Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÙ CÁT

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày: 16-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Thanh Long.
  2. Bà Nguyễn Thị Dung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Hoài Thư - Thư ký của Toà án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định: Ông Phạm Xuân Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 10/4/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 14/5/2025, Quyết định hoãn phiên toà số 17/2025/HSST-QĐ ngày 29/5/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thị Nguyên L, số CCCD: [...]; quê quán: Cát Hiệp, P, Bình Định; sinh ngày: 20/6/1993; Nơi thường trú: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình K, sinh năm: 1944 và bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1949; Chồng tên Lê Thanh P, sinh năm 1987; con có 02 người lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 13/11/2024 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại:

  1. Bà Bùi Thị Diệu H, sinh năm: 1985; Nơi cư trú: Khu A, thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định (vắng mặt).
  2. Bà Thái Thị L1, sinh năm: 1988; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (có mặt).
  3. Bà Huỳnh Thị L2, sinh năm: 1976; Nơi cư trú: Thôn V, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (có mặt).
  4. Ông Võ Văn V, sinh năm: 1964; Nơi cư trú: Thôn V, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  5. Anh Huỳnh Tấn H1, sinh năm: 1992; Nơi cư trú: Khu A, thị trấn N, huyện P, tỉnh Bình Định (vắng mặt).
  6. Bà Nguyễn Thị Kim H2, sinh năm: 1971; Nơi cư trú: Thôn M, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (vắng mặt).
  7. Chị Lê Thị Ánh V1, sinh năm: 1990; Nơi cư trú: Số B đường L, phường L, thành phố Q, tỉnh Bình Định (vắng mặt).
  8. Bà Nguyễn Thị Tuyết H3, sinh năm: 1969; Nơi cư trú: Số H T, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  9. Anh Trần Văn C, sinh năm: 1992; Nơi cư trú: Số F đường T, phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định (vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Thanh P, sinh năm: 1987; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (có mặt).

* Người làm chứng:

  1. Chị Lê Võ Huyền Q, sinh năm: 2005; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (vắng mặt).
  2. Ông Võ Văn T, sinh năm: 1965; Nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  3. Ông Tô Văn T1, sinh năm: 1980; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị Nguyên L không có nghề nghiệp, nguồn thu nhập. Do cần tiền tiêu xài cá nhân và trả nợ, L để ý thấy nhiều chủ cửa hàng tạp hoá trên địa bàn có dịch vụ nhận chuyển khoản sau đó thanh toán lại tiền mặt cho khách hàng. Nhưng do công việc cửa hàng bận rộn hoặc do tuổi tác, thiếu sự đề phòng nên thường chủ quan khi kiểm tra tin nhắn chuyển khoản ngân hàng, thường chỉ để ý đã nhận tin nhắn và những số đầu tiên trong tin nhắn khi nhận chuyển khoản của ngân hàng trên điện thoại của mình. Do đó, L nảy sinh ý định đến các cửa hàng này vờ mua các món hàng có giá trị nhỏ để tạo sự tin tưởng rồi lấy cớ tiền trong ví mình không đủ hoặc chưa rút được tiền nên yêu cầu chủ cửa hàng đưa thêm một số tiền mặt rồi L chuyển khoản thanh toán lại; sau đó L dùng thủ đoạn gian dối chuyển khoản số tiền có những chữ số đầu giống với số tiền mà L phải chuyển trả lại cho người bị hại nhưng có giá trị thấp hơn một nghìn lần. Bị hại tin tưởng L đã chuyển đủ tiền, không kiểm tra kỹ tin nhắn của ngân hàng nên đã đưa cho L số tiền mặt đã thoả thuận trước đó. Với phương thức thủ đoạn gian dối trên, trong khoảng thời gian từ ngày 06/12/2023 đến ngày 14/8/2024, L đã liên tiếp thực hiện 13 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trong đó thực hiện thành công 09 vụ (06 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện P và 03 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản ở thành phố Q) chiếm đoạt tổng số tiền 72.837.859 đồng, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 07/12/2023, Lê Thị Nguyên L đến cửa hàng tạp hóa của chị Bùi Thị Diệu H ở khu A, thị trấn N, huyện P giả vờ hỏi mua 02 lốc sữa trị giá 36.000 đồng, sau đó L nói chị H đưa mình thêm số tiền mặt 3.000.000 đồng rồi mình sẽ chuyển khoản lại số tiền 3.036.000 đồng, chị H đồng ý và cung cấp số tài khoản 0121000732288 (Ngân hàng V2). Sau đó L dùng số tài khoản 0181003345228 (Ngân hàng V2) của mình chuyển số tiền 3.036 đồng sang tài khoản của chị H. Khi nhận được tin nhắn của ngân hàng, do bận rộn, chị H chỉ nhìn lướt qua thấy có tin nhắn chuyển tiền và các con số đầu giống số tiền đã thoả thuận, chị H tin tưởng đã nhận đủ tiền nên đưa cho L 3.000.000 đồng tiền mặt. Tổng giá trị tài sản L dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt của chị Bùi Thị Diệu H là 3.032.964 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 14/12/2023, Lê Thị Nguyên L đến cửa hàng tạp hóa của chị Thái Thị L1 ở thôn H, xã C, huyện P giả vờ hỏi mua 02 lốc nước trị giá 50.000 đồng, sau đó L nói chị L1 đưa mình thêm số tiền mặt 2.000.000 đồng rồi mình sẽ chuyển khoản lại số tiền 2.050.000 đồng, chị L1 đồng ý cung cấp số tài khoản 0979512824 Ngân hàng V3. Sau đó L dùng số tài khoản 0181003345228 (Ngân hàng V2) của mình chuyển số tiền 2.050 đồng sang tài khoản của chị L1. Khi nhận được tin nhắn của ngân hàng, do bận rộn, chị L1 chỉ nhìn lướt qua thấy có tin nhắn chuyển tiền và các con số đầu giống số tiền đã thoả thuận, chị L1 tin tưởng đã nhận đủ tiền nên đưa cho L 2.000.000 đồng tiền mặt. Tổng giá trị tài sản mà L dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt của chị Thái Thị Lụa L3 2.047.950 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 04/01/2024, Lê Thị Nguyên L đến tiệm V4. Hoàng Thanh của chị Huỳnh Thị L2 ở thôn V, xã C, huyện P giả vờ hỏi mua 01 (một) đôi hoa tai em bé với giá 1.000.000 đồng. Sau khi thanh toán, L2 nói đang cần tiền mặt, nói chị Huỳnh Thị L2 đưa mình số tiền mặt 13.000.000 đồng rồi mình sẽ chuyển khoản lại do bận con nhỏ không đi rút tiền được, chị Huỳnh Thị L2 đồng ý đưa số tài khoản 103874494423-NH V5, L2 dùng số tài khoản ngân hàng M 2006913979 chuyển số tiền 13.000 đồng sang tài khoản chị Huỳnh Thị L2. Khi nhận được tin nhắn của ngân hàng, do bận rộn, chị Huỳnh Thị L2 chỉ nhìn lướt qua thấy có tin nhắn chuyển tiền và các con số đầu giống số tiền đã thoả thuận, chị Huỳnh Thị L2 tin tưởng đã nhận đủ tiền nên đưa cho L2 13.000.000 đồng tiền mặt. Số tiền mà L2 dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt của chị Huỳnh Thị L2 là 12.987.000 đồng.

Vụ thứ tư: Ngày 19/01/2024, L2 đến cửa hàng tạp hóa của ông Võ Văn V, ở thôn V, xã C, huyện P giả vờ hỏi mua 01 (một) thẻ cào điện thoại trị giá 50.000 đồng, sau đó L2 nói ông V đưa thêm số tiền mặt 3.000.000 đồng rồi L2 sẽ chuyển khoản lại cho ông V số tiền 3.070.000 đồng (phí chuyển tiền 20.000 đồng), ông V đồng ý. Ông V cung cấp số tài khoản NH M 33331887799, sau đó L2 dùng số tài khoản M – 2006913979 của mình chuyển sang tài khoản ông V số tiền 3.070 đồng. Khi nhận được tin nhắn của ngân hàng, do bận rộn, ông V chỉ nhìn lướt qua thấy có tin nhắn chuyển tiền và các con số đầu giống số tiền đã thoả thuận, ông V tin tưởng đã nhận đủ tiền nên đưa cho L2 3.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà L2 dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt của ông Võ Văn V là 3.046.930 đồng.

Vụ thứ năm: Khoảng 13 giờ 43 phút ngày 22/01/2024, L2 đến tiệm sữa của anh Huỳnh Tấn H1, ở khu A, thị trấn N, huyện P giả vờ hỏi mua 01 (một) bịch tã trị giá 160.000 đồng, sau đó L2 nói anh H1 đưa số tiền mặt 3.000.000 đồng rồi L2 sẽ chuyển khoản cho anh H1 số tiền 3.160.000 đồng, anh H1 đồng ý. Anh H1 cung cấp số tài khoản 58210000175894 –Ngân hàng B1, L2 dùng số tài khoản ngân hàng của mình 2006913979- NH M chuyển khoản số tiền 3.160 đồng sang tài khoản của anh H1. Khi nhận được tin nhắn của ngân hàng, do bận rộn, anh H1 chỉ nhìn lướt qua thấy có tin nhắn chuyển tiền và các con số đầu giống số tiền đã thoả thuận, anh H1 tin tưởng đã nhận đủ tiền nên đưa cho L2 3.000.000 đồng tiền mặt. Tổng giá trị tài sản mà L2 dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt được của anh Huỳnh Tấn H1 là 3.156.840 đồng.

Vụ thứ sáu: Ngày 27/01/2024, L2 đến cửa hàng tạp hóa của chị Nguyễn Thị Kim H2, ở thôn M, xã C, huyện P giả vờ hỏi mua kẽm nhung để làm hoa trị giá 25.000 đồng, sau đó L2 nói chị H2 đưa số tiền mặt 4.625.000 đồng rồi L2 sẽ chuyển khoản cho chị H2 số tiền 4.625.000 đồng, L2 sẽ đưa chị H2 phí dịch vụ 20.000 đồng, chị H2 đồng ý. Chị H2 cung cấp số tài khoản 109875318837-Ngân hàng V5, L2 dùng số tài khoản 2006913979-ngân hàng M của mình chuyển số tiền 4.625 đồng sang tài khoản của chị H2. Khi nhận được tin nhắn của ngân hàng, do bận rộn, chị H2 chỉ nhìn lướt qua thấy có tin nhắn chuyển tiền và các con số đầu giống số tiền đã thoả thuận, chị H2 tin tưởng đã nhận đủ tiền nên đưa cho L2 4.625.000 đồng tiền mặt, L2 cầm tiền rút ra 25.000 đồng tiền kẽm và 20.000 đồng tiền phí để trả chị H2 rồi bỏ đi. Tổng giá trị tài sản mà L2 dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt được của chị Nguyễn Thị Kim H2 là 4.600.375 đồng.

Vụ thứ bảy: Khoảng gần 19 giờ 00 phút ngày 04/8/2024, L2 đến tiệm ảnh Trung Đức của chị Lê Thị Ánh V1, ở số B đường L, TP . nói với chị V1 muốn rút 8.600.000 đồng tiền mặt, chị V1 đồng ý và báo phí rút là 20.000 đồng. Chị V1 cung cấp số tài khoản 00510004954822-Ngân hàng V2, L2 dùng số tài khoản 2006913979- ngân hàng M của mình chuyển số tiền 8.600 đồng sang tài khoản của chị V1. Khi nhận được tin nhắn của ngân hàng, do bận rộn, chị V1 chỉ nhìn lướt qua thấy có tin nhắn chuyển tiền và các con số đầu giống số tiền đã thoả thuận, chị V1 tin tưởng đã nhận đủ tiền nên đưa cho L2 8.600.000 đồng tiền mặt, L2 đưa 20.000 đồng tiền phí để trả chị V1 rồi bỏ đi. Số tiền mà L2 dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt được của chị Lê Thị Ánh V1 là 8.571.400 đồng.

Vụ thứ tám: Chiều ngày 06/8/2024, L2 đến tạp hóa của bà Nguyễn Thị Tuyết H3, ở số H T, TP . nói với bà H3 rằng muốn rút 17.300.000 đồng, bà H3 đồng ý với phí là 170.000 đồng. Bà H3 cung cấp số tài khoản 5800051909-Ngân hàng B1, L2 dùng số tài khoản 2006913979- ngân hàng M của mình chuyển số tiền 17.300 đồng sang tài khoản của chị H3. Khi nhận được tin nhắn của ngân hàng, do bận rộn, chị H3 chỉ nhìn lướt qua thấy có tin nhắn chuyển tiền và các con số đầu giống số tiền đã thoả thuận, chị H3 tin tưởng đã nhận đủ tiền nên đưa cho L2 17.300.000 đồng tiền mặt, L2 cầm tiền đưa lại cho bà H3 170.000 đồng tiền phí rồi bỏ đi khỏi hiện trường. Số tiền mà L2 dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt được của bà Nguyễn Thị Tuyết H3 là 17.112.700 đồng.

Vụ thứ chín: Chiều tối ngày 14/8/2024, L2 đến cửa hàng điện thoại “C Trần Store 2” của anh Trần Văn C, ở số F T, P. T, TP Q giả vờ hỏi mua 01 điện thoại iPhone 14 Pro trị giá 18.300.000 đồng. Anh C cung cấp số tài khoản 0010177177177-Ngân hàng M, L2 dùng số tài khoản của mình 068704060028028-Ngân hàng Q1 chuyển số tiền 18.300 đồng sang tài khoản của anh C. Khi nhận được tin nhắn của ngân hàng, do bận rộn, anh C chỉ nhìn lướt qua thấy có tin nhắn chuyển tiền và các con số đầu giống số tiền đã thoả thuận, anh C tin tưởng đã nhận đủ tiền nên đưa cho L2 01 điện thoại iPhone 14 Pro. Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự TP . kết luận điện thoại trên có trị giá là 18.300.000 đồng. Giá trị tài sản mà L2 dùng thủ đoạn gian dối lừa đảo chiếm đoạt được của anh Trần Văn C là 18.281.700 đồng.

Cùng phương thức, thủ đoạn gian dối trên L2 đã thực hiện 04 vụ lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản khác nhưng do những người này cảnh giác phát hiện thủ đoạn gian dối chuyển không đúng số tiền của L2 nên không đưa tiền, L2 chưa chiếm đoạt tài sản của họ, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Khoảng 15 giờ 00 ngày 06/12/2023, L2 đến tiệm tạp hóa của Lê Võ Huyền Q, ở H, C, P giả vờ hỏi mua lốc nước, L2 nói Q đưa L2 tiền mặt 5.000.000 đồng rồi L2 sẽ chuyển khoản lại số tiền 5.000.000 đồng. Sau khi có số tài khoản do chị Q cung cấp, L2 dùng tài khoản ngân hàng của mình chuyển số tiền 5.000 đồng sang tài khoản của chị Q. Chị Q kiểm tra phát hiện L2 chuyển không đúng số tiền thì L2 nói để kiểm tra lại rồi bỏ đi.

Vụ thứ hai: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 07/12/2023, Võ Văn T, ở P, Cát T2 khi đang bán hàng tại cửa hàng bán gạo ở chợ P1 thì L2 đến giả vờ hỏi mua gạo, L2 nói ông T đưa số tiền mặt 3.000.000 đồng L2 sẽ chuyển khoản lại số tiền 3.024.000 đồng. Sau khi có số tài khoản do anh T cung cấp, L2 dùng tài khoản ngân hàng của mình chuyển qua tài khoản ông T số tiền 3.024 đồng. Tuy nhiên khi kiểm tra điện thoại không thông báo biến động số dư, ông T không đưa tiền nên sau đó L2 bỏ đi.

Vụ thứ ba: Chiều tối ngày 07/12/2023, L2 đến cửa hàng điện máy gia dụng của anh Tô Văn T1, ở H, C có dịch vụ rút tiền mặt lấy phí nên nói muốn rút tiền mặt 4.000.000 đồng L2 sẽ chuyển khoản lại số tiền 4.000.000 đồng. Sau khi có số tài khoản do anh T1 cung cấp, L2 dùng tài khoản ngân hàng của mình chuyển qua tài khoản anh Thừa số tiền 4.000 đồng. Anh T1 kiểm tra phát hiện L2 chuyển số tiền không đúng nên L2 tìm lý do rồi bỏ đi.

Vụ thứ tư: Khoảng 09 giờ ngày 07/8/2024, L2 đến cửa hàng T3, ở thôn V, xã C, huyện P của ông Võ Văn V làm chủ để hỏi về dịch vụ chuyển khoản và nhận tiền mặt. Tại đây, L2 gặp và trao đổi với bà Đào Thị B vợ ông V, muốn rút tiền mặt 16.800.000 đồng với phí dịch vụ là 80.000 đồng và tiền sẽ chuyển vào tài khoản của ông V. Sau khi có số tài khoản do chị B cung cấp, L2 dùng tài khoản của mình chuyển khoản qua tài khoản ông V số tiền 16.800 đồng; bà B gọi điện hỏi ông V đã nhận được tiền chưa thì ông V thấy chỉ nhận được 16.800 đồng nên điều khiển xe máy chạy về cửa hàng. Lúc này bà B và L2 trao đổi chắc do tài khoản ngân hàng chưa cài đặt sinh trắc học nên chưa chuyển được một lần nên thống nhất để L2 chuyển hai lần, một lần 8.000.000 đồng và một lần 8.800.000 đồng; Tuy nhiên L2 tiếp tục dùng thủ đoạn gian dối chuyển từ tài khoản ngân hàng của mình qua tài khoản ông V hai lần, một lần 8.000 đồng và một lần 8.800 đồng nên ông V biết L2 đang lừa đảo và báo Công an xã C để xử lý.

Vật chứng vụ án:

- Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tạm giữ và chuyển giao Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Cát bảo quản: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 13 Promax, dung lượng 128 GB, vỏ màu xanh, số sê ri: H6CVFRHXHN (đã qua sử dụng), gắn thẻ sim số 0906.393.640, của bị cáo Lê Thị Nguyên L.

- Tạm giữ và xử lý trả lại 01 điện thoại di động hiệu iPhone 14 Pro màu tím cùng 01 ốp nhựa cho người bị hại Trần Văn C.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường, khắc phục hậu quả cho những người bị hại: Bùi Thị Diệu H: 3.036.000 đồng, Thái Thị L1: 2.050.000 đồng, Huỳnh Thị L2: 13.000.000 đồng, Võ Văn V: 3.000.000 đồng, Huỳnh Tấn H1: 3.160.000 đồng, Nguyễn Thị Kim H2: 4.600.000 đồng, Lê Thị Ánh V1: 8.600.000 đồng, Nguyễn Thị Tuyết H3: 17.300.000 đồng. Đối với bị hại Trần Văn C đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại di động hiệu iPhone 14 Pro. Tất cả những người bị hại đều có đơn bãi nại về trách nhiệm dân sự, không có yêu cầu gì và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số 21/CT-VKSPC ngày 09/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát đã truy tố bị cáo Lê Thị Nguyên L về tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm b, c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kểm sát nhân dân huyện P vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Thi Nguyên L4 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm b, c khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình phạt: Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị Nguyên L từ 03 năm tù đến 04 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Đã thoả thuận bồi thường xong nên miễn xét.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị HĐXX tuyên tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 13 Promax, dung lượng 128 GB, vỏ màu xanh, số sê ri: H6CVFRHXHN (đã qua sử dụng) của bị cáo Lê Thị Nguyên L; Tịch thu tiêu huỷ 01 thẻ sim gắn số 0906.393.640 của bị cáo Lê Thị Nguyên L.

Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Nguyên L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung Bản cáo trạng, bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho gia đình bị hại, bị đơn dân sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại Cơ quan điều tra và phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Lê Thị Nguyên L thấy nhiều chủ cửa hàng tạp hoá có dịch vụ chuyển khoản thanh toán nhưng do công việc cửa hàng bận rộn, nhiều người mua hàng ra vào hoặc do tuổi tác, thiếu sự đề phòng nên thường chủ quan khi kiểm tra tin nhắn chuyển khoản ngân hàng, thường chỉ để ý đã nhận tin nhắn và những chữ số đầu tiên trong tin nhắn khi nhận chuyển khoản của ngân hàng trên điện thoại của mình. Do đó, L nảy sinh ý định đến các cửa hàng này giả vờ mua các món hàng có giá trị nhỏ để tạo sự tin tưởng rồi lấy cớ tiền trong ví mình không đủ tiền hoặc chưa rút được tiền rồi yêu cầu chủ cửa hàng đưa thêm một số tiền mặt rồi L sẽ chuyển khoản số tiền tương ứng thanh toán lại. Sau đó L dùng thủ đoạn gian dối chuyển khoản số tiền có những chữ số đầu giống với số tiền mà L phải chuyển trả lại cho người bị hại nhưng có giá trị thấp hơn một nghìn lần, người bị hại chủ quan, thiếu kiểm tra, tin tưởng L đã chuyển đủ tiền nên đã đưa cho L số tiền mặt đã thoả thuận trước. Bằng phương thức, thủ đoạn gian dối trên L đã thực hiện liên tiếp 13 vụ lừa đảo chiếm đoạt tài sản, trong đó lừa đảo chiếm đoạt thành công 09 vụ trên địa bàn huyện P và thành phố Q, tỉnh Bình Định với tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 72.837.859 đồng, trong khoảng thời gian từ ngày 06/12/2023 đến ngày 14/08/2024. Bị cáo đã thực hiện hành vi lùa đảo chiếm đoạt tài sản 05 lần trở lên (Trong vụ án này là 09 lần, số tiền của những lần chiếm đoạt đều trên 2.000.000₫) và bị cáo dùng số tiền chiếm đoạt được làm nguồn sinh sống, trả nợ, tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo Lê Thị Nguyên L đã đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với hai tình tiết định khung là “Có tính chất chuyên nghiệp” và “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Bị cáo Lê Thị Nguyên L là công dân trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo có trình độ học vấn để biết rằng dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của người khác là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền trả nợ và tiêu xài cá nhân bị cáo đã lợi dụng các bị hại chủ quan, thiếu kiểm tra, tin tưởng bị cáo, bị cáo dùng thủ đoạn gian dối chuyển khoản số tiền có những con số đầu giống với số tiền mà bị cáo phải chuyển trả lại cho các bị hại nhưng có giá trị thấp hơn một nghìn lần, sau đó bị cáo nhận đủ số tiền mặt đã thoả thuận trước đó. Tổng số tiền 09 lần thực hiện là 72.837.859đ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác. Bị cáo đã cố ý nhiều lần thực hiện hành vi gian dối cùng một phương thức, thủ đoạn lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác một các trái pháp luật, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Sau khi được bảo lãnh bị cáo đã bỏ trốn ra nước ngoài gây khó khăn cho cơ quan điều tra trong việc điều tra vụ án. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về nhân thân tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lê Thị Nguyên L đã 09 lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong tất cả 09 lần tài sản bị chiếm đoạt đều có giá trị trên 2.000.000đ nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “ Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường xong cho tất cả các bị hại và các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Mặc khác bị cáo có 02 người con còn nhỏ (lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2022) đều là bé gái, trong đó có người con chưa đủ 36 tháng tuổi rất cần sự chăm sóc của người mẹ; mẹ chồng bị cáo được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì; Cha chồng bị cáo là thương binh. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo an tâm cải tạo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại: Bùi Thị Diệu H số tiền 3.036.000 đồng, Thái Thị L1 số tiền 2.050.000 đồng, Huỳnh Thị L2 số tiền 13.000.000 đồng, Võ Văn V số tiền 3.000.000 đồng, Huỳnh Tấn H1 số tiền 3.160.000 đồng, Nguyễn Thị Kim H2 số tiền 4.600.000 đồng, Lê Thị Ánh V1 số tiền 8.600.000 đồng, Nguyễn Thị Tuyết H3 số tiền 17.300.000 đồng. Đối với bị hại Trần Văn C đã nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt là 01 điện thoại di động hiệu iPhone 14 Pro. Các bị hại đều có đơn bãi nại về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên miễn xét.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, dung lượng 128 GB, vỏ màu xanh, số seri: H6CVFRHXHN (đã qua sử dụng) của bị cáo Lê Thị Nguyên L. Đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước; Đối với thẻ sim gắn số 0906.393.640 của bị cáo Lê Thị Nguyên L tại phiên toà bị cáo L không yêu cầu nhận lại và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị Nguyên L phải chị 200.000₫ theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tthường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điểm b, c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thị Nguyên L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thị Nguyên L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam: Ngày 13/11/2024.
  3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Các bên đã thỏa thuận bồi thường xong nên miễn xét.
  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, dung lượng 128 GB, vỏ màu xanh, số seri: H6CVFRHXHN (đã qua sử dụng) của bị cáo Lê Thị Nguyên L; Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) thẻ sim gắn số 0906.393.640 của bị cáo Lê Thị Nguyên L.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/4/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định)

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị Nguyên L phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).
  6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

    “Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - CQ. CSĐT CA tỉnh Bình Định;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ (PV06) CA tỉnh Bình Định
  • - VKSND huyện Phù Cát;
  • - Chi cục THADS huyện Phù Cát;
  • - Bị cáo;
  • - Nhưng người tham gia tố tụng;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu hồ sơ THAHS;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nguyễn Thị Xuân Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Nguyên Lý phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger