nơi thường trú: Tổ I, phường B, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; nơi tạm trú: Tổ I, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lê Như H9 và bà Hồ Thị T3; có vợ và 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

bà Hà Thị V, sinh năm 1970, nơi cư trú: tổ F, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).

Người làm chứng:

  • - Ông Mai Văn C3 (vắng mặt).
  • - Bà Từ Thị Đ (có mặt).
  • - Chị Dương Thị Quế A (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 05/8/2024, Trần Hồng H,Lê Duy T2, Dương Quang H6 và Đặng Thành T ngồi uống bia tại quán bia “H" ở tổ F, phường N, thành phố T. Cùng thời gian này, Ngô Trung H3 và vợ là Đinh Thị Quế A1, Đinh Xuân C cũng ngồi uống bia ở bàn bên cạnh. Khoảng 20 giờ, H sang bàn H3 lấy điếu cày của quán để hút thì H3 không cho lấy nên H đi về bàn. Đến khoảng 20 giờ 45 phút, H3 và chị Quế A1 đi về nhà để lấy tiền thanh toán tiền bia, C ngồi lại quán, lúc này H ngồi tại bàn của mình có nói về việc lúc trước sang lấy điều cày của quán mà H3 không cho, C đang ngồi một mình ở bàn nghe H nói vậy thì có lời qua tiếng lại với H rồi đi sang bàn của H ngồi và nói: “Chúng mày thích làm sao?” “Gọi được ai thì chúng mày gọi đi”. H liền điện thoại cho bố là Trần Hồng M và mẹ là Từ Thị Đ đến quán với mục đích để nói chuyện với C. Một lúc sau thì H3 và chị Quế A1 quay lại quán, H3 cũng sang ngồi cùng bàn H, còn chị Quế A1 vợ H3 ngồi tại bàn lúc trước. Sau đó, Trần Hồng M và bà Từ Thị Đ đến quán, vào ngồi cùng bàn với H, T2, H6, T, H3, C, hai bên nói chuyện dàn hòa với nhau. Đến khoảng 21 giờ 05 phút (tại quán còn có 05 người khách khác cũng đang ngồi uống bia và đoạn đường T trước cửa quán có các phương tiện xe ô tô, xe mô tô lưu thông qua lại), hai bên đang nói chuyện bình thường thì H nói “Đang buồn thì chớ, gặp ba cái bọn”, nghe vậy, H3 bực tức nói “Mày bảo bọn nào ở đây”, H đứng dậy, tay phải cầm 01 chiếc cốc bằng thủy tinh (dạng cốc vại uống bia, kích thước cao 12cm, đường kính miệng 8,3cm, đường kính đáy 6cm, đã uống hết bia) để ở trên bàn, dơ lên để đánh H3. Thấy vậy, T đứng dậy kéo H ra để can ngăn nhưng H không nghe, H cầm cốc thủy tinh đến gần H3, dơ về phía trước mặt H3 nói: “Bây giờ mày thích làm sao?” H3 nói lại với H: “Mày làm gì mày làm đi”, H cầm cốc thuỷ tinh đập 01 phát vào phía bên trái vùng đầu của H3, cốc thủy tinh bị vỡ, H3 bị thương rách da ở đầu. Ngay lập tức, C và H3 đứng lên, mỗi người cầm một chiếc cốc thuỷ tinh ở trên bàn ném vào người H làm cốc bị vỡ, H bị xước da chảy máu ở ngón tay áp út của bàn tay phải. Bị C và H3 ném cốc bia thủy tinh vào người nên H tiếp tục cầm 01 chiếc ghế nhựa màu đỏ (kích thước (34 x 40 x 84) cm) và 01 chiếc bát nhựa màu trắng ( đường kính miệng bát 8,5 cm) trên bàn ném về phía H3. Bố đẻ Trần Hồng H là Trần Hồng M cũng cầm 01 chiếc cốc thủy tinh (dạng cốc vại uống bia, kích thước cao 12cm, đường kính miệng 8,3cm, đường kính đáy 6cm) ném vào đầu phía sau bên phải của H3 làm cốc thủy tinh bị vỡ, H3 bị thương rách da ở trong vành tai phải. Đặng Thành T lúc này đi đến gần Đinh Xuân C dùng tay đấm vào mặt C 02 cái làm C bị ngã ra nền sân, Đặng Thành T tiếp tục dùng chân phải đạp liên tiếp 02 cái vào mặt C, C đứng dậy được thì T2 đến dùng tay đấm 02 cái vào người C nhưng không

trúng, sau đó C thoát ra được và bỏ đi về nhà. Thấy Đinh Xuân C bị Đặng Thành T đánh, H3 quay ra định đánh nhau với T thì bị T đấm liên tiếp nhiều phát vào mặt, H6 lao đến dùng chân đạp 02 phát vào người H3; T, H lao tới dùng tay đấm về phía người H3, T cầm một chiếc cốc thủy tinh (dạng cốc vại uống bia, kích thước cao 12cm, đường kính miệng 8,3cm, đường kính đáy 6cm) ở trên bàn ném về phía H3 nhưng không trúng. H6 tiếp tục vật ngã H3 xuống đất; H, T dùng chân đá nhiều phát vào người H3, H3 đứng dậy bỏ chạy ra khu vực đường T thì T tiếp tục đuổi theo H3 và dùng tay phải đấm vào mặt trái, đấm liên tiếp 02 cái vào gáy của H3. H6 cầm 01 chiếc bát nhựa màu trắng (đường kính miệng bát 8,5 cm) ném trúng vào người H3. H3 chạy ra giữa đường T thì bị T tiếp tục dùng tay phải đấm liên tục 03 phát vào mặt H3, khi H3 đi vào gần lề đường thì bị H cầm một cốc thủy tinh ở trên bàn ném vào người H3, H3 giơ tay trái lên để đỡ, cốc bị vỡ, các mảnh vỡ của cốc làm H3 bị thương rách da ở mu bàn tay trái. H3 ngồi lên xe mô tô đề nổ máy để bỏ chạy thì bị H tiếp tục lấy 01 chiếc cốc thủy tinh (dạng cốc vại uống bia, kích thước cao 12cm, đường kính miệng 8,3cm, đường kính đáy 6cm) ở trên bàn về ném phía H3 nhưng không trúng, T đấm thêm 01 phát vào mặt H3. Sau đó, do được mọi người can ngăn nên, T, H, H6 không đánh H3 nữa. Quá trình xảy ra xô xát đánh nhau, vợ H3 là chị Dương Thị Quế A và mẹ của H là bà Từ Thị Đ luôn đi theo H3 và H để can ngăn. Chị Dương Thị Quế A không bị ai đánh nên không có thương tích gì. Sau đó H3 đến Trung tâm y tế thành phố T để điều trị, đến ngày 06/8/2024 thì H3 bỏ về không điều trị nữa.Sau khi xảy ra sự việc, Ngô Trung H3 đến trình báo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập tài liệu chứng cứ, vật chứng, triệu tập các đối tượng liên quan để điều tra, làm rõ sự việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, các đối tượng đã khai nhận nội dung diễn biến như đã nêu trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thu thập bệnh án điều trị của Ngô Trung H3, xác định thương tích như sau:

  • - Vùng đầu có 04 vết thương rách da, kích thước mỗi vết thương (1 x 0,5) cm.
  • - Tai phải có 01 vết thương rách da, kích thước (1 x 0,5) cm.
  • - Mu bàn tay trái có 03 vết thương rách da, kích thước lần lượt là (3 x 1)cm, (2 x 0,5)cm và (1 x 0,5)cm.

Ngày 20/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Trung H3. Tại Bản kết luận giám định số 169/KLTTCT/PYQG ngày 27 tháng 9 năm 2024 của V1 kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Trung H3 tại thời điểm giám định là: 08% (Tám phần trăm).

Tại bản Cáo trạng số: 24/CT-VKSTĐ ngày 21 tháng 4 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình đã truy tố các bị cáo về tội

"Gây rối trật tự công cộng". Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo: Trân Hồng H10, Đặng Thành T, Trân Hồng M1, Ngô Trung H3, Đinh Xuân C; áp dụng khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Dương Quang H6, Lê Duy T2.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố: các bị cáo Trần Hồng H, Đinh Xuân C, Ngô Trung H3, Đặng Thành T, Trần Hồng M, Dương Quang H6, Lê Duy T2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Hồng H từ 30 tháng tù đến 33 tháng tù;
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Đinh Xuân C từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù;
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Ngô Trung H3 từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù;
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Đặng Thành T từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách;
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; khoản 1 Điều 54; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Trần Hồng M từ 21 tháng tù đến 24 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 42 đến 48 tháng, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách;
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Dương Quang H6 từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách;
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Lê Duy T2 từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật

Hình sự, tịch thu tiêu hủy:- 20 mảnh thủy tinh, không rõ hình dạng, nhiều kích thước khác nhau và 02 chiếc bát nhựa màu trắng, 01 chiếc ghế nhựa màu đỏ. Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 USB lưu trữ đoạn video diễn biến vụ án.

Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Hồng H, Đinh Xuân C, Ngô Trung H3, Đặng Thành T, Trần Hồng M, Dương Quang H6, Lê Duy T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi hò hét, cãi chửi, đuổi đánh nhau, diễn biến sự việc đúng như bản cáo trạng đã nêu. Các bị cáo thừa nhận bị truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, đồng ý với luận tội của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, các bị cáo đều đề nghị được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

Bị cáo Ngô Trung H3 ngoài việc khai báo hành vi phạm tội, đã xác nhận trong quá trình đánh nhau với các bị cáo khác đã bị gây thương tích 8% sức khỏe, quá trình giải quyết đã yêu cầu khởi tố vụ án Cố ý gây thương tích, Ngô Trung H3 đã được bồi thường về thương tích và rút đơn yêu cầu khởi tố vụ án, Cơ quan điều tra đã đình chỉ bị can đối với các bị cáo bị khởi tố vụ án cố ý gây thương tích là đúng, nay Ngô Trung H3 không có yêu cầu gì

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là bà Hà Thị V quá trình điều tra khai báo trong lúc các bị cáo sử dụng cốc thủy tinh, ghế nhựa, bát nhựa đuổi đánh nhau tại quán nhà bà, bà đã được các bị cáo bồi thường các thiệt hại, nay bà không yêu cầu tiếp tục giải quyết việc bồi thường, không có yêu cầu lấy lại các tài sản bị thu giữ do đã hư hỏng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: khoảng 21 giờ 05 phút ngày 05/8/2024 tại quán B thuộc Tổ F, phường N, thành phố T, các bị cáo Trần Hồng H, Trần Hồng M, Đặng Thành T, Ngô Trung H3, Đinh Xuân C, Dương Quang H6 và Lê Duy T2 có hành vi chửi bới, đuổi đánh nhau ở sân quán, trên vỉa hè và lòng đường Thung Lang. Hậu quả: Ngô Trung H3 bị thương, tổn hại 8% sức khoẻ, bà Hà Thị V bị thiệt hại về tài sản là một số cốc thủy

tinh, ghế nhựa, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng, diễn biến hành vi của các bị cáo đúng như bản cáo trạng đã nêu.

[3] Điều 318 của Bộ luật Hình sự quy định tội “gây rối trật tự công cộng” như sau:

“1. Người nào gây rối trật tự công cộng gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

  • Có tổ chức;
  • Dùng vũ khí, hung khí hoặc có hành vi phá phách;
  • ..."

Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi to tiếng chửi bới, văng tục, đuổi đánh nhau tại quán bia, vỉa hè và trên lòng đường Thung Lang là nguy hiểm cho xã hội, do cố ý, xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương. Đối chiếu hành vi của các bị cáo với quy định tại Điều 318 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy các bị cáo đã phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”. Các bị cáo Trần Hồng H, Đặng Thành T, Trần Hồng M, Ngô Trung H3, Đinh Xuân C sử dụng hung khí là cốc thủy tinh, ghế nhựa thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự; các bị cáo Dương Quang H6, Lê Duy T2 phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 318 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Điệp truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Trần Hồng H, Đặng Thành T, Trần Hồng M, Ngô Trung H3, Đinh Xuân C, Dương Quang H6, Lê Duy T2 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Trần Hồng H, Đặng Thành T, Trần Hồng M, Ngô Trung H3, Đinh Xuân C, Dương Quang H6, Lê Duy T2 trong quá trình điều tra, truy tố thành khẩn khai báo nên đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Trần Hồng H, Đặng Thành T, Trần Hồng M, Dương Quang H6

trong quá trình điều tra đã tự nguyện bồi thường cho Ngô Trung H3 số tiền 4.000.000 đồng, Trần Hồng H và Trần Hồng M đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bà Hà Thị V số tiền 300.000 đồng nên Trần Hồng H, Đặng Thành T, Trần Hồng M, Dương Quang H6 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “tự nguyện khắc phục hậu quả” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Dương Quang H6, Lê Duy T2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Đặng Thành T có ông nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[4.3] Về nhân thân:

Các bị cáo Đặng Thành T, Lê Duy T2 trước khi thực hiện hành vi phạm tội là người có nhân thân tốt.

Bị cáo Trần Hồng H trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt, ngày 02/04/2025 Phòng C5 Công an tỉnh N bị xử phạt vi phạm hành chính 5.000.000 đồng về hành vi “cố ý gây thương tích” xảy ra cùng vụ án này nên không coi là tiền sự đối với bị cáo

Bị cáo Trần Hồng M trước khi thực hiện hành vi phạm tội lần này đã từng bị xử lý hình sự đã được xóa án tích, ngày 02/04/2025 Phòng C5 Công an tỉnh N bị xử phạt vi phạm hành chính 5.000.000 đồng về hành vi “cố ý gây thương tích” xảy ra cùng vụ án này nên không coi là tiền sự đối với bị cáo.

Bị cáo Đinh Xuân C là người có nhân thân xấu do trước khi thực hiện hành vi phạm tội lần này đã nhiều lần có hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý hình sự, xử lý hành chính, đến nay đã được xóa án tích hoặc đủ điều kiện được coi như chưa bị xử lý hành chính.

Các bị cáo Ngô Trung H3, Dương Quang H6 là người có nhân thân xấu do trước khi thực hiện hành vi phạm tội lần này đã nhiều lần có hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý hành chính, đến nay đã đủ điều kiện được coi như chưa bị xử lý hành chính.

[4] Về quyết định hình phạt

Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vị trí, vai trò trong vụ án, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân, việc quyết định mức hình phạt đối với các bị cáo cụ thể như sau:

[4.1] Bị cáo Trần Hồng H là người khởi xướng sự việc gây rối trật tự công cộng, có hành vi chửi bới, đe dọa, thách thức, đuổi đánh, dùng cốc thuỷ tinh, ghế

nhựa, bát nhựa đuổi đánh nhau, dùng tay, chân đấm, đá liên tục nhiều cái vào người H3 trên khu vực quán bia, vỉa hè và lòng đường Thung Nham. Trần Hồng H thực hiện liên tục một chuỗi hành vi gây mất trật tự công cộng, trong đó có hành vi gây thương tích cho anh Ngô Trung H3, hành vi của bị cáo có tính hung hãn, quyết liệt, kéo dài mang tính kích động các bị cáo khác trong vụ án thực hiện hành vi phạm tội, do vậy Trần Hồng H là người giữ vai trò đầu trong vụ án nên phải chịu mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác trong cùng vụ án.

[4.2] Bị cáo Đinh Xuân C là người có hành vi chửi bới, thách thức Trần Hồng H từ đầu dẫn đến việc H gọi Trần Hồng M đến, sau khi H3 bị H đập cốc thủy tinh vào đầu, C cùng H3 cầm cốc thủy tinh trên bàn ném lại vào người H dẫn đến việc các bị cáo lao vào đuổi đánh nhau gây mất trật tự trị an, bị cáo có vai trò thứ hai trong vụ án, có nhân thân rất xấu nên phải chịu mức hình phạt cao thứ hai trong vụ án.

[4.3] Bị cáo Ngô Trung H3 là người có mâu thuẫn với Trần Hồng H, khi nghe Trần Hồng H nói tục thì H3 cũng chửi bới và thách thức H dẫn đến việc H gọi bố đẻ là Trần Hồng M đến và xảy ra sự việc đuổi đánh nhau gây mất trật tự nơi công cộng. Khi Trần Hồng H dùng cốc đập vào đầu, H3 cầm cốc thuỷ tinh ở trên bàn ném lại vào người H. Trong vụ án này, bản thân bị cáo H3 là người bị gây thương tích, nhưng cũng là người đầu tiên thách thức, khởi xướng việc chửi bới, to tiếng, đuổi đánh nhau, do vậy bị cáo giữ vai trò thứ ba trong vụ án, có nhân thân rất xấu nên phải chịu mức hình phạt cao thứ hai trong vụ án.

[4.4] Bị cáo Đặng Thành T sau khi thấy bạn là Trần Hồng H tham gia đánh nhau thì tích cực tham gia đuổi đánh nhau, dùng tay chân đấm đá, đuổi đánh, dùng cốc thủy tinh ném Đinh Xuân C, Ngô Trung H3. Hành vi của Đặng Thành T thể hiện vai trò đứng sau Ngô Trung H3, Đinh Xuân C, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên có thể cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

[4.5] Bị cáo Trần Hồng M sau khi thấy Ngô Trung H3 dùng cốc thủy tinh ném con trai mình đã dùng cốc thủy tinh ném vào phía sau đầu của H3 làm H3 bị thương ở vùng tai. Hành vi của bị cáo M có tính chất đơn giản, bộc phát, chỉ nhằm mục đích bảo vệ con trai mình, tuy vậy hành vi của bị cáo xảy ra trong lúc các bị cáo đang trong giai đoạn lao vào đuổi đánh nhau gây nên gây ra tình trạng mất trật tự trị an.

Xét mức độ thực hiện hành vi, động cơ, mục đích phạm tội thấy trong vụ án này Trần Hồng M có hành vi đơn giản, là đồng phạm có vai trò không đáng kể, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bản thân bị cáo là người cao tuổi, có nơi cư trú rõ ràng, có con trai cùng bị xử lý trong vụ án này, nhân thân bị kết án từ năm 1987 đã chấp hành xong hình phạt năm 1995, từ đó đến ngày phạm tội đã không có hành vi vi phạm pháp luật nên có thể xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, giao

bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

[4.6] Bị cáo Dương Quang H6 sau khi thấy người của hai nhóm đánh nhau, bị cáo cũng lao vào dùng chân tay đánh Ngô Trung H3 hỗ trợ cho Trần Hồng H. Khi H3 bỏ chạy ra ngoài đường T, H6 cầm 01 chiếc bát nhựa ném trúng vào người H3 (bát nhựa kích thước nhỏ, không coi là hung khí) bị cáo có vai trò đứng sau Trần Hồng M, nhân thân đã từng bị xử lý hành chính (đã đủ điều kiện được coi như chưa bị xử lý hành chính), phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên có thể cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

[4.7 ] Bị cáo Lê Duy T2 sau khi hai nhóm lao vào đánh nhau cũng lao vào dùng tay đánh Đặng Thành C4 nhằm hỗ trợ cho H, T nhưng không trúng, việc bị cáo lao vào đám đông đang ẩu đả để đánh nhau đã gây mất trật tự nơi công cộng. Bị cáo Lê Duy T2 có vai trò thấp nhất trong vụ án, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên có thể cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

[5] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với vật chứng mà Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ gồm: 20 mảnh thủy tinh, 01 ghế nhựa màu đỏ, 02 bát nhựa màu trắng là tài sản của bà Hà Thị V, các bị cáo sử dụng làm công cụ phương tiện phạm tội, nay đã hư hỏng, không còn giá trị sử dụng, bà V đã được các bị cáo bồi thường và không có nhu cầu sử dụng lại nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc USB có lưu trữ đoạn video diễn biến vụ việc cần tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Ngô Trung H3 bị gây thương tích 8% sức khoẻ, trong quá trình giải quyết vụ án Trần Hồng M, Trần Hồng H, Đặng Thành T, Dương Quang H6đã tự nguyện bồi thường cho Ngô Trung H3 số tiền 4.000.000 đồng. H3 đã nhận đầy đủ số tiền trên, không có đề nghị gì thêm. Đối với thiệt hại cốc thủy tinh bị vỡ trong quá trình các bị cáo sử dụng ném nhau, bà V xác định thiệt hại không lớn, trong quá trình điều tra Trần Hồng H và Trần Hồng M đã tự nguyện bồi thường cho bà V tổng số tiền là 300.000 đồng, bà V đã nhận đủ tiền và không có đề nghị gì. Do vậy, Hội đồng xét xử không tiếp tục giải quyết phần trách nhiệm dân sự.

[7] Về các vấn đề khác:

Trong quá trình điều tra, do Ngô Trung H3 tự nguyện rút yêu cầu khởi tố vụ án “Cố ý gây thương tích”, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định đình chỉ

điều tra vụ án đối với Trần Hồng H và Trần Hồng M về hành vi cố ý gây thương tích, do vậy Hội đồng xét xử không tiếp tục xem xét.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm:

Các bị cáo Trần Hồng H, Đặng Thành T, Dương Quang H6, Lê Duy T2, Ngô Trung H3, Đinh Xuân C bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trần Hồng M là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghịquyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Hồng H;
  • - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đinh Xuân C;
  • - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Trung H3;
  • - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đặng Thành T;
  • - Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 318; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; khoản 1 Điều 54; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Hồng M;
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Dương Quang H6;
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58; khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Duy T2,
  • - Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a

khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố: các bị cáo Trần Hồng H, Đinh Xuân C, Ngô Trung H3, Đặng Thành T, Trần Hồng M, Dương Quang H6, Lê Duy T2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Trần Hồng H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

2.2. Xử phạt bị cáo Đinh Xuân C 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/2/2025.

2.3. Xử phạt bị cáo Ngô Trung H3 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam 12/2/2025.

2.4. Xử phạt bị cáo Đặng Thành T 24 (hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đặng Thành T cho UBND phường T, thành phố T, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

2.5. Xử phạt bị cáo Trần Hồng M 21 (hai mươi mốt) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42 (bốn mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Hồng M cho UBND phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện

theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

2.6. Xử phạt bị cáo Dương Quang H6 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Dương Quang H6 cho UBND phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

2.7. Xử phạt bị cáo Lê Duy T2 12 (mười hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Lê Duy T2 cho UBND phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.

3. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp

Tịch thu tiêu hủy:

  • - 20 mảnh thủy tinh, không rõ hình dạng, nhiều kích thước khác nhau và 02 chiếc bát nhựa màu trắng, nhãn hiệu SONG LONG 2333, đường kính miệng bát 8,5 cm được niêm phong trong 01 hộp bìa catton, mặt trước ghi dòng chữ "Vật chứng vụ án Gây rối trật tự công cộng xảy ra ngày 05/8/2024", tại các mép hộp bìa catton có dán giấy niêm phong có chữ ký của thành phần tham gia niêm phong và dấu tròn đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T.
  • - 01 chiếc ghế nhựa màu đỏ, nhãn hiệu DAI DONG TIEN PLASTIC F.168 kích thước (34 x 40 x 84) cm.

(Chi tiết vật chứng theo biên bản Giao nhận vật chứng 23/4/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ là công cụ phương tiện phạm tội. Viện kiểm sát đã ra quyết định chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tam Điệp).

4. Về án phí:

Buộc các bị cáo Trần Hồng H, Đặng Thành T, Dương Quang H6, Lê Duy T2, Ngô Trung H3, Đinh Xuân C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Trần Hồng M.

Án xử sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND thành phố Tam Điệp;
  • - Cơ quan Điều tra CA tỉnh Ninh Bình;
  • - Cơ quan THA hình sự CA tỉnh Ninh Bình;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Tam Điệp;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Quách Thành Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM ĐIỆP, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Hồng Hải & đồng phạm Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger