Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÁNH LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày: 15-4-2025.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tân.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Phan Duy Bản và bà Bùi Thị Luyến.

Thư ký phiên tòa: bà Biện Thị Uyển Nhi - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: ông Nguyễn Ngọc Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh năm 1990 tại tỉnh Bình Thuận; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ô (đã chết) và bà Đoàn Thị T, sinh năm 1951; chồng: Võ Văn D, sinh năm 1984; con: Có 04 người, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: ông Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1955; Nơi cư trú: Xóm C, Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1]. Về hành vi của bị cáo, tội danh, điểm, khoản, điều luật và mức hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố, đề nghị:

Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 01/11/2024, Nguyễn Thị H đến nhà ông Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1955 ở thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận chơi. Sau đó tại phòng ngủ của ông H1, thì H và ông H1 có quan hệ tình dục với nhau, sau khi quan hệ tình dục xong, ông H1 lấy chìa khóa mở tủ, loại tủ gỗ có 02 cánh ở gần giường ngủ lấy ra 01 túi nylon màu đen, bên trong có 01 túi nylon màu trắng được cuộn thành cọc, trong đó có 05 tờ tiền mệnh giá 100USD, 20 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng, 37 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng và một ít tiền lẻ, ông H1 lấy ra 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng cho H uống nước. Số tiền còn lại bỏ vào bịch nylon cất vào tủ rồi khép cửa tủ lại và đi ra ngoài, còn H vẫn còn ở trong phòng ngủ của ông H1 thấy vậy H nảy sinh ý định trộm cắp số tiền của ông H1 để tiêu xài cá nhân. H đến mở cửa tủ ra lấy bịch nylon màu đen bên trong có nhiều bịch nylon quấn cọc tiền, H lấy bịch nylon màu đen có tiền bỏ vào túi quần rồi đi ra khỏi phòng ngủ của ông H1 và lấy xe máy chạy về nhà. Về tới nhà H mở bịch nylong ra kiểm tra thì thấy có nhiều tiền mệnh giá 200.000 đồng, 500.000 đồng, tổng cộng 17.400.000 đồng và 05 tờ tiền đôla mệnh giá 100 đôla. Có tiền trộm cắp được, H lấy trả nợ và tiêu xài cá nhân hết, còn lại 05 tờ đôla chưa sử dụng. Sau khi kiểm tra bị mất tiền, đến ngày 30/11/2024 ông H1 làm đơn trình báo Công an xã Đ. Qua làm việc Nguyễn Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tiền của ông H1. Tại Công văn số: 18/NHNo,BTh.TL ngày 10/01/2025 của Ngân hàng N, Chi nhánh T2, Bình Thuận, trả lời tỷ giá mua ngày 01/11/2024: 1 USD là 25.160 VNĐ; Tỷ giá bán ngày 01/11/2024: 01 USD là 25.440 VNĐ.

Tại Cáo trạng số: 25/CT-VKSND-TL ngày 06/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[2]. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận khẳng định Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “trộm cắp tài sản”. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017): Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H mức hình phạt từ: 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải trả lại cho ông Nguyễn Xuân H1 số tiền 15.400.000 đồng.

[3] Ý kiến của bị cáo, bị hại:

Bị cáo Nguyễn Thị H thống nhất với tội danh, điểm, khoản, điều luật, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo, không có ý kiến tranh luận và không trình bày thêm tình tiết giảm nhẹ để Hội đồng xét xử xem xét. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đều bày tỏ sự ăn năn, xin hưởng khoan hồng và giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại ông Nguyễn Xuân H1: không có ý kiến tranh luận, chỉ yêu cầu bị cáo trả số tiền còn lại là 15.400.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về định tội danh; tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt:

[1.1] Về tội danh:

Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 15 giờ, ngày 01/11/2024 Nguyễn Thị H đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Xuân H1 số tiền 17.400.000 đồng và 500 USD được quy đổi thành 12.580.000 đồng, tổng cộng là 29.980.000 đồng. Tài sản trộm cắp bị cáo đã sử dụng trả nợ và tiêu xài cá nhân.

Xét thấy: Bị cáo Nguyễn Thị H là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật; thế nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm có tiền để tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân huyện T, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

[1.2] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Thị H không có tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã trả lại cho bị hại được một phần tài sản chiếm đoạt, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[1.3] Về quyết định hình phạt:

Hành vi các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, gây bất bình, hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Xét thấy: bị cáo Nguyễn Thị H có nhân thân tốt, phạm tội có tính chất bộc phát; hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn, có nhiều con, trong đó bị cáo còn đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng rõ ràng, thuộc trường hợp được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự, nên không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[1.4] Về đề nghị của Kiểm sát viên đối với mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Thị Hiền T1 06 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 24 tháng là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử.

[1.5] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo làm nghề tự do, có hoàn cảnh khó khăn, thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Nguyễn Thị H đã trộm cắp của bị hại số tiền 17.400.000 đồng và 500 USD. Bị cáo đã trả lại cho bị hại 500 USD và 2.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị hại ông Nguyễn Xuân H1 yêu cầu bị cáo phải trả số tiền còn lại là 15.400.000 đồng và bị cáo chấp nhận yêu cầu này. Do đó căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho ông Nguyễn Xuân H1 là 15.400.000 đồng.

[3] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: xử buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

[4] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo và bị hại không có ai thắc mắc, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên. Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó hoạt động tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên là hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H: 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 15/4/2025).

Giao bị cáo Nguyễn Thị H cho Ủy ban nhân dân xã H giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[2]. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự buộc bị cáo Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả lại cho ông Nguyễn Xuân H1 số tiền 15.400.000 đồng (mười lăm triệu bốn trăm ngàn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan Thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án Dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[3]. Về án phí:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, các điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 770.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm; bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa đều được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án - Ngày 15/4/2025 (đã giải thích quyền kháng cáo).

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND huyện Tánh Linh;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - CQ.CSĐT Công an tỉnh Bình Thuận;
  • - CQ THAHS Công an tỉnh Bình Thuận;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Tánh Linh;
  • - UBND xã Huy Khiêm;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • - Chi cục THADS huyện Tánh Linh;
  • - THAHS TAND H.Tánh Linh (khi có HLPL);
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger