Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 4 – NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHIA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 27/2025/HS-ST

Ngày: 14 - 11 -2025.

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Khanh.

Các hội thẩm nhân dân:

  • Ông Bùi Quang Bưởng
  • Bà Phùng Thị Hằng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Lan – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Toại - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2025/TLST - HS ngày 09 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Đỗ Xuân H, sinh năm 1973 tại xã P, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: xóm V, xã P, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Đỗ Phúc K (đã chết) và bà Tạ Thị N. Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị T và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2008 con nhỏ nhất sinh năm 2011

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ ngày 03/8/2025, chuyển tạm giam từ ngày 11/8/2025 tại Trại tạm giam số 01 - Công an tỉnh N. Ngày 26/9/2025 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giam sang B lĩnh; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đỗ Xuân T1, sinh năm 1977. Địa chỉ: Xóm V, xã P, tỉnh Ninh Bình; vắng mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Trần Trọng Đ.
  • + Anh Nguyễn Văn K1.

Những người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do là người nghiện và có nhu cầu sử dụng ma túy, khoảng 10 giờ sáng ngày 03/8/2025, Đỗ Xuân H điều khiển xe mô tô BKS 35B2-297.42 từ nhà đến khu vực bờ đê sông V thuộc xóm B K, xã P, tỉnh Ninh Bình. Tại đây, H gặp, hỏi và mua được của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 2.000.000 đồng, sau đó H cầm trong lòng bàn tay trái đi về nhà. Đến 11 giờ cùng ngày, khi đến đoạn đường dong thuộc xóm B K, xã P thấy vắng người nên H dừng lại định mở gói ma túy ra để kiểm tra thì bị Tổ công tác của Công an xã P đang làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên tay trái H 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy màu trắng (loại giấy ăn) KT 06 x 07cm bên trong chứa 04 gói nhỏ đều được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng nâu có cùng KT 01 x 02cm, đồng thời tạm giữ 01 xe mô tô BKS 35B2-297.42. Tiến hành mở niêm phong gói nhỏ thu giữ của H bên trong có 04 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng nâu đều chứa chất bột dạng cục màu trắng có tổng khối lượng 0,8455 gam (ký hiệu M) để trưng cầu giám định.

Tại kết luận giám định số 291/KL-KTHS ngày 10/8/2025 của phòng KTHS - Công an tỉnh N kết luận: Mẫu gửi giám định kí hiệu M có khối lượng 0,8455 gam, là ma túy, loại Heroine.

Quá trình điều tra, Đỗ Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 07/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 - Ninh Bình truy tố bị cáo Đỗ Xuân H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025..

Tại phiên toà Kiểm sát viên sau khi phân tích đánh giá hành vi phạm tội của bị cáo, tính chất nguy hiểm của vụ án đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
  • Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân H từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù đến 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam.
  • -Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy:
  • Một phong bì niêm phong có ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” Bên trong có toàn bộ số ma túy hoàn trả sau khi giám định có khối lượng 0,8058 gam là ma túy loại Heroine cùng vỏ bao niêm phong.
  • Một phong bì niêm phong bên ngoài phong bì có ghi: “Lưu kho vật chứng, bên trong có 01 vỏ phong bì thư, 01 mảnh giấy màu trắng loại giấy ăn; 04 mảnh giấy mầu nâu vàng.
  • - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Đỗ Xuân H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình như nội dung bản cáo trạng. Bị cáo không đối đáp, không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai tại phiên toà của bị cáo Đỗ Xuân H như nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với Biên bản về việc thu giữ và niêm phong vật chứng lập hồi 11 giờ 05 phút ngày 03 tháng 08 năm 2025, Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 11 giờ 25 phút ngày 03 tháng 08 năm 2025 và phù hợp kết luận giám định cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Hồi 11 giờ ngày 03/8/2025, tại khu vực đường dong thuộc xóm B K, xã P, tỉnh Ninh Bình, Đỗ Xuân H có hành vi cất giữ trái phép trong lòng bàn tay trái 0,8455 gam Heroine để sử dụng cho bản thân.

Heroin là chất ma túy thuộc bảng danh mục IA, số thứ tự 9 ban hành kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ –CP ngày 25 tháng 8 năm 2022 của Chính Phủ.

[2] Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thấy hành vi, tội danh và điều khoản áp dụng tại cáo trạng, lời luận tội, các chứng cứ buộc tội bị cáo như Kiểm sát viên trình bày tại phiên toà là có căn cứ. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025.

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma tuý.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, C, M, A, Ketamine, F, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

[3] Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý, sản xuất kinh doanh một số loại hàng cấm. Mặt khác hành vi của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội và việc quản lý kinh tế tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và biết rõ ma túy là mặt hàng nhà nước cấm tàng trữ, sử dụng và mua bán nhưng vì nhu cầu sử dụng cho bản thân mà bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Do đó cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn buộc bị cáo phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cai nghiện, học tập thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội để phục vụ cho nhu cầu của bản thân, nhưng qua xác minh tại chính quyền địa phương bị cáo không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc ma túy: Đỗ Xuân H khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực bờ đê sông V thuộc xóm B K, xã P, tỉnh Ninh Bình. Bản thân H không biết tên tuổi địa chỉ của người này, nếu gặp lại cũng không nhận dạng được. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N chưa đủ căn cứ để xử lý.

[6] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Quá trình điều tra Cơ quan CSĐT đã trả xe mô tô BKS 35B2-297.42 cho anh Đỗ Xuân T1 (em trai của bị cáo H) là chủ sở hữu của xe mô tô. Anh T1 không biết bị cáo H mượn xe để đi mua ma túy. Việc Cơ quan CSĐT đã trả xe mô tô cho anh Đỗ Xuân T1 đã đúng về trình tự, thủ tục và thẩm quyền. Do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

Những vật chứng còn lại căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý như sau:

Toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định có khối lượng 0,8058 gam là ma túy loại Heroine được niêm phong trong một phong bì niêm phong có ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định” cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Một phong bì niêm phong bên ngoài phong bì có ghi: “Lưu kho vật chứng” bên trong có 01 vỏ phong bì thư, 01 mảnh giấy màu trắng loại giấy ăn; 04 mảnh giấy mầu nâu vàng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Đỗ Xuân H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[08] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51; Điều 38; điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.

Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Xuân H phạm tội: “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy"

Xử phạt bị cáo Đỗ Xuân H 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ tạm giam là từ ngày 03/8/2025 đến ngày 26/9/2025.

2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định có khối lượng 0,8058 gam là ma túy loại Heroine được niêm phong trong một phong bì niêm phong có ghi “Mẫu vật hoàn trả sau giám định”; một phong bì niêm phong bên ngoài phong bì có ghi: “Lưu kho vật chứng” bên trong có 01 vỏ phong bì thư, 01 mảnh giấy màu trắng loại giấy ăn; 04 mảnh giấy mầu nâu vàng

(Chi tiết vật chứng như trong biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 14 tháng 11 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Phòng thi hành án dân sự khu vực 4 – Ninh Bình).

3. Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Xuân H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm để sung ngân sách nhà nước.

Án xử sơ thẩm công khai bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (14/11/2025). Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình: 01 bản;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình: 01 bản;
  • - VKSND khu vực 4 - Ninh Bình: 03 bản;
  • - Phòng PC02 Công an tỉnh: 01 bản;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh (PC10): 01 bản;
  • - Phòng HS&NV Công an tỉnh: 01 bản;
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình: 01 bản;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình: 01 bản;
  • - UBND xã P, tỉnh Ninh Bình.
  • - Bị cáo: 01 bản;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: 01 bản;
  • - Lưu hồ sơ: 02 bản;
  • - Lưu tòa và HCTP: 03 bản;

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Trần Thị Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 27/2025/HS-ST ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 27/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger